sức ép của phát triển kinh tế - xã hội đối với môi trường - Pdf 32

CHƯƠNG II. SỨC ÉP CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI
MÔI TRƯỜNG
2.1. Tăng trưởng kinh tế
Kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2009
ước đạt 6.431,63 tỷ đồng, tăng 21,0% so với năm 2008; trong đó, khu vực nông - lâm
nghiệp và thủy sản đạt 1.600,53 tỷ đồng, tăng 3,4%; khu vực công nghiệp- xây dựng
đạt gần 2.779,47 tỷ đồng, tăng 42,1%; khu vực dịch vụ đạt 2.051,63 tỷ đồng, tăng
13,1%.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá:
Tỷ trọng giá trị tăng thêm theo giá thực tế của khu vực công nghiệp và xây dựng đã
tăng từ 36,2% năm 2008 lên 44,7% năm 2009; tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và
thuỷ sản giảm từ 31,2% năm 2008 xuống 26,6% năm 2009 và khu vực dịch vụ chiếm
tỷ trọng 32,6% năm 2008 giảm xuống còn 28,7% trong tổng sản phẩm trong tỉnh.
2.1.1. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp có mức tăng trưởng khá cao: Giá trị sản suất năm 2009
ước đạt 6.930,1 tỷ đồng, tăng 144,7% so với năm 2008; trong đó, khu vực kinh tế Nhà
nước ước đạt gần 4.191,73 tỷ đồng, gấp 8,4 lần; kinh tế ngoài nhà nước ước đạt gần
2.581,87 tỷ đồng, tăng 10,7%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 156,5 tỷ
đồng, gấp 182,4 lần so với năm 2008.
Sản xuất công nghiệp tăng cao là do có sản phẩm lọc hoá dầu và một số sản
phẩm mới được sản xuất. Mặt khác, để thúc đẩy sản xuất phát triển, UBND tỉnh đã tổ
chức nhiều cuộc gặp gỡ với các doanh nghiệp và ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các
ngành, các cấp kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp; trong
đó tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện các giải pháp cấp bách của Chính
phủ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất
khẩu nên nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh vẫn duy trì tốc độ tăng khá
cao.
Một số sản phẩm chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước như: thuỷ sản chế
biến, nước khoáng và nước tinh khiết, phân bón, dăm gỗ nguyên liệu giấy, tinh bột
mỳ,... đã sản xuất được 1.523,8 ngàn tấn sản phẩm lọc hoá dầu và nhiều sản phẩm cấu
kiện kim loại của Công ty TNHH 1 thành viên Doosan Việt Nam...

tăng 20,2% so với thời điểm 01/10/2008.
Sản lượng thuỷ sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 98.592 tấn, tăng 1,9% so với
cùng kỳ năm 2008 và bằng 102,2% kế hoạch năm; trong đó, khai thác nước mặn ước
đạt 91.617 tấn, tăng 1,9%; sản lượng thuỷ sản nuôi trồng ước đạt 6.975 tấn, tăng 2,3%.
Giá trị sản xuất thuỷ sản ước đạt gần 794,8 tỷ đồng, tăng 1,5% so với năm 2008.
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản ước đạt 1.427 ha, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm
2008. Diện tích tôm đạt 658,3 ha, giảm 15,3% so với cùng kỳ năm 2008. Sản lượng
tôm nuôi thu hoạch ước đạt 5.806 tấn, bằng 107,5% kế hoạch.
Công tác quản lý tàu cá được tăng cường, đã cấp 541 sổ danh bạ thuyền viên và
2.265 giấy phép Khai thác thủy sản. Tàu thuyền đang tiếp tục có sự chuyển biến theo
hướng phát triển tàu công suất lớn. Đến nay, tổng số tàu đã đăng ký toàn tỉnh đạt 5.616
chiếc với tổng công suất là 475.667 CV; trong đó, tàu trên 20CV có 4.090 chiếc, tàu
dưới 20 CV có 1.526 chiếc.
Công tác chăm sóc, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô được
tăng cường. Đã trồng 8.377ha rừng tập trung, quản lý bảo vệ 107.000ha rừng, khai
thác 181.000m
3
gỗ rừng trồng. Tình hình chặt phá rừng, khai thác gỗ trái phép, lấn
chiếm đất rừng, vận chuyển và mua bán lâm sản trái phép vẫn còn diễn biến phức tạp.
Qua kiểm tra, đã phát hiện 299 vụ vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo
vệ rừng và quản lý lâm sản, lâm sản tịch thu gồm 299 m
3
gỗ các loại, 264 kg động vật
rừng, phá huỷ các hầm than và thu giữ 6.248 kg than, thu nộp ngân sách trên 1 tỷ
đồng.
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, quản lý tài nguyên,
khoáng sản và bảo vệ môi trường được triển khai theo kế hoạch; đã tổng kết công tác
đo bản đồ địa chính đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm
nghiệp tại 6 huyện miền núi, kết quả đo đạc bản đồ địa chính được 126.506 ha, cấp
101.750 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân; đã

422,48 tỷ đồng, tăng 17,4% so với năm 2008.
Công tác quản lý thị trường được duy trì thường xuyên, các Đội quản lý thị
trường tập trung thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát, chống vận chuyển, buôn bán hàng
lậu, hàng cấm, gian lận thương mại, đầu cơ nâng giá đối với một số mặt hàng thiết yếu
phục vụ đời sống của nhân dân. Kết quả cho thấy tình hình thị trường đã có nhiều diễn
biến tích cực, góp phần tích cực phát triển sản xuất và ổn định đời sống nhân dân.
2.1.4. Thu, chi ngân sách và tiền tệ
a) Thu, chi ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 4.046,923 tỷ đồng, bằng 190,8% dự
toán năm; trong đó thu nội địa đạt 1.857,763 tỷ đồng, bằng 90,5% dự toán năm; thu
hoạt động xuất nhập khẩu đạt 2.189,160 tỷ đồng. Hầu hết các khoản thu đều đảm bảo
tiến độ, đạt trên 100% dự toán năm và tăng so với cùng kỳ năm 2008; tuy nhiên, tổng
thu nội địa đạt thấp hơn so với dự toán là do hai khoản thu chiếm tỷ trọng lớn nhưng
phát sinh thấp là thuế tiêu thụ đặc biệt và thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 4.0829 tỷ đồng, bằng 141% dự toán
năm. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 1.690 tỷ đồng; chi thường xuyên đạt 1.980 tỷ
đồng.

3
b) Về tiền tệ
Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng trên địa bàn trong năm
2009 có biến động nhưng biên độ tăng, giảm không lớn so với năm 2008. Tổng nguồn
vốn huy động đến ngày 31/12/2009 ước đạt 9.000 tỷ đồng, tăng 71,16% so với cùng kỳ
năm 2008. Tổng dư nợ cho vay đến ngày 31/12/2009 ước đạt 11.000 tỷ đồng, tăng
31,59% so với cùng kỳ năm 2008. Nhìn chung, hoạt động kinh doanh của các tổ chức
tín dụng trên địa bàn trong những tháng cuối năm đã có tín hiệu khả quan hơn so với 6
tháng đầu năm do khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đã dần được khôi phục.
Các chương trình cho vay kích cầu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Tính đến 30/9/2009, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất các khoản vay ngắn hạn đến cuối
tháng đạt 2.256 tỷ đồng/1.382 khách hàng, chiếm tỷ trọng 20,24%/tổng dư nợ, số luỹ

chứng nhận đầu tư với vốn đầu tư đăng ký là 28,5 triệu USD; tính đến cuối năm 2009,
trên địa bàn toàn tỉnh còn có 15 dự án có vốn FDI với tổng vốn đăng ký gần 3,392 tỉ
USD. Có 44 dự án đầu tư trong nước được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn
đăng ký 8.580 tỉ đồng. Trong số các dự án được cấp mới trong năm, có một số dự án

4
có qui mô vốn khá lớn như dự án Nhà máy Giấy Tân Mai - Quảng Ngãi (vốn khoảng
1.948 tỉ đồng), dự án Khu Dân cư Sơn Tịnh (vốn đăng ký 1.237 tỉ đồng), Khu dân cư
Phú Mỹ (vốn đăng ký khoảng 1.240 tỉ đồng), Nhà máy Nhiệt điện Lý Sơn (vốn đăng
ký 220 tỉ đồng), Nhà máy tuyển quặng sắt Vạn Lợi (vốn đăng ký gần 260 tỉ đồng).
2.1.6. Điều kiện xã hội
Dân số và mật độ phân bố dân số đến hết năm 2008 tại tỉnh Quảng Ngãi được thể
hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1. Số đơn vị hành chính, diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2008
Huyện, TP Diện tích (km
2
)
Dân số
trung bình (người)
Mật độ dân số
(người/km
2
)
Tp. Quảng Ngãi 37 126.668 3.408
Bình Sơn 468 184.655 395
Sơn Tịnh 344 197.745 575
Tư Nghĩa 228 183.901 807
Nghĩa Hành 235 101.532 433
Mộ Đức 214 146.980 687
Đức Phổ 373 156.123 419

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 11,10‰ năm 2005 xuống còn 10‰ năm 2008
(Báo cáo hàng năm của tỉnh Quảng Ngãi). Diễn biến quá trình giảm dân số thể hiện là
tỷ lệ gia tăng dân số giảm xuống còn 1,1% giai đoạn 2006-2010, do đó, tổng số dân
năm 2010 khoảng 1.400.000 người. Chất lượng dân số - lao động được nâng cao thông
qua các chương trình giáo dục và dạy nghề.
Đã chuyển đổi cơ cấu lao động và giải quyết việc làm, tính đến năm 2010 số lao
động xã hội là 848.000 người (chiếm khoảng 56,5% dân số). Cơ cấu sử dụng lao động
theo ngành có sự dịch chuyển theo hướng giảm tương đối tỷ trọng lao động nông
nghiệp, tỷ lệ người chưa có việc làm giảm còn 6,1% năm 2005 và xuống 3% vào năm
2010.
Tỉnh đã có các chính sách và biện pháp đồng bộ nhằm khai thác có hiệu quả tiềm
năng lao động tạo đủ việc làm và có thu nhập đủ sống cho người lao động. Chuyển
hướng tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ, giảm dần lao động nông nghiệp,
sử dụng hết lao động nông thôn. Đã thực hiện các chính sách hỗ trợ về vốn, cơ chế
chính sách. Đồng thời thực hiện tốt dịch vụ cung ứng lao động nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho cung cầu lao động. Dự kiến lao động trong các ngành được bố trí trong
bảng 2.4.
Bảng 2.4. Dự kiến bố trí lao động trong các ngành của tỉnh Quảng Ngãi đến năm
2010
Năm 1994 Năm 2000 Năm 2010
Lao động xã hội (1.000 người) 632,2 720,0 848,0
Cơ cấu lao động %
100,0 100,0 100,0
- Nông, lâm, ngư, nghiệp 83,0 67,0 55,0
- Công nghiệp 7,3 13,0 17,0
- Dịch vụ 9,7 20,0 28,0
Nguồn: Quy hoạch phát triển KT - XH của tỉnh (1996 -2010).

6
2.2. Các chỉ tiêu phát triển ngành nghề chủ yếu của tỉnh

- 100% trạm y tế có bác sỹ vào năm 2010.
- Đến năm 2007 đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, phổ cập tiểu học. Tiến hành phổ
cập THPT những nơi có điều kiện, riêng thành phố Quảng Ngãi đạt chuẩn phổ cập giáo
dục THPT vào năm 2010. Xây dựng 10% trường mầm non, 50% trường tiểu học, 50%
trường THCS, 50% trường THPT đạt chuẩn quốc gia.
- Đến năm 2010 phủ sóng phát thanh và truyền hình 100% toàn tỉnh.
- Hoàn thành xoá 17.000 nhà tạm cho hộ nghèo.
2.2.3. Chỉ tiêu về tài nguyên môi trường:
- Độ che phủ của rừng đến năm 2010 khoảng 45%.
- Tỷ lệ dân nông thôn dùng nước sạch 85%.
- Tỷ lệ cây xanh ở thành phố 80%, các thị trấn và trung tâm huyện lỵ đạt 50%.

7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status