Nghiên cứu hoạt động du lịch văn hóa tâm linh của người Hà Nội (Khảo sát trên địa bàn quận Đống Đa - Pdf 25


2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐOÀN THỊ THÙY TRANG NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN
HÓA TÂM LINH CỦA NGƯỜI HÀ NỘI
(Khảo sát trên địa bàn quận Đống Đa)

Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN PHẠM HÙNG

tâm linh sẽ ngày càng phát triển.

10

Hà Nội mảnh đất ngàn năm văn hiến, nay là trung tâm chính trị, kinh tế
- văn hóa của cả nước. Nói đến Hà Nội, người ta sẽ nghĩ ngay đến cái tên
Tràng An, đại diện cho nhiều vẻ đẹp của mảnh đất này. Hà Nội đẹp với con
người thanh lịch, thông minh, đẹp với phong cảnh hữu tình, đẹp với cuộc
sống năng động thời kinh tế mở cửa, đẹp với cuộc sống thanh lịch, ung dung
tự tại của truyền thống, Đó là những vẻ đẹp rất đỗi kinh kỳ, rất đỗi Thăng
Long, rất đỗi Đông Đô và rất đỗi Hà Nội. Hà Nội còn được biết đến với cái
tên là mảnh đất ngàn năm văn vật. Nơi đây hội tụ rất nhiều di tích lịch sử, di
tích tôn giáo, tín ngưỡng có giá trị cao như Văn Miếu Quốc Tử Giám, chùa
Một Cột, Đền Ngọc Sơn. Ngoài ra, thủ đô cũng có hàng ngàn các lễ hội
truyền thống diễn ra quanh năm. Với những điều kiện đó du lịch văn hóa tâm
linh cũng trở thành loại hình du lịch quan trọng của Hà Nội.
Hà Nội hiện đang cùng cả nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Hà Nội không ngừng phát triển kinh tê, văn hóa – xã hội để luôn
xứng tầm với vị thế thủ đô của cả nước. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển,
Hà Nội cũng không thể tránh khỏi việc đối mặt với những khó khăn thách
thức: sự gia tăng dân số, suy đồi về lối sống, thất nghiệp, tệ nạn xã hội, dịch
bệnh, ô nhiễm môi trường, Vì vậy, người dân Hà Nội đặc biệt người dân các
quận nội thành đang hàng ngày phải chịu nhiều áp lực của cuộc sống đô thị.
Do đó, để có thể cân bằng cuộc sống cũng như thỏa mãn nhu cầu tinh thần thì
họ đã dành thời gian cho các chuyến du lịch để nghỉ ngơi, giải trí, Bên cạnh,
những chuyến du lịch thuần túy, họ còn thực hiện các cuộc hành trình kết hợp
cả hai yếu tố du lịch và tâm linh. Trong các chuyến du lịch này, họ không chỉ
được thỏa mãn các nhu cầu vật chất (các dịch vụ ăn uống, ngủ nghỉ, ) mà
quan trọng hơn là được thỏa mãn các nhu cầu tinh thần về mặt tâm linh
(chiêm bái, cầu khấn, thực hành các nghi lễ truyền thống). Những chuyến

tâm linh; Văn hóa tâm linh Nam Bộ; Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt

12

Nam; Mai Thanh Hải với Tôn giáo thế giới và Việt Nam; Nguyễn Duy Hinh
với Người Việt Nam với Đạo giáo; Hồ Văn Khánh với Tâm hồn – khởi nguồn
cuộc sống văn hóa tâm linh, Phan Ngọc với Bản sắc văn hóa Việt Nam. Các
công trình đã nghiên cứu chủ yếu về các vấn đề như lý luận văn hóa; đặc
trưng chức năng của văn hóa; các thành tố văn hóa Việt Nam; tôn giáo, tín
ngưỡng trong văn hóa Việt Nam; quan niệm về văn hóa tâm linh
Các nghiên cứu về Hà Nội, người Hà Nội, văn hóa Hà Nội cũng rất
nhiều tiêu biểu như: Nguyễn Viết Chức với Nếp sống người Hà Nội từ truyền
thống của thủ đô Hà Nội, Lý Khắc Cung với Hà Nội văn hóa và phong tục,
Nguyễn Trọng Đàn với Thăng Long Hà Nội, Nguyễn Thế Long với Chùa Hà
Nội, Nguyễn Thế Long với Đình, đền Hà Nội….Nội dung chủ yếu mà các
công trình này nghiên cứu là về đặc điểm văn hóa của người Hà Nội, thành
tựu văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của Hà Nội qua hàng ngàn năm lịch
sử.
Bên cạnh đó, các công trình về du lịch Hà Nội tiêu biểu như: Nguyễn
Vinh Phúc với Hà Nội - thành phố ngàn năm, Hà Nội – cõi đất, con người,
Hà Nội qua những tháng năm, Thần tích Hà Nội và tín ngưỡng thị dân,
Nguyễn Hữu Quỳnh với Bách khoa thư Hà Nội, Giang Quân với Hà Nội xưa
và nay, Thăng Long Hà Nội 1000 năm truyền thống và thanh lịch, Mai Thục
với Tinh hoa Hà Nội, Hoàng Đạo Thúy với Hà Nội thanh lịch, Người và cảnh
Hà Nội, Phố phường Hà Nội xưa, Trần Quốc Vượng với Hà Nội nghìn xưa…
đã nghiên cứu rất đầy đủ về tài nguyên cũng như sản phẩm du lịch Hà Nội
Về đề tài du lịch văn hóa, tâm linh, nói chung và trên địa bàn Hà Nội
nói riêng cũng có một số công trình như: Nguyễn Vinh Phúc với Du lịch Hà
Nội hướng tới 1000 năm Thăng Long, Nguyễn Phạm Hùng với Tượng đài Hà
Nội và du lịch văn hoá, Du lịch tôn giáo và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá

cho các đề tài khác có liên quan.

14

- Ý nghĩa thực tiễn: các kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ đóng góp
làm tài liệu khảo cho các nhà nghiên cứu, các cơ quan Nhà nước về du lịch,
các doanh nghiệp du lịch khai thác loại hình du lịch văn hóa tâm linh.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Với đề tài này, luận văn tập trung vào nghiên cứu các đối tượng cụ thể sau:
Các hoạt động du lịch tín ngưỡng, tâm linh
Các nghiên cứu, giới thiệu về du lịch tín ngưỡng, tâm linh
- Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi thời gian: nghiên cứu các hoạt động du lịch tín ngưỡng, tâm
linh hiện nay (từ năm 2008 đến năm 2010)
+ Phạm vi về không gian: thuộc địa bàn quận Đống Đa – Hà Nội
+ Phạm vi vấn đề nghiên cứu: nghiên cứu thực tiễn, thực trạng hoạt động du
lịch tín ngưỡng, tâm linh, và một số đề xuất, giải pháp cho hoạt động du lịch
này.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1 Thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn: sách, giáo trình; báo, tạp
chí chuyên ngành và báo, tạp chí có nội dung liên quan; công trình khoa học;
văn bản pháp quy về du lịch và liên quan đến du lịch, các văn bản pháp quy
về tín ngưỡng tôn giáo và việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa; các báo cáo
của quận Đống Đa; hồ sơ di tích, các trang web.
6.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp phân tích và tổng hợp là việc lựa chọn, sắp xếp các nguồn
tài liệu thứ cấp và sơ cấp nhằm định lượng chính xác và đầy đủ phục vụ cho
mục đích điều tra và nghiên cứu, từ đó tổng hợp thành các quan điểm, nhận

VỀ VĂN HÓA TÂM LINH VÀ DU LỊCH VĂN HÓA
TÂM LINH
1.1 Những vấn đề về văn hóa tâm linh
Khái niệm văn hóa tâm linh mới chỉ xuất hiện trong vài thập kỷ gần
đây. Nó ra đời khi mà con người có bao vấn đề xoay quanh tín ngưỡng, tôn
giáo chưa có câu trả lời. Họ phân vân liệu tâm linh có phải là tín ngưỡng tôn
giáo hay không và nên phải ứng xử như thế nào khi xã hội bước vào văn minh
hiện đại xã hội chủ nghĩa. Một nhiệm vụ đặt ra cho các nhà nghiên cứu là phải
tìm ra bản chất của văn hóa tâm linh. Văn hoá tâm linh là một khái niệm hợp
nhất bởi hai yếu tố văn hoá và tâm linh. Để hiểu được khái niệm này cần phải
phân tích ý nghĩa của hai thuật ngữ văn hóa và tâm linh.
1.1.1 Văn hóa
Văn hoá là hiện tượng xã hội xuất hiện từ thuở bình minh của xã hội
loài người. Mặc dù văn hoá rất gần gũi, và thậm chí gắn bó máu thịt của sự
phát triển con người – xã hội, nhưng việc nhận thức sâu sắc và đầy đủ về nó
là cả một quá trình rất lâu dài. Ngay khi đứng trên góc nhìn của một khoa học
thì các nhà nghiên cứu cũng có những quan niệm rất khác nhau về văn hoá.
Do vậy, sự bùng nổ các định nghĩa về văn hoá là tất yếu, khiến cho người ta
chỉ có thể tập hợp theo nhóm chứ không thể liệt kê đây đủ, chi tiết từng định
nghĩa. Theo sự thống kê của nhà nghiên cứu người Nga A.X Ca-rơ-min, đến
nay con số định nghĩa văn hoá có thể lên tới 500 định nghĩa và ông đã phân
chia số định nghĩa ấy thành 14 nhóm. Còn theo hai nhà nhân loại học Hoa Kỳ
là A.Croeber và C.Kluckholn thì trong giới nghiên cứu phương Tây có 6
nhóm định nghĩa về văn hoá. Sự phong phú của quan niệm văn hóa giúp ta có
cái nhìn đa chiều về nó.

17

Ở nước ta, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm "văn hiến". Từ đời Lý
(1010) người Việt đã tự hào nước mình là một "văn hiến chi bang". Đến đời

Quan niệm cho rằng, văn hoá là một loại quan hệ đặc thù riêng có của
con người. Đó là quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong ý thức con người với
thế giới hiện thực. Từ quan niệm này, nhà nghiên cứu Phan Ngọc khẳng định:
Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân
hay một tộc người với thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc
người này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu
hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thấy
nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác
các kiểu lựa chọn của cá nhân hay tộc người khác. [23, tr.16]
Xem xét văn hoá trong mối quan hệ với con người, với nhu cầu và mục
đích sống của con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng
như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn
ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hoá nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn ở và phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hoá."[56,tr21]
Trong định nghĩa này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến "sự tổng
hợp của mọi phương thức sinh hoạt" và "biểu hiện của nó", tức đã đề cập đến
cả hoạt động sống của con người và những thành tựu do hoạt động đó tạo ra.
Nhưng dù là "hoạt động" hay "thành tựu" thì đều phải đáp ứng "những nhu
cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" mới được gọi là văn hoá. Hơn nữa,
khi nhìn nhận văn hoá theo nghĩa rộng, Người đã xem văn hoá là thế giới giá
trị, tức là tất cả những gì của con người, do con người và vì con người.
Dựa trên quan niệm giá trị, GS. Trần Ngọc Thêm cho rằng: " Văn hoá
là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo

19

và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con
người với môi trường tự nhiên và xã hội."[42,tr10]
Tất nhiên, ở đây giá trị cần được hiểu không chỉ là một loại "thước đo"

nghiên cứu, bởi có thời người ta coi nó không phải là đối tượng của khoa học,
mà là đối tượng của huyền môn. Vì thế, tâm linh đã phải chịu không ít hiểu
lầm và ngộ nhận.
Trước đây, nói đến tâm linh là người ta nghĩ ngay đến tín ngưỡng và
tôn giáo, và đồng nhất nó với tín ngưỡng và tôn giáo. Thực ra, khái niệm tâm
linh vừa hẹp hơn nhưng lại vừa rộng hơn khái niệm tín ngưỡng tôn giáo. Hẹp
hơn vì ở tín ngưỡng tôn giáo ngoài phần tâm linh ra còn có phần mê tín dị
đoan và sự cuồng tín tôn giáo. Bởi đó vừa là một lĩnh vực của đời sống tinh
thần vừa là một thiết chế xã hội, mà đã là thiết chế xã hội thì không tránh khỏi
sự thế tục hóa, sự tha hóa do việc lợi dụng của giai cấp thống trị. Rộng hơn vì
tâm linh gắn liều với những khái niệm cái thiêng liêng, cái cao cả, cái siêu
việt không chỉ có ở đời sống tôn giáo, mà còn có cả ở đời sống tinh thần,
đời sống xã hội. Không chỉ có ở Thượng đế, có Chúa trời, Thần, Phật mới
thiêng liêng mà cả Tổ quốc, lòng yêu thương con người, sự thật, công lý cũng
thiêng liêng không kém. Có như vậy, con người mới đạt đến chiều cao của
con người. Vì nếu những cái đó bị giải thiêng thì con người không biết lấy cái
gì để khu biệt mình với động vật.
Mặc dù không được nhận biết, không được nghiên cứu và bị hiểu lầm,
nhưng tâm linh vẫn tồn tại trong và cùng với con người như là một chiều kích,
thậm chí là chiều kích quan trọng nhất của con người. Đó là một giá trị cơ bản
bao trùm và vĩnh cửu của đời sống con người. Tuy nhiên, trong xã hội cổ
truyền trước đây việc nghiên cứu tâm linh không được đặt ra một cách cấp
thiết. Chỉ khi con người bước vào thời đại công nghiệp cơ khí đại quy mô,
duy lý cực đoan và duy khoa học thực nghiệm, nhất là từ thế kỷ XX thì vấn đề

21

tâm linh mới trở thành một tiếng gọi. Bởi lẽ, con người càng chiếm lĩnh mạnh
mẽ và có hiệu quả thế giới bên ngoài, thiết lập nên một nền văn minh vật chất
phong phú bao nhiêu, thì đời sống bên trong, đời sống nội tâm của nó càng

vọng tìm hiểu và lý giải tự nhiên (trời, đất, nước, muôn loài ) và bản thân
con người để cải thiện cuộc sống của họ. Đó là khác biệt cơ bản giữa con
người và động vật. Qua trải nghiệm cụ thể, lâu dài mỗi dân tộc có một tâm
linh riêng biệt đặc sắc song cũng đều qui vào giải thích về trời đất và con
người. Giải thích về sức mạnh vô hình tác động đến cái Sống của con người.
Mạnh và vô hình nên gọi là Thiêng. Một số hiện tượng tâm linh thành tín
ngưỡng hoặc có thờ cúng hoặc không thờ cúng. Đó là tâm linh tín ngưỡng
như thờ cúng tổ tiên, cúng hồn lúa Còn tâm linh phát triển thành tâm linh
tôn giáo thì người ta tin theo tâm linh của một giáo Chủ nào đó truyền dạy có
trình độ lôgíc nhất định cao hơn tâm linh tín ngưỡng. Nhưng dù vậy mỗi cộng
đồng người tiếp thu tâm linh giáo Chủ nào đó đều ít nhiều thông qua tâm linh
tín ngưỡng của mình.
Từ quan niệm trên cho thấy, tâm linh chỉ tồn tại ở con người và là kết
quả trải nghiệm của họ trong quá trình sống ở mỗi môi trường nhất định. Từ
đó hình thành nên tâm linh riêng biệt của mỗi dân tộc. Tâm linh không phải là
tín ngưỡng tôn giáo mà tâm linh chứa đựng chúng. Tín ngưỡng tôn giáo chỉ
có thể tồn lại trong môi trường tâm linh ở đó con người có niềm tin vào
những đối tượng thiêng như thánh thần, Phật, Chúa.
Một quan niệm khác về tâm linh của tác giả Nguyễn Đăng Duy trong
cuốn "Văn hoá tâm linh": Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống
đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo. Cái
thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu
tượng, hình ảnh, ý niệm. [8,tr14]

23

Như vậy, tâm linh là cái tồn tại trong mỗi con người. Nó thể hiện qua
niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng hay tôn giáo của mỗi người.
Và cụ thể hơn chính là sự ngưỡng vọng của họ về những biểu tượng, hình ảnh
thiêng liêng,

thể ngăn cản.
Như vậy, tâm linh do các tác giả quan niệm đều thể hiện nó gắn với con
người, ở trong con người. Vì vậy, trong mọi mặt đời sống của con người đều
tồn tại tâm linh và có thể nhóm thành hai loại là tâm linh trong cuộc sống đời
thường và tâm linh trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo.
1.1.2.3 Hình thức của tâm linh
- Tâm linh trong đời sống cá nhân
Trong đời sống cá nhân của những người theo tôn giáo thì suốt đời họ
chỉ mang niềm tin thiêng liêng vào Chúa và Phật. Trong họ lúc nào cũng
thường trực đời sống tâm linh. Còn đối với mọi cá nhân đời thường thì tâm
linh khá phong phú nhưng không phải lúc nào cũng thường trực đời sống tâm
linh. Đời sống tâm linh của người đó chỉ xuất hiện khi hoàn cảnh thiêng, thời
gian thiêng xuất hiện.
- Tâm linh trong đời sống gia đình
Mái ấm gia đình, nơi không gian thiêng liêng nhất, nơi con người sinh
ra, ở, con người phấn đấu lo toan và cũng là chỗ cuối cùng con người về.
Ngày nay xây dựng nếp sống văn hóa gia đình, hãy nâng niu giá trị tâm linh
truyền thống. Mỗi gia đình thực sự là một tổ ấm thiêng liêng, hạnh phúc nhất
của con người.
Trong gia đình, bàn thờ tổ tiên là biểu tượng máu thịt thiêng liêng nhất,
lôi cuốn người ta quây quần đoàn tụ, nhớ về cội nguồn, duy trì những giá trị

25

thiêng liêng chuyển giao cho con cháu. Những giá trị tâm linh là hết sức bền
vững, là hằng số của văn hóa gia đình.
- Tâm linh trong đời sống cộng đồng làng xã
Cái cột chặt con người trong làng xã xưa kia không phải chỉ có quan hệ
lãnh thổ, kinh tế mà còn có nhiều quan hệ khác đó là thế giới tâm linh. Vậy
tâm linh ở đây biểu hiện ra những gì? Đó là thần tượng thiêng liêng về các

theo.
- Tâm linh trong văn học nghệ thuật
Tâm linh trong sáng tác văn học nghệ thuật là những hình ảnh, biểu
tượng thiêng liêng nào đó mà tác giả thể hiện được ra trong tác phẩm làm
rung động những trái tim, ngấn lệ những tâm hồn. Mà muốn được như vậy,
nhà sáng tạo nghệ thuật thực sự phải có đời sống tâm linh, cảm thụ đối tượng
muốn sáng tạo ra trong tác phẩm đến độ thiêng liêng nhất.
Sự thăng hoa trong niềm tin thiêng liêng về chúa về thần Phật đã để lại
biết bao giá trị kiến trúc nghệ thuật. Những ngôi nhà thờ Thiên chúa giáo ở
Hy Lạp, La Mã, nhà thờ Phát Diệm Ninh Bình, gác chuông chùa Keo khéo
léo tuyệt vời ở Thái Bình, các pho tượng Phật ở chùa Tây Phương Hà Tây.
- Tâm linh trong tín ngưỡng tôn giáo
Tâm linh được thể hiện trong rất nhiều mặt của đời sống tinh thần, có
cả trong tín ngưỡng tôn giáo. Tín ngưỡng tôn giáo là lĩnh vực đặc biệt trong
đời sống tâm linh.
1.1.2.4 Phân biệt tâm linh với mê tín dị đoan
Mê tín dị đoan là tin một cách mê muội, kì dị, là thường. Tin không lý
trí và đến mức không cần đến cả mạng sống của mình. Vì vậy, Mê tín dị đoan
chỉ tồn tại khi nó bám vào trình độ văn hóa khoa học thấp kém, con người
không đủ trình độ để phân tích, lý giải đúng sai, nhảm nhí. Hoặc lợi dụng tình
trạng quẫn bách, mụ mẫm của con người không được kịp thời giúp đỡ giải

27

tỏa. Hoặc trong những giây phút thăng hoa ngày hội, giây phút say sưa trào
dâng thần thánh cũng dễ khiến con người mất tỉnh táo, mê tín vào sự phán bảo
phi lý nhảm nhí.
Trong khi đó, tâm linh là niềm tin thiêng liêng có ở trong nhiều mặt đời
sống tinh thần. Những người tin vào Phật và Chúa, đi tu, theo đạo suốt đời
tâm niệm vào Phật, vào Chúa có thể giải thoát về cái chết cho mình. Hoặc

Còn niềm tin trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo bao gồm hai loại.
Thứ nhất là niềm tin của những người không theo đạo Phật nhưng vẫn đến
chùa cầu bình yên, mạnh khỏe, của những người không theo Kitô giáo nhưng
ngày lễ Nôen vẫn đến nhà thờ xem lễ. theo các tôn giáo, niềm tin của những
tín đồ tôn giáo. Thứ hai là của những tín đồ tôn giáo, họ suốt ngày, suốt đời
mang theo niềm tin thiêng liêng về Chúa, về Phật. Họ tôn thờ tất cả những gì
thuộc về tôn giáo mà họ đi theo: người sáng lập, giáo lý, hệ thống thờ tự, nơi
cử hành các nghi lễ
1.1.3.2 Thành tố của văn hóa tâm linh
Văn hóa tâm linh bao gồm cả văn hóa hữu hình và văn hóa vô hình.
Văn hóa hữu hình như các không gian thiêng liêng (đình, chùa, phủ, nhà
thờ ) hay các biểu tượng thiêng (tượng Phật, tượng Chúa ). Văn hóa tinh
thần là những ý niệm thiêng liêng trong đầu con người. Những ý niệm đó phải
được thể hiện qua hành động của họ. Vì vậy, văn hóa tâm linh bao gồm cả
văn hóa hành động.
Tương tự như văn hóa thể thao, văn hóa du lịch, khái niệm văn hóa
tâm linh là chỉ về một mặt hoạt động văn hóa của xã hội con người, mang tính
thiêng liêng, được biểu hiện ra những khía cạnh vật chất và tinh thần, trong
quá trình lịch sử, và còn tồn tại lâu dài cùng con người.
29

1.2 Những vấn đề về du lịch văn hóa tâm linh
1.2.1 Quan niệm về du lịch và du lịch văn hóa
1.2.1.1 Du lịch
Du lịch vốn là một từ Hán Việt trong đó du có nghĩa là đi chơi, lịch có
nghĩa là từng trải. Du lịch chính là sự trải nghiệm của con người sau mỗi
chuyến đi.

một trong những loại hình đã và đang phát triển trên toàn thế giới. Đây là loại
hình du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, nâng cao hiểu biết
của du khách về các di tích lịch sử, lễ hội, làng nghề truyền thống, phong tục
tập quán, các sự kiện văn hóa do cộng đồng tạo ra có sức thu hút đặc biệt với
khách du lịch.
Theo nghĩa hẹp, du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc
văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các
giá trị văn hóa truyền thống.
Theo nghĩa rộng, du lịch văn hóa cần phải hiểu là khái niệm bao gồm
tất cả những hình thức (loại hình) du lịch có khai thác, sử dụng các giá trị văn
hóa dân tộc vào kinh doanh phục vụ du lịch trên cơ sở đặt ra các yêu cầu về
tôn trọng và giữ gìn, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống ấy.
Theo PGS.TS. Trần Đức Thanh: "Du lịch văn hóa là loại hình du lịch
dựa vào các giá trị văn hóa của một cộng đồng hoặc một nhóm dân tộc, một
quốc gia hoặc một khu vực có tác dụng giáo dục và nâng cao hiểu biết, nhận
thức của khách du lịch."
Theo GS.TS. Nguyễn Văn Đính: "Du lịch văn hóa là loại hình du lịch
dựa trên nền tảng của tài nguyên du lịch nhân văn và hoạt động du lịch diễn ra
chủ yếu trong môi trường nhân văn hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai
thác tài nguyên du lịch nhân văn, đặc biệt là các công trình kiến trúc văn hóa
do cộng đồng tạo ra có sức thu hút đặc biệt với du khách."

31

Như vậy, điều kiện cần thiết để phát triển du lịch văn hóa là tài nguyên
du lịch nhân văn bao gồm các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đại diện
cho cộng đồng, dân tộc, quốc gia. Loại hình này thỏa mãn nhu cầu đặc trưng
của du khách: tham quan, tìm hiểu về các giá trị văn hóa. Quan trọng hơn là
nó có tác dụng giáo dục và nâng cao nhận thức của khách du lịch và hiện
đang phát triển mạnh ở Việt Nam, đất nước tiềm năng du lịch văn hóa rất

lịch sử - văn hóa. Điều này cho phép khai thác tốt hơn cả di tích lẫn lễ hội
trong du lịch.
- Du lịch tôn giáo
Từ xa xưa, du lịch tôn giáo là một loại hình du lịch khá phổ biến. Đó là
các chuyến đi với mục đích tôn giáo như truyền giáo của các tu sĩ, thực hiện
lễ nghi tôn giáo của tín đồ tại các giáo đường, dự các lễ hội tôn giáo. Ngày
nay du lịch tôn giáo được hiểu là các chuyến đi của du khách chủ yếu để thỏa
mãn nhu cầu thực hiện các lễ nghi tôn giáo tôn giáo của tín đồ (du lịch tôn
giáo chủ động), hay tìm hiểu, nghiên cứu tôn giáo của người dị giáo. Điểm
đến của các luồng du khách này là chùa chiền, nhà thờ, thánh địa.
- Du lịch tham quan di tích, danh thắng
Là một trong những tài nguyên quan trọng hàng đầu, các di tích văn
hóa – lịch sử của Việt Nam rất phong phú và đa dạng. Chúng được phân bố
rộng rãi từ Bắc vào Nam, từ thành thị đến nông thôn gắn liền với lịch sử dựng
nước và giữ nước của nhân dân với truyền thống văn hóa lâu đời và phong
tục, tập quán riêng của từng dân tộc.
Di tích, danh thắng là đối tượng tham quan phổ biến của du khách
trong các chuyến du lịch. Qua đó, du khách có thể mở rộng tầm mắt, nâng cao
vốn hiểu biết về văn hóa, lịch sử của dân tộc hay địa phương.

Trích đoạn Cơ sở thực tiễn Giải pháp về tổ chức quản lý Giải pháp về cơ sở vật chất Giải pháp về các hoạt động và sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh Giải pháp về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status