Thế giới tâm linh trong truyện thơ Nôm - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ GÁI

THẾ GIỚI TÂM LINH
TRONG TRUYỆN THƠ NÔM Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

Tuy đã cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được sự chỉ
dẫn của quý Thầy Cô, quý đồng nghiệp và bạn bè.

Người thực hiện Luận văn
Nguyễn Thị Gái

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bất kỳ thời đại nào của xã hội, cuộc sống của con người đều có mối quan hệ tiềm ẩn
với thế giới tâm linh. Một mối quan hệ có lúc hiển hiện khá rõ trong sinh hoạt văn hóa, tinh thần của
con người nhưng cũng có lúc tồn tại ẩn kín trong tâm hồn, trong nếp nghĩ của cá nhân, cộng đồng
mà chúng ta thật sự chưa lý giải hết…
Có thể nói, thế giới tâm linh là đời sống tinh thần vô cùng huyền bí của nhân dân chi phối rất
nhiều đối với cuộc sống và rất quan trọng đối với mọi người. “Thế giới tâm linh là thế giới của cái
thiêng liêng, mà ở đó chỉ có cái gì cao cả, lương thiện và đẹp đẽ mới có thể vươn tới. Cả cộng đồng
tôn thờ và cố kết nhau lại trên cơ sở của cái thiêng liêng ấy”. [70, tr. 115]
Theo Đỗ Lai Thúy, “con người là một thực thể đa chiều…Đó là bản chất sinh học, bản chất
xã hội và bản chất tâm linh. Ba bản chất này tạo thành chiều sâu, chiều rộng và chiều cao của con
người”. [103, tr. 7].
Chính vì vậy, đời sống của con người luôn tồn tại và tiềm ẩn thế giới tâm linh, một lĩnh vực
của đời sống tinh thần. Đó là một lĩnh vực gắn liền với những khái niệm cái thiêng liêng, cái cao cả,
cái siêu việt… không chỉ có ở đời sống tôn giáo mà còn có cả trong đời sống tinh thần, đời sống xã
hội. Không chỉ có Trời, Phật, Thần, Thánh mới thể hiện sự thiêng liêng mà đất nước, quê hương,
lòng yêu thương con người, sự thật, công lý, đạo làm người cũng thiêng liêng không kém. Vì vậy,
thế giới tâm linh luôn tồn tại trong đời sống con người và trở thành truyền thống văn hóa đậm nét
qua mọi thời đại. Đó là một giá trị cơ bản và vĩnh hằng của đời sống con người.
Qua nhiều tài liệu nghiên cứu về tâm linh, có thể nói Nguyễn Đăng Duy đã đúc kết thật sự

các vấn đề tạo nền tảng cho thế giới tâm linh sinh sôi, phát triển. Đó là, đất nước ta thuộc loại hình
văn hóa gốc nông nghiệp nên trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc
người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kết trái và thu hoạch. Do sống phụ thuộc
nhiều vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên
nhiên. Chính vì vậy, người Việt Nam mở miệng ra là nói “lạy trời”, “nhờ trời”, “ơn trời”. Từ đó,
người Việt đã hình thành tục thờ cúng, khấn vái, cầu đảo, tôn thờ Trời, Phật… thể hiện tín ngưỡng
sùng bái tự nhiên. Trần Ngọc Thêm cũng đề cập đến khía cạnh tổ chức cộng đồng, con người nông
nghiệp ưa sống theo nguyên tắc trọng tình. Hàng xóm sống cố định, lâu dài với nhau, phải tạo ra
một cuộc sống hòa thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu. Lối sống tình cảm ấy dẫn đến thái độ
trọng đức, trọng văn trong cộng đồng, tập thể. Bên cạnh đó, triết lý âm dương tạo nên mối liên
thông giữa âm - dương hình thành tín ngưỡng sùng bái con người. Người còn sống là ở cõi dương,
người chết sang cõi âm, thế giới của âm ti, âm phủ; chết là tiếp theo sự luân hồi chứ không chấm
dứt. Từ đó, con người có quan niệm về hồn ma, hóa kiếp, không gian âm phủ…
Về văn hóa tâm linh, với khá nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, hầu hết các tác giả đều
đề cập đến các vấn đề liên quan đến văn hóa tâm linh. Tuy nhiên, các tác giả thường chỉ dừng lại ở
việc nêu hiện tượng và nhìn nhận một cách khái quát.
Với công trình “Văn hóa tâm linh”, Nguyễn Đăng Duy tập trung những khái niệm khá sâu
sắc về văn hóa tâm linh – một sự gắn bó sâu sắc với đời sống con người. Công trình đã xác định văn
hóa tâm linh là một phần của văn hóa tinh thần, biểu hiện những giá trị thiêng liêng, cao cả trong
cuộc sống đời thường với những biểu tượng, thần tượng và những kỳ vọng vươn tới chân – thiện –
mỹ… Đây là công trình tập trung nghiên cứu về văn hóa tâm linh của người Việt ở miền Bắc trong
các lĩnh vực: tín ngưỡng thần thánh, trời đất, thờ cúng tổ tiên, thờ mẫu, tang ma và các tôn giáo
Phật, Đạo, Thiên chúa giáo. Công trình đề cập đến thế giới tâm linh trong nhiều mặt của đời sống:
cá nhân, gia đình, tôn giáo, mê tín dị đoan… Công trình cũng xác định văn hóa tâm linh là cái nền
vững chắc của mối quan hệ cộng đồng, làng xã và là một vấn đề hết sức rộng lớn. Cũng với tác giả
Nguyễn Đăng Duy, ở công trình “Văn hóa tâm linh Nam Bộ”, tác giả tập trung thể hiện những ý
niệm thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và những niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín
ngưỡng tôn giáo của các cộng đồng dân cư sinh sống trên đất Nam Bộ. Công trình tập trung nghiên
cứu về đặc điểm tính cách tâm linh của bộ phận dân cư chủ yếu ở Nam Bộ, biểu hiện ở mối quan hệ
không gian, sự xuất hiện những nét tín ngưỡng mới. Và tâm linh thể hiện trong các tín ngưỡng thờ

Ngọc Minh Nguyệt, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Hai công trình này tập trung vào một Truyện thơ Nôm cụ thể là “Truyện Kiều”. Một công
trình thì nghiên cứu theo hướng văn hóa người Việt, tác giả có sự đối chiếu, so sánh khá chi tiết
giữa Truyện Kiều của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Từ đó, công
trình đã nêu lên những nét văn hóa có tính truyền thống của người Việt. Một công trình thì nghiên
cứu theo hướng lý giải tín ngưỡng dân gian và quan niệm của Nguyễn Du trong Truyện Kiều để từ
đó xác định đâu là nguồn gốc hình thành quan niệm của Nguyễn Du trong Truyện Kiều.
Như vậy, từ hai nguồn tìm hiểu về văn hóa tâm linh và Truyện thơ Nôm cho chúng ta nhận
thấy đó là hai hướng tìm hiểu, nghiên cứu độc lập. Hướng thứ nhất, các tác giả đi vào tìm hiểu tâm
linh, tín ngưỡng, tôn giáo và sự ảnh hưởng của chúng đối với đời sống tinh thần của con người.
Hướng thứ hai, các tác giả đi vào nghiên cứu Truyện thơ Nôm với các khía cạnh về thể loại, nội
dung, hình thức, ngôn ngữ, nhân vật xa hơn cũng mới dừng lại ở nghiên cứu về văn hóa ứng xử
trong Truyện thơ Nôm.
Việc nghiên cứu, tìm ra sự phối kết hợp thế giới tâm linh vào các sáng tác văn học Trung đại
được Lê Thu Yến và Hoàng Thị Minh Phương thể hiện qua hai công trình nghiên cứu khá hấp dẫn.
Với “Thế giới tâm linh trong sáng tác Nguyễn Du – một biểu hiện của văn hóa Việt” [124],
nhà nghiên cứu Lê Thu Yến đã có cái nhìn bao quát và hệ thống những yếu tố tâm linh trong sáng
tác Nguyễn Du. Qua việc phân tích, tổng hợp, thống kê những biểu hiện của thế giới tâm linh trong
sáng tác của Nguyễn Du. Tác giả đã khẳng định: “Thế giới này biểu hiện rõ rệt trong sáng tác
Nguyễn Du làm cho người đọc không thể không nhận ra. Một Văn Chiêu Hồn thấm đẫm màu sắc
của thế giới bên kia, một Truyện Kiều bàng bạc không gian của cõi âm và nhất là thơ chữ Hán nhan
nhản bày ra những đình, đền, miếu, mộ...” [124, tr. 29].
Với công trình “Văn hóa tâm linh trong văn xuôi Trung đại” của Hoàng Thị Minh Phương,
đây là công trình đã có sự công phu, đầu tư để nghiên cứu về văn hóa tâm linh trong văn xuôi Trung
đại. Tác giả đã đề cập đến những biểu hiện phong phú của thế giới tâm linh như: giấc mộng, thờ
cúng, khấn vái, điềm báo, phép thuật, tướng số, linh ứng, hồn ma hóa kiếp… Từ đó, tác giả đúc kết
được hiệu quả của yếu tố tâm linh trong phản ánh hiện thực và nhận thức, tư tưởng về cuộc sống;
phản ánh hiện thực đời sống xã hội. Đồng thời tác giả cho thấy yếu tố tâm linh có hiệu quả nghệ
thuật tạo nên sức hấp dẫn riêng của văn xuôi Trung đại.
Từ hai công trình nghiên cứu của Lê Thu Yến và Hoàng Thị Minh Phương như gợi mở và

15. Truyện Chàng Chuối
16. Trinh Thử Tân Truyện
17. Chuyện Cái Tấm – Cái Cám
18. Phạm Công Cúc Hoa
19. Truyện Từ Thức
20. Thoại Khanh Châu Tuấn
21. Gương sáng trời Nam
22. Thạch Sanh
23. Liễu Hạnh Công Chúa – Diễn Âm
24. Nhị Độ Mai.
25. Nữ Tú Tài
26. Quan Âm Thị Kính
27. Bích Câu Kỳ Ngộ
28. Phù Dung tân truyện
29. Lâm Tuyền Kỳ Ngộ
30. Trần Minh khố chuối Chúng tôi sẽ khảo sát trên các văn bản đang hiện hành, phổ biến.
Từ các thao tác thống kê, phân loại các yếu tố tâm linh trong các truyện đã xác định dựa vào
văn hóa tâm linh như phong tục, tập quán, tín ngưỡng… Chúng tôi sẽ đi vào giải thích một số yếu
tố tâm linh để từ đó thấy được giá trị nghệ thuật, vai trò, ý nghĩa của thế giới tâm linh. Chính nó đã
góp phần làm nên nét độc đáo của Truyện thơ Nôm.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn tập trung tìm hiểu sự đa dạng, phong phú của thế giới tâm linh trong một số Truyện
thơ Nôm. Từ đó, luận văn xác định giá trị nghệ thuật của yếu tố tâm linh trong Truyện thơ Nôm.
Đồng thời, luận văn cũng đúc kết những giá trị bền vững của các yếu tố tâm linh trong đời sống
con người.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn chúng tôi sẽ sử dụng nhiều phương pháp luận nghiên cứu

1.2. Thế giới tâm linh và cơ sở hình thành
1.2.1. Các khái niệm:
1.2.1.1. Văn hóa
1.2.1.2. Tâm linh
1.2.1.3. Thế giới tâm linh
1.2.2. Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn hóa Việt và Truyện thơ Nôm
1.2.2.1. Cơ sở tư tưởng của Việt Nam
1.2.2.1.1. Từ triết lý âm dương
1.2.2.1.2. Từ tín ngưỡng dân gian
1.2.2.2. Cơ sở tư tưởng của Nho – Phật – Đạo
Chương 2: Những biểu hiện của yếu tố tâm linh trong Truyện thơ Nôm
2.1. Tín ngưỡng thờ cúng và thế giới Trời , Phật, Thần, Tiên
2.1.1. Tín ngưỡng thờ cúng
2.1.2. Trời, Phật, Thần, Tiên
2.2. Duyên kiếp, số mệnh, bói toán
2.2.1. Duyên kiếp, số mệnh
2.2.2. Bói toán
2.3. Hồn ma
2.4. Lời thề
2.5. Phép lạ
2.6. Chiêm bao, mộng mị
Chương 3: Yếu tố tâm linh và sức hấp dẫn của Truyện thơ Nôm
3.1. Yếu tố tâm linh phản ánh hiện thực và trí tưởng tượng phong phú của con người
3.1.1. Thế giới thiên đình
3.1.2. Thế giới âm phủ
3.1.3. Thế giới dương gian
3.2. Yếu tố tâm linh và chức năng hoá giải những vấn đề xã hội
3.3. Yếu tố tâm linh kế thừa và tiếp nối
đau khổ, lầm than; những truyền thống đạo đức tốt đẹp ngày một lung lay và phá vỡ. Có lẽ đây là
nền tảng cho những ước mơ, khao khát về công lý, tình người, cuộc đời… là cơ sở cho tư tưởng
nhân văn nảy sinh và phát triển. Đó cũng là cội nguồn phát triển của Truyện thơ Nôm như Đặng

Thanh Lê đã nhận định “Truyện Nôm là sản phẩm văn học vào thời kỳ phong kiến suy tàn mang ý
nghĩa phản ánh một thời kỳ bùng nổ mạnh mẽ của đấu tranh giai cấp dưới chế độ phong kiến” [61,
tr.57]. Theo nhiều nhà nghiên cứu, Truyện thơ Nôm ban đầu là loại truyện truyền khẩu từ các nghệ
nhân hát rong. Sau đó, các nho sĩ đã ghi chép lại các Truyện thơ Nôm đã có trước đó và tiếp tục
sáng tác mới nên Truyện thơ Nôm với hình thức viết đã được ra đời.
1.1.2. Phân loại
Truyện thơ Nôm là một bộ phận khá lớn trong văn học Trung đại. Theo nhiều hướng nghiên
cứu, nhiều nhà nghiên cứu theo những khía cạnh khác nhau, Truyện thơ Nôm dựa vào tác giả có hai
loại Truyện thơ Nôm hữu danh và Truyện thơ Nôm khuyết danh; dựa vào nội dung, hình thức có
Truyện thơ Nôm bình dân và Truyện thơ Nôm bác học; cũng có hướng phân loại dựa theo nguồn
gốc và đề tài.
Cách phân loại Truyện thơ Nôm hữu danh và Truyện thơ Nôm khuyết danh được thể hiện
trong “Truyện Nôm khuyết danh, một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam” [77] của Bùi Văn
Nguyên. Theo tác giả, Truyện Nôm khuyết danh thật sự là có tác giả nhưng có thể vì lý do nào đó
đã không còn xác định rõ tác giả là ai. Có thể do tâm lý coi thường những sáng tác bằng chữ Nôm,
văn học Nôm được coi là văn học nôm na, đơn giản nên khi tác phẩm ra đời, tác giả cũng không
được chú ý đến và dần dần bị lãng quên. Mặt khác, do Truyện thơ Nôm có nội dung phê phán, lên
án các tầng lớp vua quan độc ác, tham lam nên thường bị giai cấp thống trị cấm đoán. Có thể vì điều
này mà tác giả cũng ngại lưu tên mình trên tác phẩm. Chúng ta cũng cần xét đến yếu tố trước khi có
chữ viết ra đời, Truyện Nôm được truyền miệng là phổ biến. Vì vậy, quá trình lưu truyền tác phẩm
từ người này sang người khác, từ địa phương này sang địa phương kia và được thêm, bớt ít nhiều
nên tác giả chính đã dần dần mờ nhạt và trở thành khuyết danh. Cách phân chia Truyện thơ Nôm
hữu danh và Truyện thơ Nôm khuyết danh cũng được thể hiện trong Luận án của Nguyễn Thị Chiến
[12, tr.11]. Tác giả xác định cách chia này xuất hiện trước những năm 1960 từ công trình “Lược
thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm nghiên cứu văn học Lê Quý Đôn”.
Sau đó, Truyện thơ Nôm đã được các nhà nghiên cứu văn học cổ, trung đại đi vào hướng

tố tâm linh để thể hiện qua Truyện thơ Nôm bình dân và Truyện thơ Nôm bác học. Điều này sẽ gắn
liền với nội dung mang đậm tính dân dã cùng với nghệ thuật mộc mạc, giản dị của các nho sĩ bình
dân và tương ứng với nội dung phức tạp, tình tiết, tâm lý nhân vật, nghệ thuật điêu luyện hơn ở các
nhà Nho thuộc tầng lớp trên của xã hội.
1.1.3. Nội dung
Truyện thơ Nôm bị chi phối khá lớn bởi lễ giáo phong kiến. Chính vì vậy, nội dung của
Truyện thơ Nôm thể hiện khá rõ những quan niệm của lễ giáo thời kỳ này. Chúng ta thấy rất rõ quan
niệm về môn đăng hộ đối trong hôn nhân, tư tưởng trung quân của Nho giáo... những quan niệm về
trung, hiếu, tiết, nghĩa luôn được ca ngợi trong Truyện thơ Nôm. Nhưng không vì thế mà Truyện
thơ Nôm chỉ hạn hẹp trong những phạm vi gò bó của lễ giáo phong kiến. Chúng ta dễ dàng thấy
được những mối tình tự do vượt ra ngoài khuôn khổ khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến trong

Truyện thơ Nôm, những nhân vật khổ đau cùng cực trong xã hội đã biết vươn lên để thay đổi số
phận, những tình yêu chân chính luôn có hậu, hợp lẽ đời… Đó là những điều mà Truyện thơ Nôm
thể hiện khá phong phú, đa dạng và sinh động. . .
Truyện thơ Nôm phản ánh khá đầy đủ các khía cạnh của đời sống xã hội phong kiến. Dù
Truyện thơ Nôm thường đề cập đến “trung, hiếu, tiết, nghĩa” nhưng Truyện thơ Nôm không chỉ
dừng lại ở việc ca ngợi đạo đức phong kiến từ những khía cạnh hợp lẽ đời mà cao hơn là Truyện thơ
Nôm đã thể hiện ý thức vươn lên để bảo vệ tình yêu, khát vọng sống một cách mạnh mẽ, cảm động
của Cúc Hoa, Ngọc Hoa, Phương Hoa…Các nhân vật nữ trong Truyện thơ Nôm thực sự là những
đóa hoa hồng đầy sức sống. Họ đã mạnh mẽ đấu tranh để bảo vệ tình yêu, tấm lòng họ vẫn luôn
thủy chung và khao khát được sống với tình yêu, đạo nghĩa vợ chồng son sắt (Ngọc Hoa, Thoại
Khanh, Công chúa Nam Việt).
Truyện thơ Nôm đặc biệt thể hiện khá đậm nét tấm lòng hiếu thảo của con cái với cha mẹ.
Hình ảnh nàng dâu Thoại Khanh (Thoại Khanh – Châu Tuấn), Cúc Hoa (Tống Trân – Cúc Hoa) đã
đánh đổ quan niệm mẹ chồng, nàng dâu thường xung khắc nhau. Thoại Khanh và Cúc Hoa đã hết
lòng, hết dạ với mẹ chồng khi Châu Tuấn bị đi đày và Tống Trân đang đi xứ. Chúa Ba (Bà Chúa
Ba) nêu gương một người con đại hiếu. Bởi Chúa Ba đã vượt hơn tất cả những công việc đời thường
của người con có hiếu. Chúa Ba một lòng mộ Phật, dù phải trải qua biết bao oan ức, đau khổ nhưng
Chúa Ba vẫn quyết tâm tu hành. Nhờ công đức tu hành, nàng đã cứu được bệnh tình nguy khốn của

Tất cả những đôi trai gái trong Truyện thơ Nôm, họ không quá đặt nặng về luân lý, đạo đức,
về dư luận và thành kiến của xã hội phong kiến khi đến với tình yêu. Cơ sở để họ yêu nhau là phẩm
chất, tài đức của con người, là sự xúc động trước cảnh ngộ không may trong cuộc đời của họ.
Ở Truyện thơ Nôm bình dân, phạm trù đạo đức được thể hiện là phạm vi gia đình mà nổi bật
là tiết, nghĩa. Nội dung Truyện Nôm là cuộc đấu tranh của thiện thắng ác, của ngay thắng gian, của
chính nghĩa thắng phi nghĩa, đồng thời đó cũng là cuộc đấu tranh để bảo vệ tình nghĩa vợ chồng,
bảo vệ gia đình chống lại nguy cơ làm cho nó tan vỡ. Các Truyện Nôm bình dân Phạm Tải – Ngọc
Hoa, Tống Trân – Cúc Hoa, Phương Hoa, Phạm Công – Cúc Hoa, Lý Công, Thoại Khanh – Châu
Tuấn, Hoàng Trừu, Phù Dung tân truyện,… đều có nội dung như thế.
Bên cạnh những tấm lòng sắt son, thủy chung của những người vợ, Truyện thơ Nôm cũng
làm nổi bật hình ảnh của những người chồng rất mực chung tình. Phạm Tải đã từ chối mọi tước
quyền và “ba trăm mỹ nữ cung tần chia đôi”, dứt khoát chung thủy với Ngọc Hoa. Phạm Công ba
lần đi thi đậu Trạng, ba lần vua ép gả công chúa. Cả ba lần Phạm Công đều từ chối, trước sau chàng
vẫn trọn vẹn với Cúc Hoa. Đến khi Cúc Hoa chết, chàng còn đánh đồng thiếp xuống âm cung tìm
vợ. Nhân vật Tống Trân và Châu Tuấn cũng có những nét tương tự như vậy.
Truyện Nôm đặc biệt đề cao vai trò người phụ nữ. Từ nàng Cúc Hoa đến nàng Ngọc Hoa,
nàng công chúa trong truyện Lý Công đến nàng công chúa trong truyện Hoàng Trừu hay nàng
Phương Hoa trong truyện cùng tên, tất cả đều mạnh mẽ và chủ động. Họ chủ động trong tình yêu và

chủ động trong việc đấu tranh để bảo vệ hạnh phúc gia đình. Dù hoàn cảnh có trái ngang, éo le đến
đâu cũng không làm họ gục ngã. Họ không dễ dàng đầu hàng trước hoàn cảnh hoặc buông xuôi theo
định mệnh mà họ luôn kiên quyết đấu tranh, vượt qua. Khi yếu sức thì họ có thần linh giúp đỡ, đấu
tranh trên dương thế không xong, chết xuống âm phủ họ lại tiếp tục đấu tranh cho đến khi chiến
thắng. Có thể nói vai trò của người phụ nữ trong Truyện thơ Nôm thực chất phản ánh vai trò của
người phụ nữ trên bình diện gia đình, đặc biệt là gia đình trong giai đoạn chế độ phong kiến suy tàn.
Ở Truyện thơ Nôm, sự liên hệ giữa chủ đề đấu tranh để bảo vệ tình vợ chồng, bảo vệ gia đình với
việc đề cao đặc biệt vai trò chủ động của người phụ nữ, không phải là ngẫu nhiên mà có tính chất tất
yếu của nó.
Truyện thơ Nôm cũng đã bắt đầu tiến vào phản ánh hiện thực cuộc sống với nhiều mối quan
hệ phức tạp, những xung đột mạnh mẽ giữa con người với con người trong giai đoạn chế độ phong

tư tưởng phong kiến cũng ảnh hưởng khá lớn. Cho nên, dù Nguyễn Du rất ưu ái Thúy Kiều, rất cảm
thông với Thúy Kiều nhưng Nguyễn Du vẫn để thế lực của bọn quan lại phong kiến vùi dập Thúy
Kiều và làm tình yêu giữa Kim – Kiều phải tan vỡ.
Có thể nói, sức mạnh đấu tranh được thể hiện đậm nét hơn ở Truyện thơ Nôm “Lục Vân
Tiên”. Thông qua hàng loạt nhân vật chia làm hai tuyến, Truyện thơ Nôm “Lục Vân Tiên” của
Nguyễn Đình Chiểu đã thẳng thắn lên án bọn vua quan hèn nhát, ác độc và các hạng người xấu xa,
tệ hại khác. Đối lập với chúng là những con người trung trinh, tiết nghĩa, biết sống theo những điều
tốt lành và biết tôn trọng lẽ phải.
Nhìn chung, Truyện thơ Nôm đã dần dần đi sâu vào mối quan hệ của đời sống xã bội với
cách nhận thức và phản ảnh của chủ nghĩa hiện thực nên nội dung phản ánh, phê phán những vấn đề
tiêu cực được thể hiện khá rõ nét.
1.1.4. Hình thức
Về thi pháp, hình thức của truyện Nôm, có lẽ Cao Huy Đỉnh là người đầu tiên nêu lên đặc
điểm thi pháp thể loại truyện này. Ông cho rằng Truyện Nôm “về cơ bản bảo lưu khuôn dạng của
truyện cổ tích”, bao gồm: lai lịch nhân vật, những thử thách ngày càng khó khăn, những phấn đấu
chống lại thế lực tàn ác của thiên nhiên và xã hội, thắng lợi tất yếu, kết thúc có hậu. Tuy nhiên,
Truyện Nôm là một hiện tượng khác cổ tích do có “xu hướng tiểu thuyết hóa truyện dân gian”.
Khi khảo sát, nghiên cứu về Truyện thơ Nôm, hầu hết loại truyện này dựa theo cốt truyện của
truyện cổ tích, hay diễn ca truyện cổ tích. Vì vậy, về nhiều phương diện, kết cấu nghệ thuật của nó
rất giống với kết cấu trong nghệ thuật của truyện cổ tích. Ở loại truyện này, câu chuyện diễn biến
theo trật tự thời gian, việc gì xảy ra trước được kể trước, việc gì xảy ra sau được kể sau. Câu chuyện
thường bắt đầu bằng việc giới thiệu khá tỉ mỉ lai lịch của nhân vật trung tâm từ lúc mới ra đời, sau
đó kể ngay vào nội dung chính. Người kể bao giờ cũng đứng ở ngôi thứ ba và luôn luôn ghi nhớ câu
chuyện mình đang kể thuộc về thời quá khứ.

Đa số Truyện Nôm thường xây dựng theo mô típ và kết cấu giống nhau. Đó là thường rơi vào
trường hợp một anh nho sĩ nghèo đi ăn xin lấy được người vợ đảm đang chịu khó nuôi cho ăn học.
Về sau hoặc người chồng học thành tài vua ép gả công chúa, hoặc người vợ có nhan sắc bị bọn vua
quan hay cường hào cưỡng bức phải bỏ chồng nhưng cả hai đều cự tuyệt, dứt khoát chung thủy với
người bạn trăm năm của mình. Họ phải đấu tranh quyết liệt và phải vượt qua nhiều thử thách để

qua những biến cố cực kỳ quan trọng với những thử thách rất khó vượt qua. Trong những trường
hợp như thế, nhân vật của Truyện thơ Nôm thường được sự hỗ trợ của sức mạnh vô hình của những
yếu tố thần kỳ. Nhờ vậy, các nhân vật chính mới có thể vượt qua các thử thách đi đến thắng lợi cuối
cùng để bước vào trường đoạn đoàn tụ như cấu trúc có hậu của nó (Lý Công, Phạm Công – Cúc
Hoa, Phạm Tải – Ngọc Hoa, Truyện Chàng Chuối, Chuyện Cái Tấm – Cái Cám, Hoàng Trừu, Phù
Dung Tân Truyện...).
Song song với yếu tố thần kỳ, Truyện thơ Nôm còn sử dụng các mô - típ dân gian như đặc
điểm nghệ thuật có sức hấp dẫn đặc biệt của thể loại Truyện thơ Nôm bình dân.
Chúng ta dễ dàng tìm gặp mô – típ của nhân vật chính trong Truyện thơ Nôm xuống âm phủ
tìm người thân như Ngọc Hoa xuống âm phủ tìm chồng là Phạm Tải, còn Phạm Công thì xuống âm
phủ để tìm vợ Cúc Hoa.
Mô – típ “Xử kiện cành đa” được vận dụng vào việc Tống Trân xử kiện ở nước Tần. Mô –
típ gái giả trai phổ biến trong truyện dân gian thì trong Truyện thơ Nôm đó cũng là một mô – típ khá
quen thuộc. Nàng Phương Hoa trong truyện “Phương Hoa” đóng giả trai và đổi tên Cảnh Yên để đi
thi. Ngay trong “Sơ Kính Tân Trang” cũng có nàng Thụy Châu giả trai để đi dự lãm các nơi danh
lam, thắng cảnh, Thị Kính giả trai để đi tu (Quan Âm Thị Kính), nàng Phi Nga giả trai để đi học, đi
thi (Nữ Tú Tài).
Chúng ta cũng thấy các trò thi may áo, thi thổi cơm, làm bánh mà Tống Trân đưa ra để chọn
giữa Cúc Hoa và Công chúa nước Tần xem ai đáng là “chánh thê”, đó cũng là những mô – típ dân
gian trong truyện cổ tích thần kỳ “lấy vợ cóc”. Một mô – típ phong chức hương cống cho chuột để
từ đó có tên gọi chuột cống, cũng được sử dụng trong truyện Tống Trân – Cúc Hoa.
Truyện thơ Nôm, còn có sử dụng mô – típ tiếng đàn. Tiếng đàn nghe như trách móc, oán than
trong truyện “Thạch Sanh”, “Thoại Khanh – Châu Tuấn”...
Như vậy, việc sử dụng các mô – típ dân gian trong Truyện thơ Nôm nhìn chung rất linh hoạt.
Có khi người ta giữ nguyên dạng mô – típ của truyện dân gian và sử dụng nó như một tình tiết nào
đó như mô – típ xuống địa ngục tìm người thân… Song cũng có khi người ta chỉ mượn ở mô – típ
dân gian cái chủ đề cơ bản để phát triển nội dung của truyện.
Qua một số thí dụ vừa nêu, chúng ta thấy rằng việc sử dụng các mô – típ dân gian không
những là một thủ pháp nghệ thuật, mà hơn thế việc sử dụng các mô – típ dân gian còn là một quy
luật có tính tất yếu trong quy trình sáng tạo của thể loại Truyện thơ Nôm. Đồng thời, việc sử dụng

Cũng nhờ sử dụng thành ngữ, tục ngữ, Truyện thơ Nôm và ngôn ngữ nhân vật Truyện thơ
Nôm không những nói đúng mà còn nói rất ngắn gọn, rất hay, rất gần gũi, rất tâm lý về nhiều vấn đề
của cuộc sống. Chính đặc điểm này là một trong những lý do cơ bản giúp Truyện thơ Nôm được
nhân dân yêu thích.

1.2. Thế giới tâm linh và cơ sở hình thành
1.2.1. Các khái niệm
1.2.1.1. Văn hóa
Văn hóa là một phạm trù rất rộng bao hàm các sinh hoạt của loài người từ sinh hoạt tinh thần,
sinh hoạt xã hội. Theo từ điển Tiếng Việt 2000, “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”.
Văn hóa được hiểu theo nhiều nghĩa. Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông
dụng để chỉ học thức, lối sống, hoặc theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai
đoạn… Văn hóa là sản phẩm của con người và tự nhiên nên nguồn gốc sâu xa của mọi sự khác biệt
về văn hóa chính là do những khác biệt về điều kiện tự nhiên và xã hội quy định.
Văn hóa là một phạm trù rất rộng, nhiều học giả nghiên cứu về văn hóa đã không đưa ra một
định nghĩa rõ ràng, vì định nghĩa văn hóa là gì không phải là một việc dễ dàng giản dị.
Như hai nhà nhân chủng học trứ danh Kroeber và Clyde KhucKhoher trong bài phi lộ cuốn
Culture đã mượn lời của một học giả khác, ông Lowell mà thú nhận rằng:
“Tôi đã được ủy nhiệm nói về văn hóa, nhưng ở trên đời này không có gì phiêu diêu mông
lung hơn là danh từ văn hóa. Người ta không thể tách văn hóa vì thành phần nó vô cùng tận…
Người ta không thể mô tả văn hóa vì nó muôn mặt. Muốn cô động ý nghĩa văn hóa thành lời lẽ thì
cũng như tay không bắt không khí: ta sẽ thấy không khí ở khắp nơi và riêng trong tay chẳng nắm
được gì”. [5, tr. 9]
Khi định nghĩa về văn hóa các nhà khoa học cũng thường chú ý đến các khái niệm văn minh,
văn hiến, văn vật và hầu như đều thống nhất văn hóa là một khái niệm bao trùm “nó chứa cả các
giá trị vật chất lẫn tinh thần” [100, tr. 25].
Tại một hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì ở Mexico vào năm 1982, trong tuyên bố về
những chính sách văn hóa, UNESCO đã định nghĩa về văn hóa như sau:
“Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và

Đồng quan điểm với Chủ tịch Hồ Chí Minh khi định nghĩa về văn hóa với sự liên hệ mật
thiết của con người. Con người với vai trò chủ thể trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa,
cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú
và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người
trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… Cốt lõi của sức sống
dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị tư tưởng
và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu của cái mới từ
bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu
để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”. [123, tr. 21].
Tiếp nối tư tưởng, quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng,
Đảng ta rất quan tâm đến vấn đề văn hóa. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương
Đảng tại đại hội toàn quốc lần thứ IX (tháng 04/2001), Đảng cũng đã xác định: “Hướng mọi hoạt

động văn hóa vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị tư tưởng trí
tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng
tình nghĩa, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình cộng đồng và xã hội…” (Báo Nhân
Dân ngày 21/04/2001).
Trong quá trình lãnh đạo của Đảng ta, văn hóa vẫn luôn luôn là mục tiêu quan trọng. Chính
vì vậy, trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng đã tiếp tục chú trọng phát triển
văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội. Đảng ta xác định:
“Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế – xã hội, làm cho văn
hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng
các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng
lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam”. (118, tr. 647).
Số lượng định nghĩa về văn hóa rất phong phú, đa dạng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau.
Qua nhiều tài liệu nghiên cứu, số lượng định nghĩa về văn hóa rất nhiều.
Đầu tiên là định nghĩa theo lối miêu tả của E.B. Taylor: “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao

Xét về cấu trúc, Tâm linh gồm hai chữ tâm và linh kết hợp lại. Tâm hiểu theo hướng tình cảm
thì đó là “tấm lòng nhân ái” (sống có tâm) [79, tr. 1111]. Tâm hiểu theo từ tâm niệm là “nghĩ tới
thường xuyên và tự nhắc mình để ghi nhớ và làm theo” [79, tr.1112] tức là tin theo điều đó. Như
vậy, tâm trong tâm linh là niềm tin
. Còn linh là thiêng trong linh thiêng, thiêng liêng. Vậy tâm linh
được hiểu khái quát là niềm tin
của con người vào sự linh thiêng.
Cũng từ đó, Nguyễn Đăng Duy đã đưa ra khái niệm: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả
trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo. Cái
thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm”.
[27, tr. 11]
Ý thức tâm linh được thể hiện theo hai cách. Thứ nhất là ở ý niệm của con người. Thứ hai là
đọng lại ở các hình ảnh, biểu tượng. Biểu tượng là tiếng nói chung để biểu thị về một tín hiệu. Cây
đa, giếng nước, mái đình là tiếng nói chung để biểu thị về tín hiệu làng quê người Việt Nam. Mồ
mả, bát hương là tiếng nói chung về tín hiệu thờ cúng tổ tiên. Ngôi đình, ngôi đền là tiếng nói chung
về tín hiệu thờ thần của người Việt. Ngôi chùa là tiếng nói chung về thờ Phật ở nước ta… Tất cả đều
là những biểu tượng thiêng liêng. Mọi biểu tượng thiêng liêng là cơ sở bền vững cho nhiều mối
quan hệ của con người trong xã hội.
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu về tâm linh và văn hóa tâm linh cho chúng ta thấy tâm linh
luôn tồn tại và gắn bó với ý thức của con người. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiếu, tâm linh
là một hình thái ý thức, được hình thành từ trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể và phản ánh vào ý thức
con người, không có ý thức con người thì không có tâm linh. Tâm linh là niềm tin thiêng liêng cao
cả trong cuộc sống con người; nó cũng là niềm tin tôn giáo. Cái niềm tin thiêng liêng đó được thể

hiện qua ý niệm và biểu tượng. Trong sinh hoạt tâm linh, con người thể hiện đức tin, niềm xác tín về
một đối tượng thiêng liêng bằng cách phải tạo ra một nơi, một chỗ thờ phượng với bài vị, tượng
chân dung của đối tượng đó cùng với nghi thức cầu cúng. Nói một cách khái quát, nhà nghiên cứu
Nguyễn Hữu Hiếu cho rằng cách biểu hiện sinh hoạt văn hóa tâm linh thể hiện qua ba dạng:
“Văn hóa tinh thần (vô hình): đó là những hiểu biết, những suy luận, nhận thức về một niềm
tin thiêng liêng đối với một đối tượng nào đó”.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status