Những đề xuất cách tân thể loại trong truyện thơ Nôm Nguyễn Đình Chiểu Phần 1 - Pdf 19

Những đề xuất cách tân thể
loại trong truyện thơ Nôm
Nguyễn Đình Chiểu
Phần 1
1. Từ trung đại sang / lên hiện đại là xu thế tất yếu của nền văn học. Xu thế ấy
manh nha trong văn học Việt Nam muộn nhất là từ giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII –
nửa đầu thế kỷ XIX (gọi tắt: Trung đại III). Đến cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, lịch
sử văn học sẽ xác lập và tập hợp đầy đủ dần cả một hệ tiêu chí cho hiện đại hoá. Còn từ
nửa đầu thế kỷ XIX trở về trước, nội dung và nhiệm vụ của hiện đại hoá đặt ra một cách
chưa đầy đủ là phá vỡ phạm trù Trung đại trong văn học, khắc phục dần những giới hạn
của nó. Sự hình thành và trưởng thành ba thể loại văn học tiếng Việt (văn Nôm) nội sinh
bề thế – ngâm khúc, truyện thơ, hát nói; sự xuất hiện cả một trào lưu nhân văn khẳng
định Con người – và cùng với nó, sự phê phán đích danh bản thân chế độ phong kiến;
sau nữa, sự xuất hiện loại hình tác giả hầu như khác trước làm chủ văn đàn – nho sĩ tài
tử, phi chính thống…, tất cả đưa đến một cảnh tượng huy hoàng chưa có tiền lệ mà cũng
không lặp lại: cả một giai đoạn cổ điển
(1)
về văn học, từ Chinh phụ ngâm đến hát nói
Nguyễn Công Trứ.
Vì nhiều lý do, trước hết vì trở ngại chữ viết (văn tự Nôm chỉ được tạo tác và sử
dụng tuỳ tiện, không hề được quy phạm hoá) mà tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt không
thể hình thành trước khi chữ Quốc ngữ
(2)
được chấp nhận (dù là cưỡng bách) vào sinh
hoạt xã hội rộng rãi

trọng hơn: những đặc sắc thể loại chỉ có ở LVT, mà một khi bỏ qua hoặc phân lập nó
với Trung đại III, sẽ khó hình dung đầy đủ bức tranh lịch sử về thể loại, và bước đi hợp
quy luật, có thật của văn học sử ở thời đại ấy.
2.2. Hệ thống nhân vật truyện thơ
(8)
trung đại Việt Nam có hai đặc trưng nổi bật
liên quan đến việc xem xét đặc điểm nhân vật LVT: 1/ Mỗi nhân vật, dù được miêu tả
đạt tới bề dầy một tính cách thì cũng chỉ là tính cách nhất phiến. Nghĩa rằng cái gọi là bề
dầy ấy đã bị nguyên tắc thi pháp nhân vật của thể loại giát mỏng ra, dẹt hoá đi: nó không
có chiều kích mang tính lập phương. Toàn bộ tính cách của nhân vật được ấn định một
cách tiên nghiệm ngay từ trong ý đồ tác giả, và cố định trong suốt vận mệnh tác phẩm.
Quá trình nhân vật chỉ là sự trải dài cơ học đơn thuần những gì có sẵn, định sẵn ấy. Biến
cố mà nhân vật trải qua chỉ là những sự kiện hầu như ngoại tại thuần tuý đối với tính
cách, được gá hờ vào cốt truyện, làm thành những cơ hội giả tạo để nhân vật phô ra
những gì đã được tác giả sắm sẵn cho, từ trước khi hạ sinh ra nó. Cũng như thế, về phía
tác giả, những biến cố vừa nói chỉ là những cái cớ bịa đặt, nếu xét từ cấu trúc nội tại của
tính cách nhân vật, để trải ra và nối thêm ra những gì đã được ông ta nói trắng ngay từ
đầu, về tính cách nhân vật của mình. (Cố nhiên có khi nó có nhiệm vụ “nghệ thuật”
riêng, chẳng hạn, ly kỳ hoá, môtip hoá tình tiết cốt truyện, gợi tò mò của độc giả. Nhưng
khi đó, ý nghĩa “nghệ thuật” – sự hấp dẫn của cái ly kỳ, đã hoàn tất ngay trong bản thân
tình tiết, không / hầu như không liên quan gì đến cái tính cách này hay khác của các
nhân vật). 2/ Tuy vậy, tác phẩm vẫn là cả một thế giới được tạo dựng lên, mà ở đó
những nhân-vật-người là cư dân quan trọng. Thế thì, trong cái thế giới ấy, con người bao
giờ cũng được chia ra, xếp vào hai tuyến duy nhất (hai mà cứ là duy nhất): thiện–ác,
chính–tà, trung–nịnh, tốt–xấu… Đường phân giới giữa chúng, về nguyên tắc, là tuyệt
đối và cố định. Nhân vật bên này không được phép chuyển dịch sang nhập tịch bên
kia
(9)
; cũng không cho phép một nhân vật cùng lúc vừa thuộc bên này lại vừa thuộc bên
kia…

chi…), hoặc khi tình huống truyện đã mở lối cho sự đổi thay (Thái Sư, Hâm-Kiệm… có
cơ hội để tu tỉnh, nhưng không! chúng không hề hối quá!), thì tính cách nhân vật vẫn
đứng yên cố định, không thay đổi. Đừng nghĩ Võ Công chết vì hối. Nhà họ Võ ba người,
ba nhân vật, nhưng tính cách chỉ có một. Trang-Loan không hối, thì sao Võ hối! Cái chết
của y là một cách báo ứng (tự báo ứng), thế thôi!
Quy phạm thứ hai về thi pháp nhân vật truyện thơ là sự phân tuyến đối lập các
nhân vật cũng được LVT tuân thủ triệt để. Hơn cả triệt để: cực đoan! – nhân vật chính
chẳng những được xếp vào hai tuyến đối lập (chính diện–phản diện) như thông lệ truyện
thơ Nôm, chúng còn được bố trí thành từng cặp tính cách đối lập
(11)
, trực diện đối đầu
nhau: Nguyệt Nga >/< Thể Loan; Kiều Công >/< Võ Công; Hớn Minh >/< Trịnh Hâm;
Tử Trực >/< Bùi Kiệm; Quán-Ngư-Tiều >/< Lang-Bói-Pháp Vân Tiên không thuộc cặp
nào nhưng liên quan tất cả các cặp, thì đó là hình thức bề sâu của cấu trúc hệ thống nhân
vật xác nhận vị trí nhân vật chính-trung-tâm của anh ta. Ở mỗi cặp, nhân vật đối lập
nhau theo nguyên tắc vừa đối trọng vừa đối xứng, lấy nét trội đạo đức đã xác định làm
phân giới và trục đối chiều ngang. Trên trục đối chiều ngang đó, hai nhân vật ở hai đầu
mút của trục, hay là mỗi nhân vật ở một thái cực đối lập của cùng một nét đạo đức mà
chúng có chức năng biểu thị. Người tốt, tốt tuyệt đối; kẻ xấu, cũng xấu tuyệt đối.
Vậy là các nhân vật LVT đối lập kép, theo cả hai trục, trục dọc (theo tuyến) và
trục ngang (theo cặp). Đặt cạnh mô hình đối lập nhân vật đơn trục (chỉ theo tuyến) của
các truyện Nôm, rõ ràng đến LVT, quy phạm này đã được khai thác đến tận cùng.
2.4. Hai quy phạm thi pháp cơ bản về nhân vật truyện thơ, đến LVT bị đẩy đến
mức tới hạn, ở cả hai phương diện: cấu tạo từng tính cách (dẹt hoá) và quan hệ giữa các
tính cách (không chỉ phân tuyến mà còn chia cặp). Cùng tắc biến (đến tận cùng thì biến
đổi), triết học xưa khẳng định! Và thật thú vị, sự cách tân thể loại được đề xuất đúng ở
chỗ tận cùng này của quy phạm thể loại về nhân vật!
Gọi là sự nhất phiến về tính cách, có nghĩa rằng tính cách ấy không có chiều kích
lập phương mang thuộc tính không gian, nội tại trong bản thân nó. Con người toàn vẹn
của đời sống bao giờ cũng là một chỉnh thể phức hợp nhiều mặt, muôn mặt, trừu tượng

Cơ chế nhân vật đồng hiện song lập, cùng với nguyên tắc cấu tạo cặp đôi nhân vật
hai thái cực ở trên, cho phép ta nói tới các tính cách song lập đối cực ở mỗi cặp nhân vật
(gọi tắt là tính cách song lập), phân biệt với tính cách đơn lập đơn cực ở một nhân vật,
từng nhân vật riêng rẽ. Mỗi tính cách song lập hiểu như vậy sẽ là toàn bộ nét đạo đức
mà cặp tính cách đó biểu thị. Từ cực bên này đến cực bên kia của tính cách song lập, là
từ nhân vật này đến nhân vật kia trong cặp, cũng tức là từ thái cực này đến thái cực kia
của cùng một nét đạo đức. Mô hình hoá điều đó, mỗi tính cách song lập sẽ tạo nên
một cự ly tính cách (mang thuộc tính không gian trừu tượng), được giới hạn hai đầu bởi
hai nhân vật đồng hiện đối lập. Trong truyện, có bao nhiêu cặp nhân vật là có bấy nhiêu
tính cách song lập, do đó có bấy nhiêu cự ly tính cách. Và bởi vì mỗi cự ly tính cách đều
đã được nới rộng tối đa, đến tận hai đầu mút hai thái cực, tức là đến tuyệt đối, cho nên
các cự ly ấy bằng nhau, đều nhau – cùng đạt đến tuyệt đối như nhau. LVT có bao nhiêu
cặp nhân vật là có bấy nhiêu cự ly tính cách tuyệt đối và bằng nhau như vậy. Tổ hợp lại,
sẽ được một tập hợp các cự ly tính cách bằng nhau và đồng dạng với nhau.
Cũng mô hình hoá, mỗi tuyến nhân vật (tốt hay xấu, thiện hay ác…) làm thành
một mặt bằng nhân vật. Giống như các truyện thơ, LVT có hai tuyến nhân vật đối lập,
làm thành hai mặt bằng nhân vật đối lập. Nhưng các cặp nhân vật được chia đều cho hai
mặt bằng này không chỉ đối lập mà còn đối xứng nhau. Do đó hai mặt bằng cũng vừa
đối lập vừa đối xứng với nhau, bằng một khoảng cách xác định, được tạo bởi các cự ly
tính cách song lập vừa nói. Nếu tổ hợp thêm lần nữa, giữa một bên, các cự ly song lập
bằng nhau (cùng tuyệt đối), và bên kia, hai mặt bằng đối xứng nhau, kết quả cho ta cả
một khối lập phươngvuông vức về thế giới nhân vật ở LVT.
Trong cái không gian vuông vức ấy, Đồ Chiểu đã tư duy, triển khai và mô tả các
tính cách nhân vật. Tính cách nhất phiến, bản thân nó, phi không gian. Nhưng riêng
ở LVT, cái phi không gian thường lệ lại được tư duy bằng một tư duy có khuôn hình trừu
tượng nội thuộc một không gian vuông vức về con người (tối giản quy vào tính-cách-
[đạo-đức]-người). Có những tình tiết nhân vật truyện từng được nhiều nhà đem ra bàn
luận mà vẫn chưa thông, khi thì quy kết xã hội học, khi thì chê / khen suy diễn ép duyên.
Đại loại như, về Vân Tiên:
Khoan khoan ngồi đó chớ ra,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status