Những đề xuất cách tân thể loại trong thơ Nôm Nguyễn Đình Chiểu - Pdf 58

Những đề xuất cách tân thể loại trong truyện thơ Nôm Nguyễn Đình
Chiểu
Phạm Văn Phúc
Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh
1. Từ trung đại sang / lên hiện đại là xu thế tất yếu của nền văn học. Xu thế ấy
manh nha trong văn học Việt Nam muộn nhất là từ giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII –
nửa đầu thế kỷ XIX (gọi tắt: Trung đại III). Đến cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, lịch
sử văn học sẽ xác lập và tập hợp đầy đủ dần cả một hệ tiêu chí cho hiện đại hoá. Còn từ
nửa đầu thế kỷ XIX trở về trước, nội dung và nhiệm vụ của hiện đại hoá đặt ra một cách
chưa đầy đủ là phá vỡ phạm trù Trung đại trong văn học, khắc phục dần những giới hạn
của nó. Sự hình thành và trưởng thành ba thể loại văn học tiếng Việt (văn Nôm) nội
sinh bề thế – ngâm khúc, truyện thơ, hát nói; sự xuất hiện cả một trào lưu nhân văn
khẳng định Con người – và cùng với nó, sự phê phán đích danh bản thân chế độ phong
kiến; sau nữa, sự xuất hiện loại hình tác giả hầu như khác trước làm chủ văn đàn – nho
sĩ tài tử, phi chính thống… tất cả đưa đến một cảnh tượng huy hoàng chưa có tiền lệ mà
cũng không lặp lại: cả một giai đoạn cổ điển
(1)
về văn học, từ Chinh phụ ngâm đến hát
nói Nguyễn Công Trứ.
Vì nhiều lý do, trước hết vì trở ngại chữ viết (văn tự Nôm chỉ được tạo tác và sử
dụng tuỳ tiện, không hề được quy phạm hoá) mà tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt không
thể hình thành trước khi chữ Quốc ngữ
(2)
được chấp nhận (dù là cưỡng bách) vào sinh
hoạt xã hội rộng rãi
(3)
. Nhưng một cách tất yếu, xã hội phát triển đến trình độ nhất định,
nhu cầu về tiểu thuyết (đọc và viết) xuất hiện tự nhiên, không cưỡng được. Truyện thơ
(và ngâm khúc) ra đời với tư cách thể loại văn học là giải pháp cho tình hình ấy. Song,
là giải pháp thay thế thì bao giờ cũng giới hạn ở tính tình thế nhất thời, dù rằng cái nhất
thời kéo ra hàng thế kỷ. Nghĩa là xã hội vẫn tiến hoá với nhịp độ ngày càng lớn, văn học

liên quan đến việc xem xét đặc điểm nhân vật LVT: 1/ Mỗi nhân vật, dù được miêu tả
đạt tới bề dầy một tính cách thì cũng chỉ là tính cách nhất phiến. Nghĩa rằng cái gọi là
bề dầy ấy đã bị nguyên tắc thi pháp nhân vật của thể loại giát mỏng ra, dẹt hoá đi: nó
không có chiều kích mang tính lập phương. Toàn bộ tính cách của nhân vật được ấn
định một cách tiên nghiệm ngay từ trong ý đồ tác giả, và cố định trong suốt vận mệnh
tác phẩm. Quá trình nhân vật chỉ là sự trải dài cơ học đơn thuần những gì có sẵn, định
sẵn ấy. Biến cố mà nhân vật trải qua chỉ là những sự kiện hầu như ngoại tại thuần tuý
đối với tính cách, được gá hờ vào cốt truyện, làm thành những cơ hội giả tạo để nhân
vật phô ra những gì đã được tác giả sắm sẵn cho, từ trước khi hạ sinh ra nó. Cũng như
thế, về phía tác giả, những biến cố vừa nói chỉ là những cái cớ bịa đặt, nếu xét từ cấu
trúc nội tại của tính cách nhân vật, để trải ra và nối thêm ra những gì đã được ông ta nói
trắng ngay từ đầu, về tính cách nhân vật của mình. (Cố nhiên có khi nó có nhiệm vụ
“nghệ thuật” riêng, chẳng hạn, ly kỳ hoá, môtip hoá tình tiết cốt truyện, gợi tò mò của
độc giả. Nhưng khi đó, ý nghĩa “nghệ thuật” – sự hấp dẫn của cái ly kỳ, đã hoàn tất
ngay trong bản thân tình tiết, không / hầu như không liên quan gì đến cái tính cách này
hay khác của các nhân vật). 2/ Tuy vậy, tác phẩm vẫn là cả một thế giới được tạo dựng
lên, mà ở đó những nhân-vật-người là cư dân quan trọng. Thế thì, trong cái thế giới ấy,
con người bao giờ cũng được chia ra, xếp vào hai tuyến duy nhất (hai mà cứ là duy
nhất): thiện–ác, chính–tà, trung–nịnh, tốt–xấu… Đường phân giới giữa chúng, về
nguyên tắc, là tuyệt đối và cố định. Nhân vật bên này không được phép chuyển dịch
sang nhập tịch bên kia
(9)
; cũng không cho phép một nhân vật cùng lúc vừa thuộc bên
này lại vừa thuộc bên kia…
2.3. LVT tuân thủ nghiêm ngặt những quy phạm ấy. Các nhân vật đều nhất phiến về
tính cách. Sự miêu tả từng nhân vật, hay giữa các nhân vật, xét trong nội bộ tác phẩm,
không phải không phong phú, càng khó nói là đơn điệu
(10)
. Tác giả sử dụng nhiều thủ
pháp cá biệt hoá (chưa phải cá thể hoá) nhân vật, từ những góc độ và mức độ khác

nhân vật cũng được LVT tuân thủ triệt để. Hơn cả triệt để: cực đoan! – nhân vật chính
chẳng những được xếp vào hai tuyến đối lập (chính diện–phản diện) như thông lệ
truyện thơ Nôm, chúng còn được bố trí thành từng cặp tính cách đối lập
(11)
, trực diện
đối đầu nhau: Nguyệt Nga >/< Thể Loan; Kiều Công >/< Võ Công; Hớn Minh >/<
Trịnh Hâm; Tử Trực >/< Bùi Kiệm; Quán-Ngư-Tiều >/< Lang-Bói-Pháp... Vân Tiên
không thuộc cặp nào nhưng liên quan tất cả các cặp, thì đó là hình thức bề sâu của cấu
trúc hệ thống nhân vật xác nhận vị trí nhân vật chính-trung-tâm của anh ta. Ở mỗi cặp,
nhân vật đối lập nhau theo nguyên tắc vừa đối trọng vừa đối xứng, lấy nét trội đạo đức
đã xác định làm phân giới và trục đối chiều ngang. Trên trục đối chiều ngang đó, hai
nhân vật ở hai đầu mút của trục, hay là mỗi nhân vật ở một thái cực đối lập của cùng
một nét đạo đức mà chúng có chức năng biểu thị. Người tốt, tốt tuyệt đối; kẻ xấu, cũng
xấu tuyệt đối.
Vậy là các nhân vật LVT đối lập kép, theo cả hai trục, trục dọc (theo tuyến) và trục
ngang (theo cặp). Đặt cạnh mô hình đối lập nhân vật đơn trục (chỉ theo tuyến) của các
truyện Nôm, rõ ràng đến LVT, quy phạm này đã được khai thác đến tận cùng.
2.4. Hai quy phạm thi pháp cơ bản về nhân vật truyện thơ, đến LVT bị đẩy đến mức
tới hạn, ở cả hai phương diện: cấu tạo từng tính cách (dẹt hoá) và quan hệ giữa các tính
cách (không chỉ phân tuyến mà còn chia cặp). Cùng tắc biến (đến tận cùng thì biến
đổi), triết học xưa khẳng định! Và thật thú vị, sự cách tân thể loại được đề xuất đúng ở
chỗ tận cùng này của quy phạm thể loại về nhân vật!
Gọi là sự nhất phiến về tính cách, có nghĩa rằng tính cách ấy không có chiều kích
lập phương mang thuộc tính không gian, nội tại trong bản thân nó. Con người toàn vẹn
của đời sống bao giờ cũng là một chỉnh thể phức hợp nhiều mặt, muôn mặt, trừu tượng
một thuộc tính không gian trong tính cách (cố nhiên, các mặt này liên hệ hữu cơ sống
động với nhau một cách thống nhất, chứ không phải là sự gá chắp cơ học). Quan niệm
được chăng: mỗi phiến tính cách nói trên kia, giỏi lắm cũng chỉ tương đương, do đó chỉ
ứng với một mặt trong muôn mặt của cái phức hợp chỉnh thể sống động tính-cách-
Người ấy? Có người bảo có cả một nước cộng hoà của những cái tôi tập hợp trong mỗi

lập, là từ nhân vật này đến nhân vật kia trong cặp, cũng tức là từ thái cực này đến thái
cực kia của cùng một nét đạo đức. Mô hình hoá điều đó, mỗi tính cách song lập sẽ tạo
nên một cự ly tính cách (mang thuộc tính không gian trừu tượng), được giới hạn hai đầu
bởi hai nhân vật đồng hiện đối lập. Trong truyện, có bao nhiêu cặp nhân vật là có bấy
nhiêu tính cách song lập, do đó có bấy nhiêu cự ly tính cách. Và bởi vì mỗi cự ly tính
cách đều đã được nới rộng tối đa, đến tận hai đầu mút hai thái cực, tức là đến tuyệt đối,
cho nên các cự ly ấy bằng nhau, đều nhau – cùng đạt đến tuyệt đối như nhau. LVT có
bao nhiêu cặp nhân vật là có bấy nhiêu cự ly tính cách tuyệt đối và bằng nhau như vậy.
Tổ hợp lại, sẽ được một tập hợp các cự ly tính cách bằng nhau và đồng dạng với nhau.
Cũng mô hình hoá, mỗi tuyến nhân vật (tốt hay xấu, thiện hay ác…) làm thành một
mặt bằng nhân vật. Giống như các truyện thơ, LVT có hai tuyến nhân vật đối lập, làm
thành hai mặt bằng nhân vật đối lập. Nhưng các cặp nhân vật được chia đều cho hai mặt
bằng này không chỉ đối lập mà còn đối xứng nhau. Do đó hai mặt bằng cũng vừa đối
lập vừa đối xứng với nhau, bằng một khoảng cách xác định, được tạo bởi các cự ly tính
cách song lập vừa nói. Nếu tổ hợp thêm lần nữa, giữa một bên, các cự ly song lập bằng
nhau (cùng tuyệt đối), và bên kia, hai mặt bằng đối xứng nhau, kết quả cho ta cả một
khối lập phương vuông vức về thế giới nhân vật ở LVT.
Trong cái không gian vuông vức ấy, Đồ Chiểu đã tư duy, triển khai và mô tả các
tính cách nhân vật. Tính cách nhất phiến, bản thân nó, phi không gian. Nhưng riêng ở
LVT, cái phi không gian thường lệ lại được tư duy bằng một tư duy có khuôn hình trừu
tượng nội thuộc một không gian vuông vức về con người (tối giản quy vào tính-cách-
[đạo-đức]-người). Có những tình tiết nhân vật truyện từng được nhiều nhà đem ra bàn
luận mà vẫn chưa thông, khi thì quy kết xã hội học, khi thì chê / khen suy diễn ép
duyên. Đại loại như, về Vân Tiên:
Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái ta là phận trai
(LVT, câu 145-146)
Vân Tiên ngó lại rằng: Ừ!
Làm thơ cho kịp bây chừ chớ lâu.
(LVT, câu 217-218)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status