NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ XUÂN DIỆU TRƯỚC 1945 - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA: NGỮ VĂN
LỚP: SƯ PHẠM VĂN 3A

NHỮNG
CÁCH
TÂN
NGHỆ
THUẬT
TRONG
THƠ
XUÂN
DIỆU
TRƯỚC
1945

Đề tài:

Giáo viên hướng dẫn: TS. Bạch Văn Hợp.
Sinh viên thực hiện:
1.
2.
3.

Đoái Hoàng Đức K39.601.022
Đỗ Hoàng Linh K39.601.058
Nguyễn Thị Như Huỳnh.
K39.601.0444

Mục lục:


tình tạo điều kiện cho sáng tác văn học phát triển, khi xưa viết ra một tác phẩm muốn in ấn là một vấn
đề nhưng giờ in ân phát triển tạo điều kiện cho sáng tác ,in ấn lưu giữ tác phẩm. Để bắt kip bước hiện
đại hóa của văn học thì yêu câu mọi nhà văn nhà thơ phải cách tân cải cách, một là dựa trên nền văn
hóa văn học dân tộc , hai là ảnh hưởng nền văn hóa, văn học các nước phương Tây. Như vậy cách tân
văn học là một tất yếu của thời đại.
2. Phạm vi cách tân của văn học.
Để thực hiện công cuộc hiện đại hóa nên văn học dân tộc, yêu câu phải có sự cách tân
trên cả nội dung và hình thức trên các yếu tố của nề văn học như thể loại, đề tài, bút pháp hình
tượng, ngôn ngữ,…..
Trên bình diện nội dung, văn học thể hiện nhận thức, tư tưởng tình cảm, tâm hôn cách
làm mới của nhà văn mang dấu ấn cá nhân rõ rệt. Điều này khác hẳn với thời trung đại, con người bị
chi phối của tư tưởng Nho gia cá nhân ẩn trong cái chung. Nói về yêu nước thì lấy chữ “trung quân”
làm đầu, bây giờ thì phải, “Dân là dân nước, nước là nước dân” (Phan Bội Châu). Thời trung đại đề tai
tinh yêu là cấm kị, có thời kì truyện Kiều bị cấm không cho nam nữ thanh niên đọc, Bây giờ tình yêu
được thể hiện cách đủ đầy nhiều cung bậc cảm xúc vui – buồn – hạnh phút – ghen tuông – hận – đau
khổ,….

2


Về hình thức, văn học viết bằng chữ quốc ngữ thay thế cho nên văn học chữ Nôm. Xuất
hiện và ra đời nhiều thể loại văn học mới như truyện ngắn, phóng sự, tùy bút, kịch nói, lí luận phê
bình văn học, thơ mới tự do phóng khoáng,….. Trên lĩnh vực thơ ca, nó từ bỏ hệ thống thi pháp cổ
điển, đến với các thể tự do bộc lộ tình cảm cá nhân trực tiếp.
II.

Tác giả Xuân Diệu.
1. Cuộc đời.

Nhà thơ Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu), (sinh vào ngày 2 tháng 2 năm 1916) là

trí, toàn hồn, nhiệt thành cống hiến sự sống cho thơ ca, chạy đua với thời gian để giành giật
lấy từng phút giây của cuộc đời. Nói đến Xuân Diệu (1916-1985), trước hết phải nói đến
cuộc đời của nhà thơ. Xuân Diệu là bút danh, tên thật là Ngô Xuân Diệu. Cha ông là Ngô
Xuân Thọ, vốn quê ở xã Trảo Nha, nay là thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, đỗ tú
tài kép Hán học, vào Bình Định dạy học, lấy vợ là Nguyễn Thị Hiệp, sinh ra Xuân Diệu tại Gò
Bồi, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Xuân Diệu thuở nhỏ sống ở quê mẹ, đến năm mười
tuổi sống với cha.Xuân Diệu trải qua quá trình đào tạo quy củ. Thuở nhỏ học chữ Nho và
chữ Quốc ngữ với cha, sau đó học ở trường Bưởi (Hà Nội) và trường Khải Định (Huế).
Xuân Diệu là một con người có tinh thần lao động nghệ thuật đầy đam mê và
bền bỉ ngay từ thuở nhỏ "cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong - Ông đồ Nghệ đeo khăn gói đỏ".
Xuân Diệu trước hết học được ở cha - ông đồ Nghệ đức tính cần cù, kiên nhẫn trong học
tập, rèn luyện tài năng và lao động nghệ thuật. ở Xuân Diệu, học tập, rèn luyện và lao động
sáng tạo vừa là một quyết tâm khắc khổ, vừa là một lẽ sống, một niềm say mê lớn.Thế Lữ
đã từng nhận xét về Xuân Diệu: "Một tâm hồn đằm thắm và rất dễ cảm xúc". Sinh ra và lớn
lên ở quê mẹ, sống giữa thiên nhiên phóng khoáng với những ngọn gió nồm và những con
sóng biển đã tác động đến hồn thơ nồng nàn, sôi nổi của ông. Phải sống trong hoàn cảnh éo
le, ông là con vợ lẽ, phải xa mẹ từ nhỏ và thường bị hắt hủi. Vì thế, thơ ông luôn thể hiện

4


tâm hồn khao khát tri âm, khao khát giao cảm với đời một cách mãnh liệt và da diết. Đúng
như ý kiến của một nhà phê bình đã đánh giá: "Xuân Diệu là nhà thơ của niềm khát khao
giao cảm với đời".Về quá trình đào tạo: Một mặt, ông tiếp thu, học hỏi văn hóa phương
Đông từ người cha là một nhà nho, tìm về vốn tri thức cổ, văn hóa truyền thống một cách
tích cực. Mặt khác, Xuân Diệu là một trí thức Tây học, đã hấp thụ ảnh hưởng của văn hóa
phương Tây, đặc biệt là Pháp và các nhà văn thuộc trường phái tượng trưng một cách có
hệ thống. Vì thế có thể tìm thấy ở nhà thơ sự kết hợp hai yếu tố cổ điển và hiện đại, Đông và
Tây trong tư tưởng và tình cảm thẩm mỹ. Trong đó yếu tố Tây học, hiện tại ảnh hưởng sâu
đậm hơn.

“Tôi muốn tắt nắng đi, cho màu đừng nhạt nắng
Tôi muốn buộc nắng lại, cho hương đừng bay đi”.

5


(Vội vàng)
Tóm lại: Thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám biểu hiện rõ tấm
lòng của một con người nặng tình với đời song bế tắc, là thơ của một tâm hồn đầy mơ
mộng, khát khao yêu thương, chứa chan tình cảm lãng mạn trong đó có những cái mới
mẽ. Tình yêu nam nữ trong thơ Xuân Diệu thời kì này cũng được diễn tả với tất cả
cung bậc của nó qua những vần thơ uyển chuyển giàu âm thanh, màu sắc, hình ảnh…,
để lại âm vang mạnh mẽ trong lòng người đọc.
b) Sau cách mạng tháng Tám:

Sau cách mạng tháng Tám Xuân Diệu là nhà thơ hăng say nhất, tiên phong
nhất trong trong việc phản ánh cuộc sống mới, con người mới. Ông là một nhà thơ lãng
mạn hòa mình rất nhanh vào thời đại mới và đưa hết tất cả nhiệt huyết, khát khao công
hiến của mình vào sáng tác để phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Sáng tác của
Xuân Diệu sau cách mạng có những thay đổi cơ bản về đề tài, cảm hứng và phương
thức sáng tác, tác phẩm của ông bám sát vào hiện thực cuộc sống, cho ra đời các tác
phẩm kịp thời để phục vụ công cuộc đấu tranh và xây dựng nước nhà.
Với thơ tình, Xuân Diệu đã đạt được những thành công rất đặc sắc. Ở mảng
thơ này bản lĩnh nghệ thuật của Xuân Diệu bộc lộ rõ nét nhất. Trước Cách mạng tháng
Tám, thơ tình Xuân Diệu giãi bày niềm khao khát được ban phát tình yêu, hiến dâng,
vồ vập nhưng rồi kết cục lại rơi vào bi kịch của một trái tim hiến dâng nhầm chỗ. Còn
sau Cách mạng tháng Tám, thơ tình của ông có được một nguồn mạch mới, đó là tình
yêu bền chặt, gắn bó không thể gì chia cắt nổi bời tình yêu của lứa đôi bao giờ cũng
nồng nàn, đến “ngàn năm không thỏa”. Dù “anh không xứng là biển xanh / nhưng anh
muốn em làm bờ cát trắng” để có thể :

của các bậc nam nhi. Nam nhi thì phải có danh gì với núi sông, nam nhi phải có công danh. Bởi vậy,
nam nhi cảm thấy đau khổ và xấu hổ khi nghe chuyện kể về Gia Cát Lượng_ một công thần trong thời
Tam Quốc mang đầy đủ phẩm chất của một người nam nhi mà thời xưa yêu cầu.
Hay họ là những con người sẵn sàng ra đi vì nghĩa lớn.
“Gĩa nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu vị ào ào gió thu”….
“Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao”…
(Chinh phụ ngâm)
Tinh thần ra đi cứu nước, hoặc chí lập thân không chỉ riêng cá nhân nào mà là của tập
thể tất cả mọi nam nhi sống trên đời phải thực hiện. Đến với thơ Hồ Xuân Hương tiếng nói cá nhân
dần được thức tỉnh.
“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng…”
Cất cao tiếng nói đã kích lễ giáo nhưng tiếng nói cá nhân âm thầm ấy chỉ đã kích phê
phán chứ chưa bộc lộ một cách rõ nét.
Đến với Xuân Diệu thì có bước tiến vượt bậc trong tiếng nói cá nhân tác giả đề cao cái tôi
của mình. Có lẽ trong các nhà thơ trung đại, nhà thơ trong phong trào Thơ mới chưa ai bộc lộ lòng
ham sống, cuồng nhiệt như Xuân Diệu.
“Nhưng mà tôi sẽ chết, than ôi!
Tôi kẻ đưa răn bấu mặt trời,
Kẻ đựng trái tim trìu máu đất,
Hai tay chín móng bám vào đời”
(Hư vô)
Lầu thơ của ông của ông xây trên đất của một tấm lòng trần gian. Vì vậy Xuân Diệu luôn
bộc lộ cái tôi của mình, ông luôn ước ao hòa hợp với thiên nhiên con người cây cỏ, trăng.

7



(Cảm xúc)

8


hay
Anh muốn vào dò xét giấc em mơ,
Nhưng anh giấu em những mộng không ngờ,
Cũng như em giấu những điều quá thực…
(Xa cách)
Đây là một phương thức rất phổ biến trong Thơ mới, đặc biệt là trong thơ Xuân Diệu. Với
phương thức này, thơ Xuân Diệu không phải trữ tình theo kiểu “vô chủ” như trong thơ cổ điển nữa
mà là một thứ tiếng nói có chủ; không còn là thứ tiếng nói suy tư bên trong không định hướng mà
ngược lại, nó hướng đến một đối tượng nhất định cho dù có đôi khi đối tượng ấy không được xác
định rõ ràng. Chẳng hạn, trong bài thơ “Tương tư chiều”, Xuân Diệu đã hướng đến đối tượng là “em”:
Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi,
Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời.
Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm!
Em! Xích lại! Và đưa tay anh nắm!

Hay đôi khi đối tượng ấy lại không rõ là ai, như thế nào, như nói chung với bạn đọc vô
hình:
Sắt hạ rung rinh bốn phía hè...
Hồn ai hiu hắt lá xanh tre?
Dịu dàng như có, như không có,
Biển ở xa xăm gởi gió về.
(Nhớ mông lung)
Chính cái tôi ấy đã làm nên nét đặc trưng trong thơ Xuân Diệu; cái tôi ấy mang nhiều nét

Tình đã cho không lấy lại bao giờ.
...
Tình yêu phải bắt đầu từ tuổi trẻ.
Làm sao sống được mà không yêu
Không nhớ không thương một kẻ nào
Tóm lại, với cái tôi của mình, Xuân Diệu đã làm cho người đọc cảm nhận được một hồn
thơ đầy nhạy cảm, giàu tình yêu và vô cùng mãnh liệt trong xúc cảm với cuộc đời, với con người

b) Thời gian trần thế, không gian trần thế.

10


Thế Lữ trong Lời tựa tập Thơ thơ viết, Xuân Diệu “ một con người của đời , một con
người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây trên đất của một tấm lòng trần gian..”. Xuân Diệu rất đời
thường, lúc mà mọi người đang say mê lạc lối đâu đấy, chốn lên tiên, trong cơn say truyền miên
không dứt. Đối với Xuân Diệu không đâu đẹp bằng chốn trần thế này, bồng lai tiên cảnh chỉ là hư ảo,
say rồi có lúc tỉnh không thật, điều thật ở thế gian này là thiên nhiên trân thế, con người trần thế, tình
yêu trần thế, nó được xây dựng trên không gian, thời gian trần thế.
Đọc Thơ thơ và Gửi hương cho gió, chúng ta dễ dàng hình dung ra mặt bằng không gian
vui tươi, ấm áp, chan hòa của Xuân Diệu. Một không gian trẻ trung với những cô gái mười tám đôi
mươi “má hồng phơn phớt mắt long lanh”, những chàng trai đang tuổi tươi xanh. Không gian trong
thơ Xuân Diệu thể hiện qua vườn, sương….
Vườn một trong những không gian tiêu biểu nhất chứa đầy ý tưởng thơ Xuân Diệu.
Vườn trong thơ Xuân Diệu có thể là không gian trừu tượng (Không muốn đi ở mãi mãi vườn trần), có
thể cụ thể (Trong vườn đêm ấy trăng nhiều quá) nhưng trước hết là biểu tượng sinh động của cuộc
sống.Vườn là con đường để con người tìm ra sự hòa hợp với thiên nhiên. Không gian vườn được miêu
tả dưới ánh nắng ban mai tất cả đề trở nên long lanh rạng rỡ:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh;

Đi vào thế giới không gian nghệ thuật Xuân Diệu là bước vào cả một vương quốc nghệ
thuật với nhiều kiến trúc không gian khác nhau. Có không gian cao, cũng có không gian hẹp, có không
gian hữu hình cũng có không gian vô hình,…. Tất cả hình thù đường nét không gian là hệ thống hình
ảnh trần thế, đời thường chứa không phải là những đường nét mơ ảo chốn cung trăng hay giấc mộng
phiêu du nửa hư nửa thực.
Nếu chỉ dừng lại ở việc khẳng định không gia trần thế thì chưa đủ. Trong thơ Xuân Diệu
ông cũng khẳng định thời gian trần thế. Thời gian của đất trời thì tuần hoàn lặp lại theo chuỗi “xuân
hạ thu đông” nhưng thời gian của con người là hữu hạn không thể lặp đi lặp lại nữa.
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa xuân sẽ già”
(Vội vàng)
Ở đây thi nhân đã thi vị hoa mùa xuân, mùa xuân của đất trời là mùa xuân tuần hoàn,
vĩnh cữu, còn mùa xuân của thi nhân mang dáng vẻ của một con người có già, có trẻ, có sinh li tử biệt.
Đó là thời gian của đời người. Vì cảm thức thời gian vũ trụ là tuần hoàn, thời gian trần thế hay cụ thể
thời gian đời người ngắn ngủi nên đôi lúc thi nhân phải chạy đua với thời gian để tận hưởng hương
sắc cuộc đời.
Mau với chứ vội vàng lên với chứ
Em ơi em tình non sắp già rồi
Cảm thức thời gian cuộc đời như nỗi ám ảnh trong nhà thơ, nó khiến cho nhà thơ sông
vội, sống vàng, khiến cho nhà thờ nhìn bắt cứ một hiện tượng nào của cuộc sống cũng bị ám ảnh.
Ngày muốn hết buồn như đời muốn hết
Chiều bị thương ráng sức kéo mình đi
Lũ mây già, nghìn vạn khối lâm ly,
Đứng giữa lưới bủa vây trời nhỏ hep.

12


(Sắt)
Thời gian vốn dĩ là một khái niệm mơ hồ, khó định nghĩa được một cách chính xác. Theo

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi
Chim vội vàng bỗng đứt tiếng reo thi

13


Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi, chẳng bao giờ nữa?
(Vội vàng)
Chưa có nhà thơ nào mà luyến tiếc thời gian đến xót xa như Xuân Diệu. Ông ý thức
được giá trị quý báu của thời gian cho nên ông đã có được lối sống tích cực để không hoang phí thời
gian và để cho cuộc sống thêm ý nghĩa. Xuân Diệu đã có những dự đoán trước để sống bắt kịp với
thời gian, để thời gian không phải trôi đi trong sự luyến tiếc của mọi người “ Tôi không chờ nắng hạ
mới hoài xuân”,vì thế ông đã chọn cho mình cách sống vội vàng, gấp gáp, ta thường bắt gặp trong thơ
ông những từ ngữ như giục giã, vội vàng, mau, mau lên, gấp…. bởi thi nhân lo sợ lỡ làng, không kịp…
“Mau với chứ! Thời gian không đứng đợi
Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới;
Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa

“Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai.
Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn”.

hay:
“ Những ngày cứ thắt đi từng phút
Rồi mặt trời cao, nắng cháy tràn
Trưa đến thôi rồi! Bình đã vỡ
Nửa ngày xinh đẹp đã tiêu tan”.
Không quay về quá khứ để hoài niệm, không tìm kiếm một ngày mai vô vọng, con người
ở đây sống cùng thực tại mãnh liệt, dường như cùng với các động tác vội vàng cuống quít kia là sự
cuồng nhiệt với đời:

mê, tóc như mây vướng trên đài trán thơ ngây, mắt như bao luyến mọi người và miệng cười mở rộng
như một tấm lòng sẵn sàng ân ái, chàng đi trên đường thơ, hái những bông hoa gặp dưới bước chân
mình, những hương sắc nẩy ra bởi ánh sáng của lòng chàng”.
Bàn về thơ Xuân Diệu, Hoài Thanh cũng từng khẳng định: “Thơ Xuân Diệu còn là một
nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này, Xuân Diệu đắm say tình yêu, đắm
say cảnh trời, sống vội vàng, cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình.”
Vâng, Xuân Diệu – một “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh) đã gieo
vào lòng người đọc biết bao cảm xúc ngập tràn của thứ tình yêu cuộc sống đến ngất ngây, choáng
váng. Đọc thơ Xuân Diệu, ta thấy ở đó một hồn thơ luôn “khát khao giao cảm với đời”. Xuân Diệu viết
thơ vừa là để bày tỏ cảm xúc riêng tư của mình, mặt khác còn thể hiện tình yêu cuộc sống cháy bỏng
mà không một thứ ngôn ngữ nào có thể diễn tả nổi.
“Như một tấm lòng sẵn sàng ân ái”, Xuân Diệu dang tay chào đón nhựa sống rạt rào của
cuộc đời. Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng
trên đất của một tấm lòng trần gian, ông lại không trách mà còn quyến luyến cõi đời, và lời nguyện
ước của ông có bao nhiêu là sức mạnh:
Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn

15


Làm dây da quấn quýt cả mình xuân
Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần
Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất.
(Thanh niên)

Một ước muốn quá ngông cuồng, lãng mạn và dường như không thể thực hiện được!
Nhưng với ai, chứ Xuân Diệu có thể, bởi nhà thơ:
Sống toàn tâm, toàn ý, sống toàn hồn
Sống toàn thân và thức nhọn giác quan.
(Thanh niên)

Của yến anh này đây khúc tình si”
(Vội vàng)
Với tâm hồn khát sống, khát yêu, tận hiến, tận hưởng và khát khao giao cảm mãnh liệt,
Xuân Diệu đã khám phá ra vẻ xuân tươi phơi phới đầy tình tứ và ngon lành ở những cảnh vật thiên
nhiên quen thuộc quanh ta: cảnh ong đưa và bướm lượn dập dìu bỗng chốc trở thành “tuần tháng
mật” của tình vợ chồng. “Hoa của đồng nội” cũng trở nên thắm sắc, ngát hương hơn. Cành cây bình
thường cũng hoá thành “cành tơ” căng tràn nhựa sống với những chiếc lá phơ phất bay đầy tình tứ.
Và tiếng hót đắm say của chim yến, chim oanh bỗng chốc cũng hoá thành điệu tình si mê đắm lòng
người. Thi sĩ như muốn nói với chúng ta: sao người ta cứ đi tìm “Bồng lai Tiên cảnh”, cõi “Niết bàn”
cực lạc ở mãi chốn mông lung hão huyền, viễn vông nào kia. Nó ở ngay giữa cuộc sống quanh ta đây,
ngay trong giây phút hiện tại đây. Nó là cái có thực, luôn luôn diễn ra sinh động trước mắt ta. Hàng
loạt từ “này đây” vừa như liệt kê những của ngon vật lạ phong phú, đa dạng, muôn màu muôn vẻ của
trần gian, vừa như mời mọc thiết tha, vừa tạo cho đoạn thơ một nhịp điệu thúc giục hối hả. Vậy còn
chờ gì nữa, hãy yêu mến, hãy gắn bó và sống hết mình với cuộc sống thực tại đầy tươi vui này.
Thực ra, cái thế giới tươi đẹp đó, vườn xuân mơn mởn xanh tươi đó đâu phải bây giờ
mới có. Nhưng xưa nay, ta chưa có con mắt nhìn, chưa chịu nhìn nên không thấy. Nhà thơ Xuân Diệu
không tạo ra thế giới mới nhưng có con mắt nhìn mới. Thi sĩ gọi đó là con mắt “xanh non” “biếc rờn”.
Thoát hỏi hệ thống ước lệ có tính chất phi cá thể của văn chương cổ điển, cặp mắt “xanh non” của thơ
Mới tiêu biểu hơn hết là Xuân Diệu ngơ ngác, vui sướng như lần đầu tiên trông thấy trời xanh hoá lá,
cái gì cũng lạ, cũng đẹp, cũng non tươi; cái gì cũng mê, cũng say.
Chính bởi một tâm hồn thiết tha với cuộc sống nơi trần thế, mà Xuân Diệu đã quan sát,
phát hiện và ghi nhận được những biến chuyển của thời gian và những nét đẹp tinh vi của những mùa
trong năm. Hãy nghe chính Xuân Diệu tâm sự: “Với lòng tôi, trời đất chỉ có hai mùa: Xuân với Thu, hai
mùa đặc biệt ý nhị, hai mùa có bình minh. Từ xuân sang hè, là từ ấm sang nóng, từ thu sang đông, là
từ mát sang lạnh, sự thay đổi làm ta bực tức mà lại không có gì thực mới cả; đông với hè chỉ là sự thái
quá của thu với xuân. Chứ còn từ đông sang xuân, sao mà sung sướng thế! Linh chuyển ngược sang
ấm, từ một điều rất khó chịu chuyển ngược sang một điều rất dễ chịu. Theo lẽ ấy, hè sang thu là bao
nhiêu khoái trá cho giác quan; được rời bỏ lửa chói chang, mà vào trong nước hiền hòa, mát mẻ. Xuân
với thu là hai bình minh trong một năm, sự đổi thay hệ trọng nhất cho tâm hồn. Và bởi vậy, thu cũng
là một mùa xuân... Đầu xuân là bình minh ấm của lòng tôi; đầu thu là bình minh mát của lòng tôi. Và

tầm thường và những cám dỗ vật chất. Cũng vì thế mà hầu hết những bài thơ tình của Xuân Diệu nằm
trong phạm trù của những tình cảm tuy rất gần gũi đời thường nhưng lại trong sáng và thanh cao. Đến
với tình yêu, Xuân Diệu muốn đem một trái tim có “lửa mặt trời” để tìm đến thế giới mới lạ, để chào
đón và hiến dâng. Nhưng rồi tình yêu nhiều khi như một trái chín nằm ở ngoài tầm với. Thơ Xuân Diệu
vui bao nhiêu thì cũng buồn bấy nhiêu vì tác giả hiểu rõ: Chàng trai chủ động để tìm đến, nhưng sự
tiếp nhận lại thuộc về một quyền lực khác:
“Yêu, là chết ở trong lòng một ít.
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?
Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu:

18


Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết.”
(Yêu)
Cũng vì thế, tình yêu trong thơ Xuân Diệu gắn liền với nỗi cô đơn và sự hoài nghi. Ngay cả
khi “ được yêu” nhưng “ cái tôi” vẫn lo sợ vì cảm nhận sự biệt li, tan vỡ đang dần đến. Cho dù cùng
người yêu dạo bước dưới ánh trăng “cái tôi” vẫn cảm thấy:
Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá
Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ.
(Trăng)
hay là:
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ
Tình yêu đến, tình yêu đi ai biết
Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt
Những vườn xưa nay đoạn tuyệt dấu hài…
( Giục giã)
Có thể nói, tình yêu trong thơ Xuân Diệu thời kì này rất nồng cháy, “vô biên” để rồi rơi
vào bi kịch của một trái tim hiến dâng nhầm chỗ và “say khướt đau thương”.
Nhưng Xuân Diệu chẳng bao giờ chán nản, “khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng

Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối…"
(Khi chiều giăng lưới)
Hai câu thơ mà chứa đựng biết bao tâm trạng của kẻ thiết tha yêu đời nhưng lại như
đang phải tự giam mình trong cô đơn sầu thẳm. Đến nỗi trước cánh mùa thu ào đến, nhà thơ đã phải
thốt lên những tiếng reo mừng khe khẽ: "Đây mùa thu đi, mùa thu tới” nhưng rồi cảm giác vui mừng
lại bị xóa nhòa đi, nhường chỗ cho cảm giác buốt lạnh cô đơn. Thu đến chỉ thấy có gió rét luồn lách
qua từng ngọn cỏ nhành cầy, chỉ thấy cánh vật mang một nỗi buồn tâm trạng trước thời cuộc, nó lan
tỏa ra không gian và đọng lại trong ký ức của bầu trời và lòng nguời:
"Mây vẫn từng không chim bay đi
Khi trời u uất hận chia li
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì"
(Đây mùa thu tới)
Cả một không gian bao la lúc này đã thấm đượm nỗi buồn của lòng người và hiến hiện
lên khuân mặt của các cố thiếu nữ. Đúng là tâm trạng trước cảnh “nước mất nhà tan" cùa những lớp
người chưa xác định được hướng đi cho mình và dường như cũng không thể giải thích nổi. Nó chỉ
phảng phất trên cảnh vật, hiện hình lên gương mặt những người thiếu nữ và đọng lại trên sắc thu tê
tái, thấm sâu nỗi niềm băn khoăn của thi sĩ.
Như chúng ta đã biết, Xuân Diệu khát khao ước mơ nhiều. Nhưng khát khao sống bình
thường hạnh phúc mà cũng chẳng được. Có lẽ vì vậy mà nhà thơ đã đưa mình đến với những thế giới
đầy xuân sắc và tình tứ, cỏ tạo ra những mộng mơ để tự huyễn hoặc mình? Nhà thơ cũng đã một lần
ao ước:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói xuốt trăm năm

20


(Giục giã)
Nhà thơ yêu đời, tha thiết gắn bó với đời. nhưng thực tế cuộc sông xã hội lại không được

2

Thơ 5 tiếng

5

5

Thơ 7 tiếng

47

49

Thơ 8 tiếng

32

33

Thơ lục bát

7

Thơ tự do

7

4



146

31

Thơ lục bát

41

Thơ tự do

9

51

Thơ song thất lục bát

11
5

1

(Tài liệu tham khảo: Giáo trình Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu
giai đoạn 1932-1945, TS.Lê Tiến Dũng)
Như vậy, rõ ràng các thể thơ Xuân Diệu đã sử dụng có một tỉ lệ khá tương ứng
với các thể thơ được sử dụng trong Phong trào Thơ mới. Xuân Diệu chỉ khác họ ở chỗ, ông
tập trung vào một số thể loại nhất định, đó là: thơ 7 tiếng và thơ 8 tiếng(82%).
b) Thơ Xuân Diệu chủ yếu là những thể có số câu đều đặn, ít bài có số câu dài ngắn khác nhau

Từ bảng thống kê trên, không khó để nhận ra trong hai tập thơ tiêu biểu của

Với áo mơ phai dệt lá vàng.

Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa mầu xanh;
Những luồng run rẩy rung rinh lá...
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ...
Non xa khởi sự nhạt sương mờ...
Đã nghe rét mướt luồn trong gió...
Đã vắng người sang những chuyến đò...

Mây vẩn từng không chim bay đi,
Khí trời u uất hận chia ly.
ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn ra, nghĩ ngợi gì.
Gieo vần theo lối thất ngôn tứ tuyệt: vần được gieo ở câu 1,2, 4:
Hết ngày, hết tháng, hết! em ôi!
Kinh hãi không gian quặn tiếng còi.

23


Anh ngóng tìm em, tuy thấy đó,
Sắp xa thôi cũng tựa xa rồi!
(Trích “Hết ngày hết tháng”)
Cách ngắt nhịp tương tự như thơ thất ngôn cổ điển: 4/3, 2/5, 5/2, 2/2/3, 1/6 nhưng phổ
biến nhất cũng là 4/3:
Vườn cười bằng bướm,/ hót bằng chim;
Dưới nhánh,/ không còn một chút đêm:


Thôi hết rồi! Còn chi nữa đâu em!
Thôi hết rồi, gió gác với trăng thềm.
Với sương lá rụng trên đầu gần gũi,
Thôi đã hết hờn ghen và giận tủi.
(Được giận hờn nhau! Sung sướng bao nhiêu!)
Anh một mình, nghe tất cả buổi chiều
Vào chậm chậm ở trong hồn hiu quạnh.

Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi,
Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời.
Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm!
Em! Xích lại! Và đưa tay anh nắm!
(“Tương tư chiều”)
(Bài thơ có 22 câu, được chia làm 3 đoạn: đoạn 1-9 câu đầu, đoạn 2-7 câu giữa,
đoạn 3-6 câu cuối.)
Thứ ba, cách gieo vền trong thơ 8 tiếng Xuân Diệu là phỏng theo cách gieo vần
của thơ Pháp. Có lúc Xuân Diệu gieo vần liền, chẳng hạn bài Xuân không mùa:
Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu
Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều
Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng.
Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;
Có lúc Xuân Diệu chọn cách gieo gián cách, chẳng hạn bài Bóng đêm.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status