hướng dẫn học sinh tìm hiểu những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nguyễn du trong các đoạn trích truyện kiều ở sgk ngữ văn 10 - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THÀNH LONG HƢỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU
NHỮNG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT ĐỘC ĐÁO CỦA
NGUYỄN DU TRONG CÁC ĐOẠN TRÍCH TRUYỆN KIỀU
Ở SGK NGỮ VĂN 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ở SGK NGỮ VĂN 10
Chuyên ngành: LL&PP dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Hữu Bội
Thái Nguyên - Năm 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CẢM ƠN !



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung
thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Long Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
B. PHẦN NỘI DUNG 5
Chƣơng I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
HƢỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU NHỮNG SÁNG TẠO NGHỆ

2.3. Định hướng dạy học đoạn trích "Chí khí anh hùng" 81
2.3.1. Giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích “Chí khí anh hùng”
(theo ý kiến của các nhà nghiên cứu) 81
2.3.2. Phương án dạy học của SGV Ngữ văn 10 bộ cơ bản 85
2.3.3. Phương án dạy học của SGV Ngữ Văn 10 bộ nâng cao 86
2.3.4. Các phương án dạy học của một số sách tham khảo 88
2.3.5. Phương án dạy do luận văn đề xuất 90
Chƣơng III. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 92
3.1. Thiết kế bài học 92
3.2. Thiết kế bài học 100
3.3. Thiết kế bài học 106
3.4. Dạy học thực nghiệm 111
3.4.1. Mục đích thực nghiệm 111
3.4.2. Cách thức thực nghiệm 111
3.4.3. Kết quả dạy thực nghiệm 112
3.4.4. Kết luận chung về thực nghiệm 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ĐHSP : Đại học sư phạm
HS : Học sinh
GV : Giáo viên
THPT : Trung học phổ thông
THCS : Trung học cơ sở

với hi vọng có thể đóng góp thêm một tiếng nói nhỏ bé vào vấn đề dạy học
Truyện Kiều trong nhà trường. Từ đó với mong muốn tìm ra được những biện
pháp, khắc phục những khó khăn khi giảng dạy các văn bản đó. Trước hết
phục vụ cho chính mình, sau đó góp phần cùng bạn đồng nghiệp dạy tác phẩm
Truyện Kiều trong trường phổ thông đạt kết quả cao.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Nói về những sáng tạo nghệ thuật độc đáo và tài tình của cụ Nguyễn
Du trong Kiệt tác " Truyện Kiều" thì từ xưa đến nay nhiều người đã bàn đến.
Cuốn sách "Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm" (NXB Giáo dục. Trịnh Bá
Đình, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu) đã thống kê và
tuyển chọn khá đầy đủ về điều đó. Trong các công trình nghiên cứu đó,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
chúng tôi đặc biệt chú ý và tâm đắc nhất là cuốn "Tìm hiểu phong cách
Nguyễn Du trong Truyện Kiều" của nhà nghiên cứu Phan Ngọc. Chúng tôi
đã vận dụng những khám phá tinh tế và tài ba của cụ Phan Ngọc vào việc tìm
hiểu những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Du trong từng đoạn trích
vào sách giáo khoa văn học trong nhà trường.
2.2. Từ khi bộ sách Ngữ văn mới của Trung học phổ thông được thực
thi đại trà trong nhà trường (từ năm học 2006 - 2007), sách giáo viên Ngữ
văn (Bộ chuẩn và bộ nâng cao) đã gợi ý cho giáo viên về những sáng tạo
nghệ thuật tài tình của Nguyễn Du trong từng đoạn trích. Chúng tôi cũng vận
dụng những gợi ý đó vào việc giải quyết vấn đề ở luận văn này.
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo ý kiến của nhà nghiên cứu về Truyện
Kiều Lê Xuân Lít trong cuốn "Dạy và học Truyện Kiều - Những vấn đề
cần bàn" (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội - 2007) để bổ sung thêm vào các
thiết kế dạy học các đoạn trích Truyện Kiều trong sách giáo khoa Ngữ văn 10
nhằm phục vụ cho đề tài của luận văn.

6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Vận dụng phương pháp tổng hợp lý luận để tìm hiểu các công trình
nghiên cứu về dạy học Truyện Kiều trong nhà trường phổ thông.
6.2. Vận dụng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
6.2.1. Phương pháp thống kê
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu thu thập được
trong quá trình điều tra, khảo sát và quá trình thực nghiệm.
6.2.2. Phương pháp điều tra khảo sát
Sử dụng phương pháp này để tìm hiểu khả năng cảm thụ của học sinh
lớp 10 về tác phẩm Truyện Kiều. Từ việc nắm được thực trạng của việc dạy
học Truyện Kiều để nghiên cứu đề tài một cách sát thực, góp phần nâng cao
hiệu quả dạy học Truyện Kiều cho học sinh lớp 10 THPT.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
6.2.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm với tiền hành xây dựng
thiết kế bài học và dạy thực nghiệm đối chứng.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài (Cơ sở lý luận:
Những sáng tạo nghệ thuật độc đáo và tài tình của Nguyễn Du ở Truyện Kiều. Cơ
sở thực tiễn: Tình hình dạy học Truyện Kiều ngày nay ở các trường phổ thông).
Chƣơng II: Hƣớng dẫn học sinh tìm hiểu những sáng tạo nghệ thuật
độc đáo của Nguyễn Du trong từng đoạn trích ở sách giáo khoa Ngữ văn
10 (Gồm: định hướng dạy học cho từng bài, nội dung khai thác và phương
pháp tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động học tập ở từng bài).
Chƣơng III: Thực nghiệm sƣ phạm (Gồm: thiết kế bài học và dạy
thực nghiệm đối chứng ở một số trường THPT tại Vĩnh Phúc).

là tiền đề cho sự nghiệp sáng tạo văn học sau này của ông.
2. Ở tuổi ấu thơ và thiếu niên, Nguyễn Du được sống trong cảnh sống
giàu sang của gia đình quyền quý thời vua Lê, chúa Trịnh (cha ông giữ chức

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Tể Tướng, anh trai làm quan tới chức Tham Trung). Vì vậy ông có điều kiện
thuận lợi để học hành, dùi mài kinh sử và có dịp hiểu biết về cuộc sống phong
lưu, xa hoa của giới quý tộc phong kiến.
3. Do biến cố của lịch sử, Nguyễn Du rơi vào cuộc sống "Mười năm gió
bụi" đầy khổ cực (nhà Nguyễn sụp đổ, Nguyễn Du về sống ở quê vợ tại tỉnh
Thái Bình, sau đó vợ mất thì về quê cha ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh). Những trải
nghiệm ở cuộc sống phong trần này đã khiến cho Nguyễn Du có vốn sống
thực tế phong phú của dân nghèo cơ cực và học được lời ăn tiếng nói của dân
gian, thông cảm sâu xa với mọi kiếp người bị đày đọa.
4. Những năm cao tuổi ông ra làm quan cho triều đình nhà Nguyễn (làm
tri huyện, tri phủ, cần chánh điện học sĩ) ông được cử đi sứ sang Trung Quốc.
Chuyến đi này đã giúp ông được trực tiếp tiếp xúc với nền văn hóa Trung Hoa
và đặc biệt nâng tầm hiểu biết của ông về xã hội và thân phận con người.
Điều này để lại một dấu ấn sâu đậm trong những sáng tác văn thơ của ông.
Nguyễn Du đã sống một cuộc đời bi kịch. Xuất thân trong gia đình quý
tộc giàu sang, thế mà cơn lốc lịch sử đã hất đổ hết lầu son gác tía, đẩy ông vào
cuộc đời sống lay lắt, lưu lạc, tha hương. Nhưng bi kịch lớn nhất của ông là
từng khao khát một sự nghiệp vẫy vùng cho phỉ chí, mà rút cuộc phải chấp
nhận cuộc đời triền miên buồn chán, không có một hoạt động say sưa và nhất
quán vì lý tưởng nào cả. Nguyễn Du đã sống như một người dân thường giữa
thế gian và nhờ thế ông thông cảm sâu xa với mợi kiếp người bị đày đọa.
Nguyễn Du nhìn đời với con mắt của một người đứng giữa dông tố của cuộc
đời và điều đó khiến tác phẩm của ông hàm chứa một chiều sâu chưa từng có

Ban Nha, Italia, Hy Lạp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ả Rập,…
1.1.2. Những sáng tạo nghệ thuật độc đáo và tài tình của Nguyễn Du
trong Truyện Kiều
Theo giáo sư Phan Ngọc trong cuốn “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du
trong Truyện Kiều” thì Nguyễn Du có những sáng tạo nghệ thuật sau đây:
(Chúng tôi xin tóm lược các luận điểm chính của nhà nghiên cứu Phan Ngọc
và sắp xếp lại theo nhận thức của chúng tôi nhằm phục vụ cho luận văn).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
1.1.2.1. Sự sáng tạo nghệ thuật đầu tiên của Nguyễn Du ở Truyện Kiều là
thay đổi chủ đề của tác phẩm, chuyển chủ đề từ tình và khổ sang tài và mệnh.
Ai cũng cho rằng: tài mệnh tƣơng đố là một sáo ngữ, không có gì mới mẻ.
Nhưng không phải như vậy. Đây là lý thuyết của Nguyễn Du, ông vay mượn ở
chính thời đại của ông. Và cống hiến của Nguyễn Du là biến câu chuyện nhất
thời thành câu chuyện muôn đời. Nguyễn Du ở đây là một thiên tài.
1.1.2.2. Sự sáng tạo nghệ thuật thứ hai của Nguyễn Du ở Truyện Kiều là
ông sử dụng một phƣơng pháp tự sự riêng, không có trong “Kim Vân Kiều
truyện” cũng như trong truyện Nôm Việt Nam trước ông.
 Tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc chỉ có sự việc và sự việc. Nội
dung của câu chuyện chẳng qua chỉ là những mưu mô móc xích lại với nhau,
trong đó mỗi mưu mô đều có tính độc lập riêng và gồm rất nhiều tình tiết chi
li và tỉ mỉ. Bởi thế mỗi hồi đều có tính độc lập riêng của nó. Ngày xưa ở
Trung Quốc đã có người kể chuyện “Tam quốc chí diễn nghĩa” hay “Thủy
hử” để kiếm sống bằng cách kể lại một hồi hay nửa hồi trong một buổi sáng
từ quán trà này sang quán trà khác.
“Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân có cấu trúc như vậy,
nó là một chuỗi những mưu mô.
 Còn “Truyện Kiều” thì không có cấu trúc như vậy: mọi mưu mô đều

- Nó bắt ta phải nhớ một sự kiện trong nhiều hoàn cảnh: Nói đến chuyện
Kiều gặp Kim Trọng, ta lập tức nhớ đến Kiều có 4 lần gảy đàn chính (Kiều
gảy đàn cho Kim Trọng nghe lần thứ nhất, Kiều gảy đàn cho Hoạn Thư, cho
Hồ Tôn Hiến, cho Kim Trọng nghe lúc tái hợp). Biện pháp đối lập này làm
cho tự sự rất ít mà ý nghĩa lại sâu xa, phong phú. Bốn lần gảy đàn trong
những hoàn cảnh khác nhau của Kiều là bốn giai đoạn trong cuộc đời của
nàng và tiếng đàn là tiếng nói nội tâm của nàng.
- Nguyễn Du đã đổi mới hoàn toàn bố cục của “Kim Vân Kiều truyện”.
Các sự kiện chính trong “Kim Vân Kiều truyện” và trong Truyện Kiều về
căn bản là như nhau, nhưng quan hệ số lượng của chúng lại khác nhau?
Thí dụ: “Kim Vân Kiều truyện” có 20 hồi, hồi 19 kết thúc khi Kiều nhảy
xuống sông Tiền Đường. Toàn bộ câu chuyện tái hợp thu lại trong một hồi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Nhưng trong Truyện Kiều thì cái kết là mẫu mực của nghệ thuật. Nó
chiếm 606 câu, tức 12,5 % tác phẩm (tiểu thuyết xưa coi nhẹ cái kết. Trái lại,
kịch coi trọng cái kết). Lúc này bất chấp truyền thống, Nguyễn Du đưa ra cái
nhìn phi thường của mình. Bấy giờ, “Hoa tàn mà lại thêm tươi. Trăng tàn mà
lại hơn mười rằm xưa”. Nguyễn Du đem đến một sự “bù đắp” như Arixtốt đã
nói rất hay về nghệ thuật Hy Lạp. Người xem được hưởng sự bù đắp ấy. Tâm
hồn của Nguyễn Du cũng lớn như nghệ thuật của ông. Một người đàn bà
giang hồ là hiện thân của người đàn bà trong trắng, thủy chung của toàn bộ
giá trị của loài người thì trong tiểu thuyết Việt Nam xưa nay chỉ có một
người. Nguyễn Du đã nhìn Kiều với cặp mắt của Kim Trọng:
Như nàng lấy hiếu làm trinh
Bụi nào cho đục được mình ấy vay
Trời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời

Sượng sùng, giữ ý, rụt rè
Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu
- Tình yêu luôn luôn gắn liền với sự mất mát, với lo sợ, với cảm giác
rằng hạnh phúc rất mong manh, sớm chầy sẽ tan vỡ. Ngay trong đêm tự tình
với Kim Trọng, Kiều đã lo:
Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn,
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay?
Khi Thúc Sinh tỏ ý muốn lấy nàng, Kiều đã lo ngại về tình yêu của
Thúc Sinh.
Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng?
- Trong cách phân tích tình yêu của Truyện Kiều, là ở đây tình yêu hết sức
đa dạng. Quá trình diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều riêng trong vấn đề tình
yêu, thì sẽ thấy có bốn biểu hiện khác nhau. Trong mối tình của nàng đối với
Kim Trọng, đó là mối tình trong trắng đầu tiên của một cô gái. Trong đoạn
miêu tả mối tình của nàng với Thúc Sinh, đó là tình yêu tính toán trông đợi sự

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
nương tựa, nhưng không có yếu tố đắm say. Trong đoạn miêu tả tình yêu của
nàng với Từ Hải, chứa đựng sự tin cậy, thán phục đối với người tri kỷ. Sau này
gặp lại Kim Trọng, ta có một tình yêu khác, nặng về nghĩa, không mang tính
chất đắm say, một sự tôn trọng lẫn nhau đối với một người bạn quý.
- Nguyễn Du chứng minh người ta có thể cùng một lúc có nhiều mối tình
khác nhau. Về tính chất, Kiều yêu Từ Hải nhưng vẫn có thiện cảm với Thúc
Sinh và nhớ Kim Trọng.
- Truyện Kiều đã gây nên một xúc động lớn trong tâm hồn người Việt
Nam. Người ta vịnh Kiều, tập Kiều, học tập cách diễn đạt ngôn ngữ của Kiều.
1.1.2.5 Sự sáng tạo nghệ thuật thứ năm của Nguyễn Du trong Truyện
Kiều là nghệ thuật miêu tả tâm trạng

Thơ lục bát là thể thơ gồm từng cặp câu 6-8 lặp đi lặp lại không thay đổi
số chữ, trong đó câu lục chỉ có một vần ở chữ thứ 6, còn câu bát thì có hai
vần, một vần ở chữ thứ 6 hiệp với chữ thứ 6 của câu lục ở trên, một vần ở chữ
thứ 8 hiệp với chữ thứ 6 của câu dưới. Tất cả đều là vần bằng, không có vần
nào trắc, câu 8 như vậy là có hai vần bằng khác nhau, nếu vần này là phù bình
thì vần kia phải là trầm bình, nghĩa là chữ thứ 6 nếu không có dấu thì chữ thứ
8 phải có dấu huyền, ngược lại cũng vậy. Hai chữ đó không được cùng một
thanh điệu.
Thí dụ:
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau,
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Ở 4 câu trên chữ thứ 6 ở câu lục hiệp vần với chữ thứ 6 ở câu bát ta - là.
Chữ thứ 8 ở câu bát hiệp với chữ thứ 6 của câu lục ở dưới: nhau - dâu.Tất cả đều
là vần bằng (không dấu và dấu huyền). Riêng ở câu bát, nếu chữ thứ 6 là dấu
huyền thì chữ thứ 8 phải là chữ không dấu: là - nhau, hoặc ngược lại: đau - lòng.
 Câu thơ có hình thức đối xứng
Khi đặt câu thơ có khuynh hƣớng đối xứng thì có sự thay đổi trong
cách bố trí thứ tự các thanh điệu. Trong Truyện Kiều có một số lượng câu khá
lớn có hình thức đối xứng:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
- Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
- Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Trong những câu lục bát không đối xứng thì chữ thứ 4 ở câu lục và chữ

đặn, để tạo nên tính thống nhất của toàn khổ. Đó là khổ thơ tả cảnh thanh
minh, buổi chiều chị em ra về với những từ láy âm dồn dập.
Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dan tay ra về
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
Sè sè nấm đất bên đường
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
Đó là khổ thơ tả nỗi buồn của Thúy Kiều trên lầu Ngưng Bích với hai
chữ "buồn trông" được lập lại 4 lần. Đó là khổ thơ tả tâm trạng Kiều khi
bước vào lầu xanh với 4 chữ "sao" ở từng câu trong các kết hợp "khi sao",
"giờ sao", "mặt sao", "thân sao", tạo nên bốn câu hỏi mà không có tiếng
trả lời:
Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phòng gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?
Thứ hai, Nguyễn Du còn bố trí xen nhau, cứ một đoạn tự sự, lại đến
một đoạn phân tích nội tâm, sau một đoạn đối thoại là một đoạn miêu tả
thiên nhiên hoặc sự việc. Ông không kể hai chuyện liền nhau, trong đối thoại
không ngừng có sự phân tích nội tâm xen vào để tách đối thoại ra. Nhờ cách

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
làm này mà tính đơn điệu của thể lục bát dường như mất đi. Nguyễn Du

17
 Quy tắc hiệp vần trong thơ lục bát
* Quy tắc một: Những vần hiệp với nhau bao giờ cũng phải đồng
nhất về chung âm (âm cuối - một vần Việt Nam, gồm hai bộ phận chính là
nguyên âm và chung âm).
- Vần in có thể hiệp vần với ên, en (cùng chung âm - n)
"Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa"
- Ong có thể hiệp vần với ung, ông, uông (đồng nhất chung âm)
"Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen"
- Trong Tiếng Việt, chung âm bao giờ cũng chỉ có thể là một âm đơn,
nhưng trong chữ viết có khi viết thành hai con chữ.
Thí dụ: âm đơn ang viết với ng, inh viết với nh, ách viết với ch, chung
âm O viết với eo, ao, chung âm u viết với âu, au, chung âm y viết với ay, ây,
chung âm i viết với oi, ai. Đặc điểm tiêu biểu với chung âm là sau nó người ta
không thể thêm bất kỳ âm gì nữa. Chẳng hạn tai sau i không thể thêm gì nữa.
Trái lại trong tòa có thể thêm -n, -ng để có toàn, toàng
* Quy tắc 2: Sự hiệp vần của các nguyên âm theo quy tắc cùng dòng
(tức cùng âm sắc, cùng bổng hay trầm)
Một âm tiết Tiếng Việt chỉ có một nguyên âm mà thôi. Nguyên âm ấy có
thể là một nguyên âm đơn như a, ă, ơ, â, e, ê, i, u, ư, o, ô. Nó cũng có thể
nguyên âm đôi như iê (ia), ươ (ưa), uô (ua). Tuy vậy, nguyên âm đôi vẫn
hoạt động như nguyên âm đơn.
Tiếng Việt có tất cả 14 nguyên âm, được phân ra làm 3 loại theo âm sắc.
- Dòng trƣớc (bổng): i, iê (ia), ê, e.
- Dòng giữa (trung hòa): ư, ươ (ưa), ơ, â, a, ă.
- Dòng sau (trầm): u, uô (ua), ô, o.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trích đoạn Thiết kế bài học Kết luận chung về thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status