Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu - Pdf 12

ĐỀ TÀI:
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ THEO CHIỀU RỘNG VÀ ĐẦU
TƯ THEO CHIỀU SÂU
Giáo viên hướng dẫn: PGS TS Từ Quang Phương
TS Phạm Văn Hùng
Nhóm 14 :Đầu tư 49a
Ngô Đức Tâm
Nguyễn Anh Hùng
Nguyễn Tường Anh
Nguyễn Tuấn Anh
Vũ Đức Tuyến
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU RỘNG
VÀ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU SÂU, MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ
THEO CHIỀU RỘNG VÀ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU SÂU -------------4
I- Nội dung đầu tư theo chiều rộng :--------------------------------- 4
II- Nội dung đầu tư theo chiều sâu :----------------------------------- 6
III-Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều
sâu
1. ĐTCR và ĐTCS có mối uan hệ mật thiết với nhau , đan xen với
nhau trong sự tác động của thị trường --------------------------------9
2. Sự tác động 2 chiều giữa hai hinh thức đầu tư này ----------------12
3. Đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu là hai hình thức
theo cơ cấu tái sản xuất-------------------------------------------------16
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG,ĐẦU TƯ
CHIỀU SÂU VÀ VIỆC KẾT HỢP CHÚNG TẠI VIỆT NAM
I- Đầu tư chiều rộng
1. Thành tựu---------------------------------------------------------------19
2. Hạn chế ----------------------------------------------------------------27
II- Đầu tư chiều sâu

b, Nội dung của đầu tư theo chiều rộng:
+ Đầu tư theo chiều rộng là mở rộng quy mô sản xuất mà không làm tăng năng
suất lao động. Đó là đầu tư cho cả 4 yếu tố của đầu vào là lao động,vốn,công nghệ
và tài nguyên một cách tương xứng như nhau,theo 1 tỷ lệ như cũ để sản xuất theo
công nghệ hiện đại.
+ Đầu tư theo chiều rộng là hoạt động mua sắm máy móc thiết bị để đổi mới
thay thế cho những thiết bị cũ theo 1 dây chuyền công nghệ đã có từ trước.
+ Đầu tư theo chiều rộng là đầu tư xây dựng mới nhà cửa ,cấu trúc hạ tầng theo
thiết kế được phê duyệt lần đầu làm tăng thêm lượng tài sản vật chất tham gia vào
4
quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy vậy tính kỹ thuật của công trình đó vẫn dựa trên
những thiết kế có sẵn chưa được cải tạovà hiên đại hoá.
Như vậy thực chất của đầu tư theo chiều rộng là để mở rộng quy mô sản xuất
nhằm sản xuất 1 khối lượng sản phẩm lớn hơn nữa trên cơ sở xây dựng mới thêm
các hạng mục công trình như nhà xưởng sản xuất,thuê thêm nhiều nhân công để
đáp ứng khối lượng yêu cầu tăng thêm của sản xuất đào tạo cơ bản cho họ có thể
đáp ứng được công việc.
c, Ưu điểm và nhược điểm
+ Ưu điểm:
- Phát triển thêm về mặt công nghệ nhưng không làm thay đổi công nghệ hiện

- Tốc độ tăng của lao động thường là lớn hơn tốc độ tăng vốn.nên có thể huy
động dược nhiều việc làm cho người lao động.
+ Nhược điểm:
- Đầu tư theo chiều rộng đòi hỏi thời gian thực hiện đầu tư và thời gian huy
động vốn lâu: Do phải thi công nhiều hạng mục công trình cho nên quá trình thực
hiện đầu tư thường kéo dài,bên cạnh đó tác động của các yếu tố tự nhiên như thiên
tai , địa hình và các yếu tố tiêu cực cũng ảnh hưởng không ít đến thời gian thi
công.
- Đầu tư theo chiều rộng không dẫn đến tiết kiệm nguyên liệu và không làm

Đầu tư theo chiều rộng có hiệu quả càng nhiều thì doanh nghiệp càng có nhiều điều
kiện về vốn, lao động tài nguyên để phát triển sản xuất
II- Nội dung đầu tư theo chiều sâu
a, Khái niệm
- Theo quan điểm tái sản xuất của Mác, đầu tư theo chiều sâu là đầu tư nhằm
nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực.
6
- Theo quan điểm ngày nay, đầu tư theo chiều sâu là hoạt động đầu tư được
thực hiện trên cơ sở cải tạo nâng cao, đồng bộ hoá, hiện đại hoá, cơ sở vật chất kĩ
thuật hiện có, hoặc xây dựng lại hoặc đầu tư mới một dây chuyền công nghệ, xây
dựng một nhà máy mới nhưng kĩ thuật công nghệ phải hiện đại hơn kĩ thuật công
nghệ hiện có hoặc kĩ thuật trung bình của ngành, vùng nhằm duy trì năng lực đã có
b, Nội dung của đầu tư theo chiều sâu
- Xây dựng thêm hoặc mua sắm thêm những tài sản mới nằm trong thành phần
tài sản cố định có sẵn nhằm tăng cường khối lượng sản xuất.
- Đầu tư bố trí lại toàn bộ hoặc một bộ phận các dây chuyền sản xuất ở cơ sở
cho phù hợp với dây chuyền sản xuất mới.
- Hiện đại hoá là thực hiện tổng thể các biện pháp kĩ thuật nhằm cơ khí hoá, tự
động hoá các bộ phận sản xuất đang hoạt động, thay thế những thiết bị cũ đã hao
mòn hoặc lạc hậu bằng những thiết bị mới có năng suất, hiệu quả cao hơn
- Duy trì năng lực đã có của các cơ sở đang hoạt động là thực hiện các biện
pháp nhằm bù đắp các tài sản cố định đã bị loại bỏ do hao mòn hoặc lạc hậu bằng
các thiết bị mới có năng suất hoạt động và hiệu quả cao hơn
c, Ưu điểm và nhược điểm
+ Ưu điểm
- Đầu tư chiều sâu làm giảm chi phí sản xuất tăng năng suất lao động và nâng
cao hiệu quả đầu tư.
- Khối lượng vốn đầu tư không lớn. Đầu tư chiều sâu thường được thực hiện
theo trọng điểm, do đó chỉ tập trung vào một số yếu tố nhất định, do đó khối lượng
vốn đầu tư đòi hỏi không lớn và có thể thực hiện dễ dàng nhanh chónh hơn so với

Dl là phần đóng góp của lao động vào tăng trưởng GDP
TFP là phần đóng góp của tổng các yếu tố năng suất vào tăng trưởng
GDP ( Gồm đóng góp của công nghệ,cơ chế chính sách…)
8
Chỉ tiêu TFP có thể phản ánh được hiệu quả của đầu tư. TFP là quan hệ giữa
tổng đầu ra với đầu vào bao gồm cả các yếu tố không định lượng được như quản lí
và khoa học công nghệ. TFP là tỉ số giữa số lượng tất cả các đầu ra với số lượng
đầu vào. Trong hàm sản xuất Cobb-Douglas thì Y=A*K^a*L^(1-a) thì A chính là
TFP. Hay TFP=Y/ K^a*L^(1-a). Nâng cao TFP tức là nâng cao hơn hiệu quả sản
xuất với cùng đầu vào. Điều này rất quan trọng đối với doanh nghiệp và đối với
toàn bộ nền kinh tế. Đối với doanh nghiệp thì nâng cao TFP se giúp cho doanh
nghiệp có khả năng mở rộng được tái sản xuất. Còn đối với nền kinh tế thì sẽ nâng
cao được sức cạnh tranh trên trường quốc tê,nâng cao phúc lợi xã hội.
- Đối với doanh nghiệp đầu tư theo chiều sâu là chiến lược tồn tại và phát triển
lâu dài của doanh nghiệp.Sau 1 thời gian mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm chiếm
lĩnh 1 thị phần lớn hơn của sản phẩm trên thị trường hay sau nhiều chu kỳ kinh
doanh máy moác thiết bị của các doanh nghiệp bị hao mòn thì doanh nghiiệp cần
phải tiến hành đầu tư theo chiều sâu nhằm đổi mới lại thiết bị tăng cường hàm
lượng kỹ thuật công nghệ cho các yếu tố đầu vào .Có như thế sản phẩm của doanh
nghiệp làm ra mới luôn được đổi mới và nâng cao về chất lượng qua đó mới cạnh
tranh được với các đối thủ và có được chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Nhờ
đầu tư theo chiều sâu mà doanh nghiệp có thể nâng cao được năng suất lao động
nâng cao chất lượng sản phẩm,do đó có điều kiện giảm chi phí sản xuất,hạ giá
thành sản phẩm nhờ đó nâng cao dược khả năng cạnh tranh trên thị trường.
III/ Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều
sâu:
ĐTCR và ĐTCS là hai hình thức đầu tư hoàn toàn khác nhau nhưng lại có mối
quan hệ trặt trẽ không tách rời . Hai hình thức đó nối tiếp thúc đẩy lẫn nhau xuyên
suốt trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước cũng như mỗi doanh nghiệp .
Mỗi 1 hình thức sẽ thích ứng với từng thời kỳ phát triển kinh tế , từng loại hình đầu

giảm giá thành sản phẩm thì sản phẩm của doanh nghiệp sẽ nhanh chóng lạc
hậu và bị thị trường đào thải. Chiến lược tốt cho doanh nghiệp là kết hợp
đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu một cách hợp lý: ĐTCR
trước sau đó khi tích luỹ đủ vốn và thị trường đã bão hoà thì DN thực hiện
ĐTCS. ĐTCS tạo được lợi thế canh tranh, xác định được tên tuổi trên thị
10
trường, nhu cầu thị trường lại tăng lên về số lượng sản phẩm chất lượng đó,
khi đó DN lại đầu tư chiều rộng. Khi thị trường bão hoà DN lại đầu tư theo
chiều sâu, và quá trình đó lại tiếp tục, lập lại và liên tục trong suốt quá trình
hoạt động phát triển của DN
- Điều kiện cụ thể của doanh nghiệp :
+ Vốn : Đối với những doanh nghiệp mới thành lập lượng vốn ít chi cho cac
khoản cơ sở hạ tầng chiếm 1 phần lớn trong tổng vôn cua doanh nghiệp thi
việc lựa chọn hình thức đầu tư theo chiều rộng là hoàn toàn đúng đắn để tạo
nền tảng và tích lũy vốn cho mục tiêu phát triển về chiều sâu trong tương
lai . Ngươc lại đối với những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh ,
trường vốn thi họ hoàn toàn có thể kết hợp 2 hình thức đầu tư trên thực hiện
song song bổ trợ lẫn nhau . ĐTCS giúp tăng khả năng cạnh tranh tạo dựng
uy tín , khẳng định thương hiệu của doanh nghiệp kết hợp với đầu tư theo
chiều rộng để thâu tóm thị trường tiêu thụ , vươn xa tầm ảnh hương của công
ty tren thị trường
+ Lao dộng: sở hữu nguồn lao động dồi dào nhưng chất lượng lao đọng thấp
thì bắt buộc doanh nghiệp phải lựa chọn hình thức đầu tư theo chiều rộng ,
việc đầu tư theo chiều rộng sẽ tận dụng được tối ưu những ưu điểm của
nguồn lao đọng này từ đó trong quá trình hoạt động sản xuất kết hợp đào tạo
nâng cao tay nghề chuyên môn để đáp ứng việc vận hành các công nghệ cao
hiện đại hơn , khi đó doanh nghiệp mới có thể ĐTCS . Ngược lại nếu sở hữu
nguồn lao động chất lượng cao , khi đó để phát huy mọi ưu diểm khả năng
của nhân viên doanh nghiệp càn chú trọng đầu tư công nghệ cao , tạo dựng
môi trường làm việc hiện đại để tạo cảm hứng và phát huy hết mọi tiềm

tranh của những thị trường này la ko cao, cơ sở hạ tầng cũng như máy móc khá
đơn sơ, vốn để đầu tư chưa nhiều,do đó yêu cầu cần đầu tư theo chiều rộng trước
mắt là để đáp ứng đc tốt nhất về mặt lượng trong nhu cầu của nền kinh tế trên cơơ
sở đó xây dựng một nền tảng cơ bản cho tiến trình thực hiện :công nghiệp hoá,
hiện đại hóa .Tuy nhiên phát triển nền kinh tế theo chiều rộng củng cần phải có
tính quy hoạch và 1 mục tiêu rõ ràng đến một thời điểm nhất định sẽ taọ đc. 1 nền
tàng vưng chắc cho nền kinh tế ,không nên phát triển 1 cách tràn lan , tự phát điều
đó sẽ làm cho nên kinh tế trở nên lạc hạu chậm phát triển . khi 1 nền kinh tế đã tạo
12
đc 1 nền tảng cơ bản vững chắc thì nền kinh tế tất yếu sẽ chuyền sang phát triển
theo chiều sâu và việc đầu tư theo chiều sâu sau đó sẽ dễ dàng đạt hiệu quả cao.
* Đối với phạm vi doanh nghiệp :
Doanh nghiệp mới thành lập thì phần lớn là chưa có được những điều kiện tốt
về cơ sở hạ tầng , trang thiết bị kỹ thuạt giây truyền công nghệ có thể thiếu thốn
hoặc còn lạc hậu , thiếu vốn và đặc biệt việc tìm kiếm nguôn nhân lưc có trình độ
cao là vô cùng khó khăn .vì vậy việc đầu tư theo chiều rộng là lựa chọn tối ưu cho
sự phát triển của doanh nghiệp , phù hợp với định hướng phát triển của doanh
nghiệp va đưa ra đuọc cách quản lý tốt nhât dựa trên khả năng và tiềm lực ban đầu
của nhưng doanh nghiệp này đem lại được những hiệu quả nhất định trong việc
khai thác thị trường và tìm ra lối đi riêng mang bản sắc của doanh nghiệp. Trong
quá trình hoạt đông đó việc ĐTCR sẽ :
- Tạo điều kiện tích luỹ vốn để đầu tư theo chiều sâu :
Bước khởi đầu thường rất khó khăn , khi mới thành lập các doanh nghiệp muốn
hoạt động được thì trước tiên phải có cơ sở hạ tầng ( máy móc ,nhà xưởng , trang
thiết bị …) và luôn trong tình trạng khan hiếm vốn đầu tư để nâng cao chất lượng
sản xuất . Thời gian này chính những cơ sở hạ tầng ban đầu sẽ giúp cho việc sản
xuất hoạt động được liên tục, trôi chảy, nhờ đó nhà sản xuất có thể tích luỹ được
vốn để mở rộng kinh doanh hay đầu tư mới. Đến 1 thời điểm khi nhà đầu tư đã
tích luỹ đủ vốn cần thiết, bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng cũng như công nghệ trở nên
lạc hậu, thị trường đã bão hoà, khách hàng trở nên khó tính, tất yếu phải đầu tư

hoạt động sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường như xây dựng thêm nhà máy
mới, mua thêm dây chuyền sản xuất... với trình độ công nghệ như cũ. Tuy nhiên,
trước tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt buộc doanh nghiệp phải lưu ý đầu tư
theo chiều sâu để tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm của mình, như đổi mới công
14
nghệ, đổi mới cơ chế quản lý, hay nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân... Để
từ đó tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Mặt khác, hoạt động đầu tư
theo chiều rộng chỉ đem lại hiệu quả trong một giới hạn nhất định của công nghệ,
trình độ sản xuất. Nếu đầu tư theo chiều rộng quá mức sẽ làm cho doanh nghiệp
cồng kềnh mà hoạt động không hiệu quả thậm chí còn giảm năng suất, nhanh
chóng bị tụt hậu so với những doanh nghiệp cùng ngành.
2.2/ Đầu tư theo chiều sâu là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng
sản xuất, lại tiếp tục đầu tư theo chiều rộng :
- ĐTCS tạo dựng uy tín thương hiệu cho doanh nghiệp tiếp tục ĐTCR :
Tạo dựng uy tín thương hiệu là mục tiêu phát triển vô cùng quan trong của bất kỳ 1
doanh nghiệp kinh doanh nào . Nó là 1 trong những yếu tố quyết định về sự thành
bại của mỗi doanh nghiệp . đế gây dựng được uy tín trên thương trường thì mỗi
doanh nghiệp cần phải có những chiến lược đúng đắn , có định hương đầu tư hợp
lý có trọng tâm để nâng cao chất lượng sản phẩm đem lại cho khách hàng sự hài
lòng cao nhất trên mỗi sản phẩm của doanh nghiệp . Để có được điều đó thì không
có cách nào khác là doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư vào máy móc công nghệ ,
nâng cao chất lượng lao động , đầu tư có trọng điểm ( ĐTCS ) . khi uy tin thương
hiệu đã lên 1 tầm cao nhất định , nhu cầu của thị trường về sản phẩm của doanh
nghiệp mình ngày càng tăng khi đó doanh nghiệp cần phải mở rộng sản xuất , mở
rộng quy mô doanh nghiệp đầu tư theo chiều rộng để thâu tóm thị trường tăng khả
năng cạnh tranh lam tăng lợi nhuận tối ưu cho doanh nghiệp .
-ĐTCS tích lũy vốn nhanh chóng và tạo được nền tảng công nghệ hiện đại để ĐTCR
:
Đầu tư chiều sâu sinh lợi nhuận nhanh trong khi đó đầu tư chiều rộng đòi hỏi
lượng vốn lớn mà khả năng thu hồi vốn chậm .Vì vậy ĐTCS trước hết tạo vốn làm

3.1 / Tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng:
Đó là sự mở rộng quy mô sản xuất chủ yếu bằng cách tăng thêm các yếu tố đầu
vào (vốn, tài nguyên, sức lao động...)của sản xuất. Do đó, số sản phẩm làm ra
tăng lên. Còn năng suất lao động và hiệu quả sử dụng các yếu đầu vào không
thay đổi. Căn cứ vào định nghĩa ĐTCR thì đây chính là ĐTCR
+ Tái sản xuất của cải vật chất: ĐTCR là tăng vốn để mua thêm máy móc thiết
bị cùng loại với những máy móc thiết bị mà DN đã có hoặc sửa chữa bảo trì các
máy móc thiết bị của DN đã và đang dùng cùng với việc đó là xây dựng thêm
nhà xưởng( với công nghệ dây truyền như cũ), tăng nguyên vật liệu đầu vào sau
đó đưa chúng vào vận hành tạo ra số lượng sản phẩm nhiều hơn trước nhưng
chất lượng mẫu mã không thay đổi, công suất làm việc tính trung bình của từng
thiết bị là không thay đổi.
+ Tái sản xuất sức lao động: ĐTCR là thuê thêm lao động có cùng trình độ tay
nghề, kĩ năng với đội ngũ lao động trước đó, mức chi phí doanh nghiệp chi trả
cho mỗi công nhân hầu như không thay đổi do giá trị thặng dư của lao động tạo
ra là không đổi thậm chí là thấp hơn trước.
+ Tái sản xuất quan hệ sản xuất: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý sản xuất và
phân phối sản phẩm là hầu như không đổi.
+ Tái sản xuất môi trường sinh thái: ĐTCR không chú trọng đến vịêc xử lý
chất thải các công nghệ sản xuất tiên tiến hơn để bảo vệ môi trường vì vậy môi
trường thường có nguy cơ bị ô nhiễm.Hơn nữa ĐTCR sử dụng them nhiều
17
nguyên vật liệu, năng lượng mà khong có biện pháp kĩ thuật để tiết kiệm và
phục hồi do vậy còn dẫn tới nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên.
3.2 / Tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu :
Đó là sự mở rộng quy mô sản xuất làm cho sản phẩm tăng lên chủ yếu nhờ tăng
năng suất lao động và nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của sản
xuất. Còn các yếu tố đầu vào của sản xuất căn bản không thay đổi, giảm đi hoặc
tăng lên nhưng mức tăng chậm hơn mức tăng năng suất lao động và hiệu quả sử
dụng các yếu tố đầu vào. Điều kiện chủ yếu để thực hiện tái sản xuất mở rộng

ĐOẠN 2001-2009
I- Đầu tư chiều rộng
1. Thành tựu:
Trong 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều
thành tựu đáng kể. Từ năm 1986 đến nay kinh tế liên tục tăng trưởng. Đặc biệt là
từ năm 2000 trở lại đây mặc dù chịu nhiều tác động của kinh tế thế giới như khủng
19
hoảng tài chính châu Á,khủng hoảng tài chính toàn cầu 2009 nhưng kinh tế Việt
Nam vẫn tăng trưởng ấn tượng: Giai đoạn 2000-2009 tốc độ tăng bình quân hàng
năm hơn 7%
Năm 2009 dù nhiều nước bị suy thoái nhưng kinh tế Việt Nam vẫn tăng 5,32%
,GDP đạt mức 93,5 tỉ usd:
Bảng tổng sản phẩm trong nước giai đoạn 2005-2009
(Theo giá so sánh năm 1994,đơn vi tỉ đồng)
Năm Tổng sản
phẩm(tốc độ
tăng so với
năm ngoái)
Khu vực
nông,lâm
nghiệp và
thủy sản
Khu vực
công nghiệp
và xây dựng
Khu vực dịch vụ
2005 392996
(8,4%)
76874 157846 158276
2006 425135

Khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài
Giá thực tế nghìn tỷ đồng
2005 343,1 161,3 130,4 27,2
2006 521,7 208,1 184,3 129,3
2007 461,9 200 187,8 74,1
2008 637,3 184,4 203,0 189,9
2009 704,2 245,0 278,0 181,2
kinh tế tư nhân. Đặc biệt năm 2008 đánh dấu bước tăng đột biến của đầu tư nước
ngoài(189,9 nghìn tỉ năm 2008 so với 74,1 tỉ năm 2009) điều này cho thấy Việt
Nam là 1 địa điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tê. Tuy nhiên năm 2009
FDI có giảm đi đôi chút do các nhà đầu tư quốc tế bị ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu vừa qua. Trong năm 2009 vốn đầu tư của khu vực Nhà
nước, vốn từ ngân sách Nhà nước đạt 100,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 15,8% tổng vốn
đầu tư cả nước, bằng 102,8% kế hoạch năm. Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do
trung ương quản lý đạt 34,2 nghìn tỷ đồng, bằng 103% kế hoạch, trong đó Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 2881,4 tỷ đồng, bằng 172,9%; Bộ Giao
thông Vận tải đạt 6612,6 tỷ đồng, bằng 105,3%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
đạt 451,1 tỷ đồng, bằng 102,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 1132,5 tỷ đồng, bằng
101,1%; Bộ Công Thương đạt 237,7 tỷ đồng, bằng 100,3%; Bộ Y tế đạt 932 tỷ
đồng, bằng 100%; riêng Bộ Xây dựng chỉ đạt 219,9 tỷ đồng, bằng 62,6%.
Việc thi hành Luật doanh nghiệp mới từ năm 2000, đã tạo xung lực mới cho sự
phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Số lượng doanh nghiệp
ngoài nhà nước đăng ký hàng năm tăng lên nhanh chóng. Nếu năm 2001, có 19773
doanh nghiệp đăng ký với số vốn 25.610 tỷ đồng, thì năm 2005, có 45.162 doanh
nghiệp với số vốn lên tới 108.800 tỷ đồng. Năm 1996, các doanh nghiệp công
nghiệp ngoài nhà nước trong nước chiếm 23,5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp,
đến năm 2005, tỷ trọng này có thể lên đến gần 28%. Sự phát triển mạnh mẽ của
khu vực kinh tế này đã thu hút được lượng vốn lớn sẵn có trong nước vào đầu tư
phát triển và đóng góp vào xuất khẩu. Nếu năm 2001, vốn đầu tư của dân cư và tư

KCN& khu chế xuất đạt khoảng 44 tỷ $, tăng bình quân 32%/năm, giá trị xuất
khẩu đạt trên 21 tỷ $, tăng bình quân 32%/năm.
Nhìn chung, tốc độ phát triển đầu tư và sản xuất công nghiệp trong khu công
nghiệp đều cao hơn tốc độ phát triển chung của toàn bộ công nghiệp. Cùng với sự
hình thành các khu công nghiệp tập trung, nhiều địa phương đã xác định các khu
công nghiệp vừa và nhỏ với diện tích từ 10 ha đến 30 ha để giải quyết khó khăn về
mặt sản xuất, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong phát triển công
nghiệp nông thôn, đặc biệt là phát triển các làng nghề truyền thống.
Việc đâù tư mở rộng cơ sở sản xuất của các doanh nghiệp đều tăng qua các
năm. Điều này thể hiện ở kim nghạch nhập khẩu máy móc thiết bị hàng năm:
23
+ Năm 2009: nhập khâu 20,3 tỉ usd tăng 48,2 %
+ Năm 2008 : nhập khẩu 3,7 tỉ usd tăng 31,2 %
+ Năm 2007 : nhập khẩu 10,4 tỉ usd tăng 56,5 %
+ Năm 2006 : nhập khẩu 6,84 tỉ usd tăng 25.,6%
+ Năm 2005: nhập khẩu 5,5 tỉ usd
Việc đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng làm cho sản
lượng công nghiệp tăng đáng kể
Bảng 2.4: Sản lượng của một số ngành công nghiệp
Tên sản
phẩm
Đơn vị 1995 2000 2005 2009
Than sạch triệu tấn 8.3 11.6 32.6 43,7
Dầu thô triệu tấn 7.6 16.3 18.5 16,4
Vải lụa triệu mét 263 356 499 1034,6
Giấy bìa Nghìn
tấn
216 408 897 1633,0
Phân hoá học nghìn tấn 931 1210 2182 2386,5
Xi măng triệu tấn 5.8 13.3 27.8 47,7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status