Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
Mục lục:
Nhóm 14 – Kinh tế Đầu tư 49B.
1
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
A, Lời mở đầu:
Bước vào thế kỷ 21, vị thế nước ta trên thế giới là một quốc gia có nền
kinh tế đang phát triển, thu nhập bình quân trên đầu người được xếp vào
nhóm các quốc gia có thu nhập thấp (<825$ / người / năm). Trong cơ cấu
kinh tế, tỉ trọng ngành nông nghiệp còn cao, tỉ trọng ngành công nghiệp và
ngành dịch vụ còn thấp. Kĩ thuật công nghệ sản xuất chưa tiên tiến, thậm chí
lạc hậu, không theo kịp đà phát triển của khoa học công nghệ thế giới. GDP
bình quân đầu người thấp, chỉ đạt 400$/ người / năm (năm 2000). Vì các lẽ
đó, việc phát triển nền kinh tế là vô cùng cần thiết. Chính phủ đã đề ra định
hướng, chiến lược phát triển kinh tế đất nước, được thể hiện bằng những
biện pháp, chính sách cụ thể thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển phù hợp
với từng giai đoạn khác nhau. Kết quả trong giai đoạn 10 năm vừa qua 2000-
2009 cho thấy, định hướng phát triển kinh tế nước ta là đúng đắn. Điều đó
thể hiện ở tốc độ tăng trưởng hàng năm cao, trung bình giai đoạn 2000-2009
là 7,5%/ năm. Cơ cấu kinh tế được cải thiện, tỉ trọng ngành nông nghiệp
giảm dần, nhường chỗ cho ngành công nghiệp và dịch vụ. Kĩ thuật công
nghệ sản xuất dần được hiện đại hoá. GDP hang năm tăng. GDP bình quân
đầu người năm 2009 đạt 1074$/người, chính thức đưa nước ta thoát khỏi
nhóm các quốc gia có thu nhập thấp. Có được những thành công đó là nhờ
đóng góp lớn của hoạt động đầu tư phát triển. Nhưng bên cạnh những thành
công đó vẫn còn một số tồn tại. Câu hỏi đặt ra là hoạt động đầu tư phát triển
trong giai đoạn vừa qua đã đạt hiệu quả cao nhất chưa? Nếu chưa thì có thể
tăng hiệu quả đầu tư lên nữa được không? Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta cần
phải nghiên cứu hoạt động đầu tư phát triển. Nếu phân loại đầu tư phát triển
theo tính chất hoạt động đầu tư, thì chia ra thành 2 khía cạnh là hoạt động
đầu tư theo chiều rộng và hoạt động đầu tư theo chiều sâu. 2 hoạt động đầu
đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm.
+ Thời gian thực hiện đầu tư dài. Cần phải bố trí vốn và các nguồn
lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt
chẽ quá trình đầu tư, hạn chế thiếu vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản.
+ Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài. Cần quản lý tốt quá
trình vận hành để nhanh chóng đưa các thành quả đầu tư vào sử dụng.
Nhanh chóng hoạt động ở mức tối đa nhanh nhất để gia tăng năng suất, giảm
hao phí. Chú ý đến yếu tố trễ thời gian đầu tư.
+ Các kết quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình
xây dựng thường phát huy các tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên,
do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kì vận hành các kết quả đầu
tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng.
+ Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao. Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời
kì đầu tư kéo dài và có thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài
Nhóm 14 – Kinh tế Đầu tư 49B.
3
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
… nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao. Cần nhận
diện rủi ro, xem xét đánh giá mức độ rủi ro và xây dựng các biện pháp
phòng chống rủi ro.
I.1.1.3,Vai trò đầu tư phát triển đối với nền kinh tế, đối với doanh
nghiệp:
I.1.1.3.1, Đối với nền kinh tế:
- Tác động đến tổng cầu:
Vấn đề đầu tiên để tạo ra sản phẩm cho xã hội là cần có đầu tư.
Đầu tư chiếm tỉ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế.Theo số
liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm 24 đến 28% trong cơ cấu
tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới.Tác động của đầu tư đối với tổng
cầu thể hiện rõ trong ngắn hạn. Xét theo mô hình kinh tế vĩ mô, đầu tư là bộ
phận chiếm tỉ trọng lớn trong tổng cầu. Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, gia
suất nhân tố tổng hợp ,tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá ,nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh
tế…do đó nâng cao chất lượng của nền kinh tế.
Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởng
kinh tế thẻ hiện ở công thức tính hệ số ICOR.
Hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio - tỷ số gia tăng của vốn so
với sản lượng) là tỉ số giữa quy mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăng sản
lượng, hay là suất đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng (GDP)
tăng thêm.
ICOR = (Vốn đầu tư tăng thêm) / (GDP tăng thêm) = (Đầu tư trong kì) /
(GDP tăng thêm)
Chia cả tử và mẫu cho GDP :
ICOR = (Tỉ lệ vốn đầu tư/GDP) / (Tốc độ tăng trưởng kinh tế)
-> Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP phụ thuộc hoàn toàn vào vốn đầu
tư.
- Đầu tư phát triển tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế :
Cơ cấu kinh tế là cơ cấu của tông thể các yếu tố cấu thành nên kinh
tế, có quan hệ chặt chẽ với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và mặt
lượng, tùy thuộc mục tiêu của nền kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỉ trọng của
các bộ phận cấu thành nền kinh tế. Sự dịch chuyển xảy ra khi có sự phát
triển không đồng đều về quy mô, tốc độ giữa các ngành, vùng.
Đầu tư có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đầu
tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp quy luật và chiến lược
phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kì, tạo ra sự cân đối
mới trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, phát huy
nội lực của nền kinh tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực.
Nhóm 14 – Kinh tế Đầu tư 49B.
5
sản xuất xã hội: Đầu tư thương mại và đầu tư sản xuất.
- Theo thời gian thực hiện và phat huy tác dụng của các kết quả đầu
tư: Đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn.
- Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư: Đầu tư trực tiếp và đầu tư
gián tiếp.
- Theo nguồn vốn trên phạm vi quốc gia: Đầu tư bằng nguồn vốn
trong nước và đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài.
Nhóm 14 – Kinh tế Đầu tư 49B.
6
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
- Theo vùng lãnh thổ: Đầu tư phát triển của các vùng lãnh thổ, các
vùng kinh tế trọng điểm, đầu tư phát triển khu vực thành thị và nông thôn…
I.1.1.5, Hiệu quả đầu tư và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
đầu tư :
I.1.1.5.1, Khái niệm :
- Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh
giữa các kết quả kinh tế - xã hội đã đạt được của hoạt động đầu tư với các
chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kì nhất định.
I.1.1.5.2, Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của đầu tư:
- Thu nhập phản ánh được lượng hàng hoá mà doanh nghiệp đó
bán được cũng như lợi nhuận mà doanh nghiệp thu về.Khi thu nhập tăng thì
nhu cầu đời sống của người dân tăng lên, doanh nghiệp có thể tiêu thụ được
nhiều lợi nhuân hơn, hiệu quả đầu tư tăng lên. Và ngược lại nếu doanh
nghiệp không bán được hàng, không thu được lợi nhuận thì tức là đang đầu
tư không hiệu quả.
- Chi phí đầu tư sản xuất là biểu hiện bằng tiền của các chi phí mà
doanh nghiệp đã phải bỏ ra để tiến hành sản xuất trong 1 chu kì kinh doanh.
Chi phí đầu tư sản xuất phụ thuộc vào 2 yếu tố quan trọng là lãi suất và thuế.
Một dự án đầu tư trước tiên là phải cần có vốn đầu tư. Trên góc độ toàn bộ
nền kinh tế vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn
đó sản xuất được nhiều sản phẩm hơn : mở rộng nhà xưởng, thuê thêm nhân công …
I.1.2.1.3, Ưu và nhược điểm của đầu tư theo chiều rộng :
- Ưu điểm:
+ Nâng cao hàm lượng công nghệ trong sản xuất nhưng không thay đổi công
nghệ hiện tại.
+ Giải quyết được vấn đề thiếu việc làm cho người lao động vì luôn mở rộng
quy mô sản xuất.
- Nhược điểm:
+ Thời gian thực hiện đầu tư và huy động vốn lâu. Việc xây dựng mới nhiều
hạng mục công trình thường mất nhiều thơi gian, dễ bị ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài
như thiên tai, địa hình …
+ Đầu tư theo chiều rộng không làm tăng năng suất lao động, không tiết kiệm
được nguyên vật liệu.
+ Đòi hỏi các nhà đầu tư cần có 1 sự nghiên cứu thì truòng kĩ càng trược khi
đầu tư do cần một lượng vốn lớn mà lại luôn nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư.
+ Đầu tư theo chiều rộng có tính chất phức tạp và độ mạo hiểm cao. Xây mới,
lắp đặt nhiều công trình, máy móc mới gây trở ngại cho quá trình đầu tư. Xây dựng nhiều
công trình mới rất dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác tác động tiêu cực như thiên tai, bất
ổn trong nước …
Nhóm 14 – Kinh tế Đầu tư 49B.
8
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
I.1.2.1.4, Vai trò của đầu tư theo chiều rộng :
- Đối với nền kinh tế :
+ Góp phần giúp cho nền kinh tế tăng trưởng với quy mô lớn hơn trên co sở mở
rộng hệ thông cơ sở hạ tầng, mở rộng các khu công nghiệp, vùng kinh tế …
+ Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế, hỗ trợ cho các vùng
chậm phát triển, vùng sâu vùng xa hòa nhịp được với nhịp độ phát triển của cả nền kinh tế.
- Đối với doanh nghiệp :
Việc xây dựng, mở rộng nhà xưởng sản xuất làm cho quy mô sản xuất của
hiện theo trọng điểm nên chỉ tập trung vào một số yếu tố nhất định, khối lượng vốn đầu tư
không cần nhiều, dễ triển khai.
+ Thời gian thực hiện đầu tư theo chiều sâu tương đối ngắn hơn so với đầu tư
theo chiều rộng do không phải dàn trải trên nhiều công việc. Vì thế mà đầu tư theo chiều
sâu thường ít mạo hiểm và có độ rủi ro thấp hơn so với đầu tư theo chiều rộng.
+ Khả năng thu hồi vốn nhanh. Do khối lượng vốn đầu tư tương đối nhỏ, cộng
với việc trong quá trình triển khai đầu tư vẫn có thể sản xuất song song nên thu hồi vốn
nhanh chóng.
- Nhược điểm :
+ Tốc độ tăng vốn lớn hơn tốc độ tăng lao động. Trong điều kiện hiện tại, vấn
đề về lao động đang gặp rất nhiều khó khăn nên không thể đáp ứng kịp.
I.1.2.2.4, Vai trò của đầu tư theo chiều sâu :
- Đối với nền kinh tế nói chung:
+ Trong điều kiện hiện nay, đầu tư theo chiều sâu là điều kiện không thể thiếu
trong quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa nền kinh tế. Đầu tư theo chiều sâu nâng cao
mặt chất của nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động trên cơ sở cải tạo, nâng cao trình độ
của đội ngũ nhân công, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nhất là các nguồn lực khan
hiếm. Nghiên cứu tìm các nguyên liệu mới để thay thế các nguồn lực này, tăng cường hàm
lượng công nghệ trong các sản phẩm của nền kinh tế trên cơ sở sử dụng máy móc công
nghệ mới.
+ Đầu tư theo chiều sâu còn ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế :
g = Di + DI + TFP
Trong đó:
g là tốc độ tăng trưởng GDP
Di là phần đóng góp của vốn đầu tư vào tăng trưởng GDP
DI là phần đóng góp của lao động vào tăng trưởng GDP
TFP là phần đóng góp của tổng các yếu tố năng suất vào tăng trưởng GDP
( Gồm đóng góp của công nghệ,cơ chế chính sách…)
Thông qua chỉ tiêu TFP có thể phản ánh được hiệu quả của đầu tư. TFP là quan
hệ giữa tổng đầu ra với đầu vào bao gồm cả các yếu tố không định lượng được như quản lí
- Gần đây, khi đề cập đến hiệu quả đầu tư các chuyên gia thường dùng hệ số
ICOR.hệ số ICOR càng lớn thì hiệu quả đầu tư càng thấp và ngược lại.
- Hiệu quả đầu tư còn được tính theo cách lấy GDP chia cho vốn đầu tư hàng năm
(đều tính theo giá thực tế).
I.2, Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu:
I.2.1, Đầu tư theo chiều rộng là nền tảng để đầu tư theo chiều sâu:
- Trên quy mô của nền kinh tế:
Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế, các nước cần tập trung đầu tư
theo chiều rộng bởi cơ sở hạ tầng và máy móc trang thiết bị còn thiếu thốn nhiều,nguồn
vốn đầu tư lại quá eo hẹp,do đó yêu cầu cần đầu tư theo chiều rộng để tạo dựng cơ sở hạ
tầng cần thiết ban đầu cho quá trình phát triển sau này.Khi đầu tư theo chiều rộng đạt đến
một quy mô nhất định nếu vẫn tiếp tục đầu tư theo chiều rộng thì hiệu quả của đồng vốn
đầu tư sẽ giảm dần ,nền kinh tế tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới.Thưc
tiễn đòi hỏi muốn tiếp tục phát triển thì cần phải chuyền sang đầu tư phát triển theo chiều
sâu. Theo đó trong dài hạn cần từ bỏ quan điểm phải đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh
Nhóm 14 – Kinh tế Đầu tư 49B.
11
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
theo mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, tăng trưởng nhờ tăng vốn đầu tư, khai thác tài
nguyên thiên nhiên và sức lao động mà chuyển dần sang mô hình tăng trưởng dựa vào tri
thức và công nghệ. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
đầu tư. Trước hết là đầu tư cho khoa học công nghệ nhằm nâng cao trình độ khoa học công
nghệ, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn. Quá trình đầu tư phát triển
theo chiều sâu tiếp theo này dựa trên những kết quả mà quá trình đầu tư theo chều rộng
trước đó đã làm được.
Để nền kinh tế thực sự nâng cao tốc độ tăng trưởng đạt mức tiềm năng và cải thiện
chất lượng tăng trưởng, cần phải nỗ lực tạo ra và củng cố những nền tảng tăng trưởng đó.
Đây chính là tầm nhìn dài hạn trong tăng trưởng, cũng là nội dung quan trọng hàng đầu của
yêu cầu tiếp tục đổi mới tư duy và chuyển hướng tiếp cận đến mục tiêu tăng trưởng của
nền kinh tế đặt ra bức bách. Tăng trưởng từng bước chắc chắn nhưng cũng không thể quá
định thì cần chuyển trọng tâm sang đầu tư theo chiều sâu. Đầu tư theo chiều rộng để mở
rộng về quy mô: thay thế máy móc cũ, mở rộng hoặc xây dựng mới nhà xưởng, mở rộng
nâng cao năng lực sản xuất, như xây dựng thêm nhà máy mới (trình độ sản xuất tương
đương với nhà máy cũ)....Nhưng để tiếp tục tồn tại và phát triển trong một môi trường
cạnh tranh đầy khắc nghiệt như hiện nay đồng thời với đầu tư phát triển theo chiếu rộng
doanh nghiệp cần phải triển khai đầu tư theo chiều sâu để tăng tiềm lực của bản thân doanh
nghiệp mình: đầu tư mua quy trinh sản xuất hiện đại,tiến hành hợp lý hóa các hoạt động
sản xuất,đào tạo nâng cao trình độ của cả công nhân trực tiếp sản xuất lẫn các cán bộ quản
lý ...nhằm tăng năng suất ,tăng thêm tính năng mới, đặc điểm mới cho những sản phẩm đã
có,tạo ra những sản phẩm mới,giảm chi phí sản xuất. Đầu tư theo chiều rộng sẽ phát huy
hiệu quả rõ rệt khi mới ở trong những bước đầu của mỗi giai đoạn phát triển của doanh
nghiệp.Cũng giống như trên phạm vi nền kinh tế,nếu chỉ đầu tư theo chiều rộng mà không
đầu tư theo chiều sâu thì sẽ dẫn đến hậu quả là làm cho doanh nghiệp bị giảm tính cạnh
tranh trên thị trường .Đầu tư chiều rộng tràn lan , không đồng bộ, không có trọng tâm,
trọng điểm sẽ làm hạn chế vốn và nguồn lực của doanh nghiệp khi tiến hành đầu tư chiều
sâu.
I.2.2, Đầu tư theo chiều sâu tạo điều kiện để đầu tư theo chiều rộng ở cả những
khía cạnh cũ và mới:
Khi doanh nghiệp tiến hành các hoạt động đầu tư theo chiều sâu đúng hướng và đạt
hiệu quả cao thì sẽ thu được lợi nhuận rất lớn tạo ra được một lượng vốn lớn làm nền tảng
vững chắc, thuân lợi để tiến hành hoạt động đầu tư theo chiều sâu ở bước tiếp theo.Đồng
thời nó còn giúp đưa công nghệ của doanh nghiệp lên một mặt bằng trình độ công nghệ
mới, hiện đại hơn.
Ngoài ra, đầu tư theo chiều sâu còn có thể giúp doanh nghiệp phát hiện ra các mảng
thị trường mới giàu tiềm năng, hứa hẹn đem về một khoản lợi nhuận lớn mà các doanh
nghiệp khác chưa khám phá ra hoặc đang còn bỏ ngỏ. Nếu doanh nghiệp tận dụng thành
công cơ hội này thì nó sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô, lĩnh vực hoạt động, tạo ra
lợi thế của người đi trước trong các mảng thị trường mới đó. Tuy hoạt động nghiên cứu
phát triển nếu thành công thì sẽ đem lại lợi nhuận rất cao nhưng nó cũng đòi hỏi vốn rất
lớn yêu cầu đầu tư theo chiều sâu. Sau quá trình đầu tư theo chiều sâu doanh nghiệp áp
thu nhập của người dân.Lượng cầu đối với hàng hoá cấp thấp và hàng hoá thông thường sẽ
giảm dần,người dân sẽ có điều kiện tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ hàng hoá cấp cao,
hàng hoá xa xỉ, những hàng hóa có giá cả và chất lượng sản phẩm cao hơn. Khi đó cần tập
trung đầu tư theo chiều sâu. Hai hình thức đầu tư này tuy có những khác biệt tương đối
song chúng luôn gắn liền với nhau, đi kèm thúc đẩy lẫn nhau. Đầu tư theo chiều rộng
thường được tiến hành khi bắt đầu kinh doanh hoặc trong quá trình kinh doanh muốn mở
rộng quy mô. Đến một lúc nào đó dây chuyền công nghệ đã cũ, khó có thể duy trì năng
suất hiện có, chúng ta nên tiến hành đầu tư theo chiều sâu.Không một doanh nghiệp nào có
thể sử dụng một trong hai phương thức riêng lẻ, mà phải kết hợp giữa đầu tư theo chiều
rộng và đầu tư theo chiều sâu để đạt được hiệu quả tối đa.
Định hướng thay đổi mô hình tăng trưởng của nền kinh tế theo chiều sâu, có giá
trị gia tăng cao. Nếu không đi theo hướng này, thì nguy cơ lỡ nhịp "chuyến tàu thời đại"
trong cuộc đua nâng cao thứ hạng cạnh tranh của nền kinh tế trong thời gian tương lai là
đáng ngại, bởi nền kinh tế các nươc đang phát triển vẫn chủ yếu phát triển theo bề rộng,
với đặc trưng là dựa nhiều vào khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong khi đó,
nguồn lực này đang ngày càng cạn kiệt, nên không còn con đường nào khác,phải chuyển
hướng sang phát triển nền kinh tế theo chiều sâu với hàm lượng chất xám cao. Về phần
mình, bản thân các doanh nghiệp cũng cần năng động, sáng tạo triển khai tái cơ cấu. Hầu
Nhóm 14 – Kinh tế Đầu tư 49B.
14
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
hết doanh nghiệp đi lên bằng khai thác tài nguyên thiên nhiên, đầu tư vào những lĩnh vực
rủi ro và mang lại lợi nhuận trong ngắn hạn, thiếu các doanh nghiệp có giá trị cốt lõi vững
chắc, thiết lập được triết lý phát triển dài hơi, bài bản theo hướng chủ yếu dựa vào chất
xám, có giá trị gia tăng cao. Với vai trò là động lực chính cho sự tăng trưởng của nền kinh
tế, nếu các doanh nghiệp không sớm có chiến lược tái cơ cấu theo hướng trên, thì sẽ ảnh
hưởng đến mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững của nền kinh tế cả ở giai đoạn trước mắt,
cũng như lâu dài.
II, Chương II: Thực trạng phát triển đầu tư theo chiều rộng,
đầu tư theo chiều sâu và sự kết hợp giữa chúng tại Việt Nam:
30,7% so với năm 2001, vượt kế hoạch 12,5%. Năm 2003 là 3,6 tỷ USD và
vượt hơn 400 triệu USD so với mục tiêu đề ra, điều này không chỉ góp phần
đưa kim ngạch xuất khẩu nói chung của cả nước tăng 20% mà còn tạo cở sở
vững chắc cho sự tăng trưởng xuất khẩu cho những năm sau.
Về chất lượng, chất lượng tăng trưởng vẫn đang là vấn đề lớn đặt ra
đối với ngành dệt may Việt Nam. Với những cơ hội do hội nhập mang lại,
ngành dệt may Việt Nam hiện chủ yếu tham gia vào khâu gia công sản phẩm
cuối cùng với giá trị gia tăng thấp. Do vậy việc thâm nhập sâu rộng vào
chuỗi giá trị toàn cầu là hết sức cần thiết để ngành dệt may phát huy hơn nữa
vai trò trong phát triển nền kinh tế đất nước. Theo một đánh giá gần đây nhất
của ngành, chuỗi giá trị dệt may được chia làm 4 giai đoạn, cụ thể là:
- (1) Ý tưởng thiết kế là khâu có tỷ suất lợi nhuận cao trong chuỗi giá
trị thì lại là khâu yếu nhất của ngành may mặc Việt Nam. Chỉ khoảng 30%
giá trị xuất khẩu của ngành dưới dạng FOB (tức là có tham gia vào khâu ý
tưởng và thiết kế) còn lại xuất khẩu dưới hình thức gia công.
- (2) Công nghiệp phụ trợ, đến nay hơn 70% nguyên vật liệu đầu vào
phải nhập khẩu, theo đó ngành may mặc Việt Nam thường xuyên phải đối
mặt với nhiều khó khăn; chi phí nguyên liệu cao dẫn đến giá thành sản xuất
cao, giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm may mặc thông qua công cụ giá
Nhóm 14 – Kinh tế Đầu tư 49B.
16
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
cả, không chủ động trong kế hoạch kinh doanh, các doanh nghiệp sản xuất
chịu sức ép đáng kể từ các nhà cung cấp nguyên phụ liệu.
- (3) Sản xuất (gia công), khâu sản xuất có tỉ suất lợi nhuận thấp nhất
chỉ chiếm 5-10%. Song những năm qua, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn
đang tập trung khai thác các lợi thế ở công đoạn này. Đứng trên giác độ của
các chuyên gia kinh tế cho thấy, mặc dù tạo giá trị gia tăng không cao nhưng
giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có sức cạnh tranh hơn bởi các “cường
quốc may mặc”, họ cạnh tranh nhau khốc liệt ở giai đoạn thiết kế và phát
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
Trong 5 năm gần đây , toàn ngành đã tranh bị thêm được gần 20.000
máy may hiện đại các loại để sản xuất các mặt hàng sơ mi, jacket, đồ bảo hộ
lao động, áo phông các loại… cải thiện một bước chất lượng hàng may xuất
khẩu và nội địa. Ngành may liên tục đầu tư mở rộng sản xuất và đổi mới
thiết bị để đáp ứng yêu cầu chất lượng của thị trường thế giới. Các máy may
được sử dụng hiện nay phần lớn là hiện đại, có tốc độ cao (4.000-5.000
vòng/phút), có bơm dầu tự động, đảm bảo vệ sinh công nghiệp. Một số
doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền đồng bộ, sử dụng nhiều máy chuyên
dùng sản xuất một mặt hàng như đây chuyền may sư mi của May 10, đây
chuyền may quần đứng có thao tác bộ phận tự động theo chương trình, đây
chuyền sản xuất quần Jean có hệ thống máy giặt mài.
Việc sản xuất nguyên liệu bông từ các nguồn trong nước hiện đang thu hút
sự quan tâm đặc biệt. Hiện nay, Việt Nam chỉ có t5hể sản xuất hơn 3.000 tấn
bông/năm, đáp ứng được 5% nhu càu của ngành Dệt trong nước. Sợi tổng
hợp phải nhập khẩu hoàn toàn và sợi bong cho sản xuất hàng dệt kim cũng
phải nhập khẩu với số lượng lớn hàng năm. Hơn nữa, dù ngành hoá chất
trong nước tương đối phát triển nhưng 100% hoá chất nhuộm và hơn
80%hoá chất khác vẫn phải nhập khẩu. Như vậy vấn đề nguyên liệu chính là
vấn đề nan giải cho ngành dệt. Cho đến nay mặc dù cây bông Việt Nam có
những điều kiện thuận lợi để phát triển nhưng cơ chế và tổ chức thực hiện
còn lúng tong. Có tới 95% nguyên liệu chính(bông) phải nhập khẩu với giá
không ổn đinh. Hiện tại các doanh nghiệp Dệt vẫn phải chạy theo thị trường
mua bông theo kiểu mớ món, giá cả thất thường làm cho sản xuất kinh
doanh ở thế bị động và bất lợi.
- Nguyên liệu của ngành dệt may:
Đầu ra của dệt chính là đầu vào cho may hay nói cách khác là sản
phẩm của ngành Dệt chính là nguyên liệu cho ngành May. Nhưng nguyên
vật liệu trong nước (ngành Dệt) chưa đáp ứng được do chất lượng thấp, nên
phải nhập do đó rất bị động , thường không đồng bộ.Các sản phẩm Dệt
lượng cao hơn. Bên cạnh những mặt hàng truyền thống nhân dân mặc hàng
ngày, thông qua gia công cho các nước, các doanh nghiệp Việt Nam có điều
kiện làm quen với công nghệ may phức tạp, thời trang của thế giới. Có nhiều
chủng loại mặt hàng các doanh nghiệp đang sản xuất phục vụ tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu như:
+ Nhóm mặt hàng lót.
+ nhóm mặt hàng mặc thương ngày: sơ mi, quần âu,áo váy…
+ Nhóm quần áo thể thao: quần áo vải thun, quần áo Jean.
+ Nhóm thời trang hiện đại
+ Nhóm trang phục đặc biệt: Quân đội, Nội vụ, bảo hộ lao động cho
các loại ngành nghề.
Các chủng loại mặt hàng trên với nhiều chất liệu và phụ liệu, các
doanh nghiệp may đang thực hiện đơn hàng với nước ngoài và của các
ngành trong nước với tay nghề tốt, khéo léo nên sản phẩm sản xuất ra đạt
yêu cầu chất lượng của khách hàng. Tuy vậy, do còn thiếu các máy chuyên
dùng hiện đại phải dùng nhiều thao tác thủ công nên năng suất còn thấp so
với nhiều nước trên thế giới.Một số sản phẩm đòi hỏi máy móc chuyên dụng
Nhóm 14 – Kinh tế Đầu tư 49B.
19
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
tuy nhiên chúng ta chưa đầu tư mua sắm nên hạn chế trong khâu sản xuất: về
quy mô, chất lượng…
- Lao động ngành dệt may.
Nghề dệt may không đòi hỏi kĩ thuật cao siêu, điêu luyện nên ngành
rất dễ thu hút nhiều lao động. Đến nay cac doanh nghiệp Dêt may đã thu hút
hơn 500.000 lao động góp phần đáng kể trong việc giải quyết khó khăn về
việc làm cho người lao động. Tuy rằng lao động Việt Nam có đôi bàn tay
khéo léo, tiếp thu kiến thức mới nhanh nhưng do chưa được đào tạo bài bản,
hệ thống nên trình độ của họ còn rất hạn chế. Hơn nữa, do điều kiện làm
việc chuyên môn hoá cao nên cường độ lam việc căng thẳng trong khi tiền
II.2, Thực trạng đầu tư theo chiều sâu:
II.2.1, Đầu tư nguồn nhân lực.
Khi nói đến nguồn nhân lực, ai cũng biết rằng đó là một trong những
thế mạnh của nước ta và luôn được các nước trên thế giới quân tâm đến. Bởi
ở Việt Nam luôn sẵn có một lực lượng nhân công hùng hậu nhưng vô cùng
rẻ mạt, chính điều này đã giúp Việt Nam cạnh tranh được với các môi
trường đầu tư khác và kích thích các nhà đầu tư trên toàn thế giới đầu tư vào
nước ta. Nghe qua có vẻ lấy làm vui mừng khi Việt Nam trở thành 1 trong số
những sự lựa chọn hàng đầu của các nhà đầu tư trên toàn thế giới khi họ
muốn lựa chọn cho mình một điểm đến. Nhưng nếu nghĩ sâu xa thì chúng ta
cần phải đặt ra một câu hỏi rằng tại sao nhân công nuớc ta lại rẻ như thế, tại
sao không nâng tầm nhân lực nước ta lên tầm cao hơn để sánh ngang với
nhân công của các nước trong khu vực và trên thế giới. Chính vì vậy, để trả
lời các câu hỏi này, phải tìm hiểu xem nguồn nhân lực ở Việt Nam xuất phát
từ đâu và đang trong tình trạng nào?
- Nguồn nhân lực từ nông dân:
Tính đến nay, số dân của cả nước vào khoảng 86 triệu người, trong
đó, nông dân chiếm khoảng hơn 61 triệu người, bằng khoảng 71% dân số
của cả nước. Số liệu trên đây phản ánh một thực tế là nông dân nước ta
chiếm tỷ lệ cao về lực lượng lao động xã hội. Theo các nguồn số liệu thống
kê được, hiện nay, cả nước có khoảng 113.700 trang trại, 7.240 hợp tác xã
nông, lâm nghiệp, thủy sản; có 217 làng nghề và 40% sản phẩm từ các
ngành, nghề của nông dân được xuất khẩu đến hơn 100 nước. Như vậy, so
với trước đây, nông thôn nước ta đã có những chuyển biến tích cực.
Tuy nhiên, nguồn nhân lực trong nông dân ở nước ta vẫn chưa được
khai thác, chưa được tổ chức, vẫn bị bỏ mặc và từ bỏ mặc đã dẫn đến sản
xuất tự phát, manh mún. Người nông dân chẳng có ai dạy nghề trồng lúa. Họ
đều tự làm, đến lượt con cháu họ cũng tự làm. Có người nói rằng, nghề trồng
Nhóm 14 – Kinh tế Đầu tư 49B.
21
công nhân của khu vực ngoài nhà nước có khoảng 2,70 triệu, chiếm gần
60%. Xu hướng chung là lực lượng công nhân trong các doanh nghiệp nhà
Nhóm 14 – Kinh tế Đầu tư 49B.
22
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
nước ngày càng ít đi, trong khi đó, lực lượng công nhân của khu vực ngoài
nhà nước ngày càng tăng lên. Công nhân có tay nghề cao chiếm tỷ lệ rất thấp
so với đội ngũ công nhân nói chung. Trình độ văn hóa, tay nghề, kỹ thuật
của công nhân còn thấp. Số công nhân có trình độ cao đẳng, đại học ở Việt
Nam có khoảng 150 nghìn người, chiếm khoảng 3,3% so với đội ngũ công
nhân nói chung ở Việt Nam. Số công nhân xuất khẩu lao động tiếp tục tăng,
tuy gần đây có chững lại. Từ năm 2001 đến năm 2006, Việt Nam đã đưa
được gần 375 nghìn người lao động đi làm việc tại trên 40 nước và vùng
lãnh thổ, tăng gấp 4 lần so với thời kỳ 1996-2000 (95 nghìn người). Hiện
nay, lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài có khoảng 500 nghìn người,
làm việc tại trên 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề. Vì
đồng lương rẻ mạt, công nhân không thể sống trọn đời với nghề, mà phải
kiêm thêm nghề phụ khác như đi làm xe ôm trong buổi tối và ngày nghỉ, làm
nghề thủ công, buôn bán thêm, cho nên đã dẫn đến tình trạng nhiều người
vừa là công nhân, vừa không phải là công nhân. Trong các ngành nghề của
công nhân, tỷ lệ công nhân cơ khí và công nghiệp nặng còn rất thấp, khoảng
20% trong tổng số công nhân của cả nước, trong khi đó, công nhân trong các
ngành công nghiệp nhẹ, chế biến thực phẩm lại chiếm tỷ lệ cao, khoảng
40%. Sự già đi và ít đi của đội ngũ công nhân Việt Nam đã thấy xuất hiện.
Với tình hình này, công nhân khó có thể đóng vai trò chủ yếu trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Về mặt chính trị, thực chất,
công nhân Việt Nam chưa có địa vị bằng trí thức, công chức, viên chức, rất
khó vươn lên vị trí chủ đạo trong đời sống xã hội và trong sản xuất, kinh
doanh. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do sự quan tâm chưa đầy đủ
và chưa có chính sách có hiệu quả trong việc xây dựng giai cấp công nhân.
quốc gia trung học phổ thông năm học 2007-2008. Đầu năm 2008, Bộ Giáo
dục và Đào tạo Việt Nam đã trình lên Thủ tướng Chính phủ Việt Nam dự án
đào tạo 20 nghìn tiến sĩ trong giai đoạn 2007-2020 ở cả trong nước và ngoài
nước. Nhà nước đã dành một khoản ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo là
76.200 tỷ đồng, chiếm 20% tổng chi ngân sách nhà nước, tăng 14,1% so với
thực hiện năm 2007.
Bên cạnh nguồn nhân lực là trí thức trên đây, nguồn nhân lực là công
chức, viên chức (cũng xuất thân từ trí thức) công tác tại các ngành của đất
nước cũng tăng nhanh:
+ Tổng số công chức, viên chức trong toàn ngành xuất bản là gần 5
nghìn người làm việc tại 54 nhà xuất bản trong cả nước (trung ương 42, địa
phương 12).
+ Tổng số nhà báo của cả nước là 14 nghìn phóng viên chuyên
nghiệp và hàng nghìn cán bộ, kỹ sư, nghệ sĩ, nhân viên làm việc trong các cơ
quan báo chí và hàng chục nghìn người khác là cộng tác viên, nhân viên, lao
động tham gia các công đoạn in ấn, tiếp thị quảng cáo, phát hành, làm việc
tại 687 cơ quan báo chí, hơn 800 báo, tạp chí, báo điện tử, đài phát thanh,
truyền hình. Đội ngũ công chức, viên chức của ngành thuế Việt Nam hiện có
gần 39 nghìn người; ngành hải quan của Việt Nam là 7.800 người, ngành
kho bạc là 13.536 người.
Nhóm 14 – Kinh tế Đầu tư 49B.
25