Một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư xây dựng công nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nhị Chiểu tỉnh Hải Dương - Pdf 12

Trần Duy Hưng Đầu tư 46A
LỜI MỞ ĐẦU
Qua thực tiến của quá trình đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đạt
được những thành tựu đáng kể góp phần vào việc xây dựng và phát triển kinh tế đất
nước. Hoạt động của ngành ngân hàng nước ta đã góp phần tích cực vào việc huy
động vốn, mở rộng vốn đầu tư cho sản xuất phát triển, tạo điều kiện thu hút vốn đầu
tư nước ngoài để tăng trưởng kinh tế trong nước. Vấn đề thiếu vốn đã được đáp ứng
phần nào thông qua hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Có thể nói rằng muốn đạt hiệu quả cao khi cho vay thì việc thẩm định dự án
đầu tư là một khâu rất quan trọng trong quy trình nghiệp vụ cho vay của ngân hàng
thương mại. Làm tốt công tác thẩm định sẽ góp phần nâng cao chât lượng tín dung
của ngân hàng.
Thêm vào đó, hoạt động xây dựng cơ bản hiện nay cũng khá sôi nổi. Đó một
phần do tác động của quá trình hội nhập, nhu cầu về các công trình, giao thông, dịch
vụ tăng cao, vì thế mà vốn cần cho quá trình xây dựng cơ bản, xây dựng công nghiệp
là rất lớn.
Từ nhận thức trên, trong thời gian thực tập tại chi nhánh ngân hàng công
thương Nhị Chiểu tỉnh Hải Dương em đã chọn và nghiên cứu đề tài : “Một số giải
pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư xây dựng công nghiệp tại Chi
nhánh Ngân hàng công thương Nhị chiểu tỉnh Hải Dương”.
Bố cục đề tai gồm 3 chương:
- Chương I: Tổng quan về chi nhánh ngân hàng công thương Nhị Chiểu
tỉnh Hải Dương.
- Chương II: Thực trạng hoạt động thẩm định dự án đầu tư xây dựng
công nghiệp tại chi nhánh ngân hàng công thương Nhị Chiểu tỉnh Hải Dương.
- Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án
đầu tư tại chi nhánh ngân hàng Công thương Nhị Chiểu.
1
Trần Duy Hưng Đầu tư 46A
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG NHỊ CHIỂU – HẢI DƯƠNG

cơ chế thị trường, do nôn nóng đổi mới, do hệ thống luật pháp chưa đầu đủ, chưa
thích ứng được với yêu cầu đổi mới, do trình độ cán bộ còn non kém, không có kiến
thức về lĩnh vực kinh tế thị trường. Một sai lầm nghiêm trọng mà chi nhán Ngân hàng
công thương Nhị Chiểu nói riêng và một số chi nhánh thuộc hệ thống Ngân hàng
công thương nói chung là đã vấp phải trong dòng xoáy của quá trình đổi mới đó là sự
đổ bể của hoạt động tín dụng công đoàn, với hình thức huy đông vốn của đoàn viên
và cho đoàn viên vay vốn để để phát triển kinh tế gia đình.
Giai đoạn 1993-2003: Chấn chỉnh tổ chức bộ máy, phát triển hoạt động kinh
doanh, kinh doanh an toàn, hiệu quả đúng pháp luật.
Với bài học kinh nghiệm và những mất mát của 5 năm đầu khảo nghiệm trong sự
nghiệp đổi mới hoạt động. Chi nhánh NHCT Nhị Chiểu đã ý thức được vị trí vai trò
của mình trong hoạt động Ngân hàng trên địa bàn tỉnh. Chi nhánh đã chủ động sắp
xếp lại bộ máy, mạnh dạn bổ nhiệm đề bạt cán bộ trẻ có năng lực có trình độ, nhanh
nhạy với thực tế để thay thế cho lớp cán bộ lớn tuổi, lâu năm, trình độ và khả năng
không phù hợp với cơ chế điều hành mới. Với quyết tâm đổi mới, hoạt động kinh
doanh của chi nhánh NHCT Nhị Chiểu trong 10 năm qua (1994-2003) đã thành đạt,
trở thành một trong những chi nhánh có nhiều đóng góp cho hệ thống NHCT tỉnh Hải
Dương và cả hệ thống NHCT .
1.2. Chức năng, nhiệm vụ của chi nhánh.
Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nhị Chiểu là đơn vị trực thuộc của Ngân
hàng Công thương Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện một số nội dung thuộc chức
năng quản lý về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng trên địa bàn huyện Kinh Môn tỉnh
Hải Dương, và trực tiếp thực hiện một số nghiệp vụ ngân hàng theo sự ủy quyền của
Ngân hàng cấp trên. Tổ chức huy động vốn của mọi tổ chức và tâng lớp dân cư bao
gồm tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; tổ chức huy động tiết kiệm trong cộng đồng
người nghèo. Phát hành trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các
giấy tờ có giá khác; vay các tổ chức tài chính, tín dụng. Được nhận các nguồn đóng
góp tự nguyện không có lãi và các tổ chức chính trị – xã hội, các hiệp hội, các tổ
chức phi chính phủ trong và ngoài nước. Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả
3

1.3. Cơ cấu tổ chức và chức năng của các phòng ban.
4
Trn Duy Hng u t 46A
ng u iu hnh l Giỏm c ca chi nhỏnh, iu hnh bao quỏt cỏc cụng
vic ca chớ nhỏnh v cng trc tip ch o cỏc phũng ban. Giỏm c xem xột, quyt
nh v phờ duyt cỏc khon cp tớn dng ngn hn, trung hn, bo lónh Ph trỏch
cụng tỏc x lý n xu v n cú du hiu xu, cụng tỏc kim soỏt ni b ti chi nhỏnh,
ph trỏch giao dch vn liờn ngõn hng, cụng tỏc thanh toỏn quc t, chu trỏch nhim
v qun lý, giI quyt cỏc cụng vic phỏt sinh hng ngy liờn quan n hot ng ca
chi nhỏnh. Bờn cnh ú l cú hai Phú giỏm c, nhim v chớnh l tr giỳp cụng vic
cho giỏm c. Hai v Phú giỏm c ny hot ng ụi khi c lp vi cỏc phũng ban,
Giám đốc
Phó giám đốc Phó giám đốc
5
Phòng
khách
hàng
Phòng tài
chính
hành
chính
Phòng kế
toán giao
dịch
Phòng
tiền tệ
kho quỹ
Điểm giao dịch
Hoàng Thạch
Điểm giao dịch

- Theo dõi việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro theo quy định.
- Phán ánh kịp thời những vướng mắc trong nghiệp vụ và những vấn đề mới
nảy sinh, đề suất biện pháp giải quyết trình giám đốc chi nhánh xem xét, giải quyết.
1.3.1.2. Phòng khách hàng số 2
*Chức năng:
1.Phòng khách hàng số 2 là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với các doanh
nghiệp hoặc khách hàng là các doanh nghiệp Nhà nươc được Nhà nước cấp vốn và
vốn doanh nghiệp tự bổ xung có vốn chủ sở hữu .
2. Phòng có chức năng khai thác mọi nguồn vốn bằng NVĐ và ngoại tệ trong
các doanh nghiệp có giao dịch, thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến cấp tín dụng,
6
Trần Duy Hưng Đầu tư 46A
quản lý các sản phẩm cấp tín dụng phù hợp với chế độ tín dụng hiện hành và hướng
dẫn của NHCT Việt Nam nhằm đảm bảo an toàn vốn và hiệu quả.
*Nhiệm vụ:
1. Khai thác mọi nguồn tiền gửi từ khách hàng bao gồm VNĐ và ngoại tệ gửi
tại chi nhánh
2. Tiếp thị, hướng dẫn khách hàng gửi tiền và có nhu cầu được cấp tín dụng
theo đúng quy chế của NHNN và hướng dẫn của NHCT Việt Nam tại chi nhánh. Phối
hợp với phòng tổng hợp tiếp thị làm công tác khách hàng.
3. Tiếp nhận hồ sơ tín dụng của các doanh nghiệp (bao gồm cho vay, tài trợ
thương mại, thấu chi). Thẩm định và xác định mức tín dụng cho một khách hàng,
trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo trình tự phân cấp của NHCT Việt Nam.
4. Định kỳ phân tích tình hình sản xúât kinh doanh, tình hình tài chính của
doanh nghiệp để có những chính sách tín dụng phù hợp với từng doanh nghiệp trong
từng trường hợp cụ thể
5. Báo cáo phân tích tổng hợp...theo khách hàng, nhóm khách hàng và theo
sản phẩm dịch vụ
6. Theo dõi việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro theo quy định
7. Phán ánh kịp thời những vướng mắc trong nghiệp vụ và những vấn đề mới

12. Phản ánh kịp thời những vướng mắc trong nghiệp vụ và những vấn đề mới
nảy sinh, đề suất biện pháp giải quyết trình giám đốc chi nhánh xem xét phê duyệt.
1.3.2. Phòng kế toán giao dịch
*Chức năng:
Là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng tại trụ sở
chi nhánh, tổ chức hạch toán kế toán thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước và của NHCT Việt Nam. Phối hợp với các phòng nghiệp vụ tác nghiệp các
nghiệp vụ liên quan đến khách hàng và nội bộ ngân hàng
*Nhiệm vụ:
1. Thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng:
2. Phối hợp với các phòng có liên quan trong việc thu nợ, thu lãi, xây dựng và
lưu trữ hồ sơ khách hàng.
3. Đảm bảo an toàn bí mật các số liệu có liên quan theo quy định của Ngân
hàng.
1.3.3. Phòng kế toán tài chính, hành chính.
8
Trần Duy Hưng Đầu tư 46A
1.3.3.1 Phòng tài chính.
*Chức năng:
1. Phòng kế toán tài chính là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tài chính kế
toán của hoạt động Ngân hàng và chi tiêu nội bộ tại chi nhánh theo đúng quy định
của Nhà nước và của NHCT.
2. Phối hợp với các phòng nghiệp vụ tác nghiệp các nghiệp vụ liên quan đến
khách hàng và nội bộ ngân hàng.
*Nhiệm vụ:
1. Phối hợp với các phòng liên quan tham mưu cho giám đốc về kế hoạch và
thực hiện quỹ tiền lương, chi các quỹ theo quy định của Ngân hàng Nhà nươc và
NHCT phù hợp với mục tiêu phát triển kinh doanh của chi nhánh. Thực hiện việc chi
trả lương và các chế độ khách đối với người lao động tại chi nhánh.
2. Tổ chức hạch toán kế toán tài sản cố định, công cu lao động, kho ấn chỉ

việc, văn phòng phẩm phục vụ kinh doanh tại chi nhánh. Thực hiên theo dõi bảo
dưỡng, sửa chữa tài sản công cụ theo uỷ quyền.
6. Thực hiện công tác xây dựng cơ bản, nâng cấp và sửa chữa nhà làm việc
QTK, điểm giao dịch đáp ứng yêu cầu hoạt đông kinh doanh và quy chế quản lý đầu
tư xây dựng cơ bản của nhà nước và NHCT VN.
7. Quản lý và sử dụng xe ôtô, sử dụng điện, điện thoại và các trang thiết bị
khác của chi nhánh. Định kỳ bảo dưỡng là đầu mối xây dựng nội quy quản lý, sử
dụng trang thiết bị tại chi nhánh.
8. Tổ chức công tác văn thư lưu trữ, quản lý hồ sơ cán bộ theo đúng quy định
của nhà nước và NHCTVN. Cung cấp tài liệu lưu trữ cho ban giám đốc và các phòng
khi cần thiêt theo đúng quy định về bảo mật quản lý an toàn hồ sơ cán bộ.
9. Tổ chức thực hiện công tác y tế tại chi nhánh.
10. Chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để hội họp, hội thảo, sơ kết, tổng kết, và
ban giám đốc tiếp khách.
11. Thực hiện nhiệm vụ thủ quỹ các khản chi tiêu nội bộ cơ quan
12. Tổ chức công tác bảo vệ an toàn cơ quan. Phối hợp với các phòng kế toán
giao dịch, tiền tệ kho quỹ bảo vệ an toàn công tác hàng đặc biệt, phòng cháy, chống
bão lũ lụt theo đúng quy định của ngành và cơ quan chức năng.
10
Trần Duy Hưng Đầu tư 46A
1.3.4. Phòng tiền tệ kho quỹ
*Chức năng:
Phòng tiền tệ kho quỹ là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản lý
quỹ tiền mặt theo quy định của NHNN và NHCT ứng và thu tiền cho cac quỹ tiết
kiệm, các điểm giao dịch trong và ngoài quầy, thu chi tiền mặt trong các doanh
nghiệp có thu, chi tiền mặt lớn
*Nhiệm vụ:
- Quản lý an toàn kho quỹ (an toàn về tiền mặt VNĐ và ngoại tệ, thẻ trắng, thẻ
tiết kiệm , giấy tờ có giá, hồ sơ tài sản thế chấp…)theo đúng quy định của NHNN và
NHCT.

độ tăng chưa cao. Cụ thể về huy động nguồn vốn tại chi nhánh như sau:
Tính đến thời điểm 31/12/2007 tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh là:
311,7 tỷ đồng đạt 183,2% so KH NHCT Việt Nam giao
Trong đó: Tiền gửi doanh nghiệp nhà nước 141,7 tỷ đồng
Tiền gửi dân cư 170,3 tỷ đồng
*Tình hình biến động tiền gửi doanh nghiệp:
Về tiền gửi doanh nghiệp qua các năm đều tăng, năm 2006 so với năm 2005 là
18.2 tỷ đồng tốc độ tăng 34.5%. Nguyên nhân tăng chủ yếu do một số doanh nghiệp
lớn như Công ty Xi măng Hoàng thạch, Công ty khai thác chế biến đá và khoáng sản
Hải Dương về cuối năm tốc độ bán hàng và thu hồi tiền nhanh cho nên làm tăng
nhanh số dư tiền gửi tại ngân hàng. Đây là nguồn vốn tuy nó chỉ mang tính chất thời
điểm song cũng rất có lợi cho NHCT. Vì chi phí lãi suất mà NHCT phải trả cho
khách hàng là rất thấp.
Tính đến 31/12/2005 tổng nguồn vốn huy động huy động tại chi nhánh NHCT
12
Trần Duy Hưng Đầu tư 46A
Nhị Chiểu đạt 167,3 tỉ đồng, tăng 2,5 tỉ đồng và bằng 101,5% so với cuối năm 2004,
đạt 92,7% so kế hoạch được giao.
Trong tổng nguồn vốn huy động tính đến 31/12/2005 thì: Tiền gửi các tổ chức
kinh tế là 52,7 tỉ đồng tăng 9,6 tỉ đồng và bằng 122% so với năm 2004.
Tính đến thời điểm 31 tháng 12 năm 2006 tổng nguồn vốn huy động của chi
nhánh, đạt 202,3 tỷ đồng kể cả ngoại tệ quy đổi. Tăng 20,9% so với cùng kỳ năm
2005.
* Tình hình biến động tiền gửi trong dân cư:
Tiền gửi cửa dân cư năm 2004 là: 191,9 tỷ đồng năm 2005: 114,6 tỉ đồng,
giảm 77,3 tỉ đồng. Nguồn tiền gửi dân cư giảm là do giá cả thị trường có nhiều biến
động nên người dân đã rút vốn ra để đầu tư kinh doanh tiêu dùng, mặt khác do ảnh
hưởng của lãi suất tiền gửi của NHCT không hấp dẫn bằng các tổ chức tín dụng khác
trên địa bàn, dẫn đến việc huy động nguồn vốn bị giảm không đạt kế hoạch Ngân
hàng cấp trên giao. Năm 2006 nguồn vốn đạt 131.4 tỷ đồng tăng so với năm 2005 là

Nợ quá hạn đến 6 tháng 0,132 0,036
Nợ quá hạn 6 đến 12 tháng 0,008 0,004
Nợ quá hạn trên 12 tháng 0,011 0,001
Thu nhập, chi phí
Tổng thu nhập 21,1 33,5 84,8
Tổng chi phí 9,7 20,9 68,5
Chênh lệch ( thu – chi) đã TDPRR + 11,9 + 12,6 16,3
Tổng dư nợ đến 31/12/2004 của chi nhánh là: 184 tỉ đồng, tăng 77,3 tỉ so với
đầu năm, tốc độ tăng 72,4% đạt 107% so kế hoạch.
Trong đó: dư nợ cho vay kinh tế ngoài quốc doanh là 177 tỉ đồng tăng 74,5 tỉ đồng
so với đầu năm 2004.
Thực hiện sự chỉ đạo của Ngân hàng cấp trên và để phòng ngừa được rủi ro
chi nhánh NHCT Nhị Chiểu đã tích cực tăng trưởng cơ cấu nguồn vốn cho vay ngắn
hạn, trong tổng dư nợ cho vay. Để phù hợp với sự phát triển kinh tế của địa phương
và bảo toàn được vốn của chi nhánh. Cụ thể đầu năm 2003 dư nợ cho vay ngắn hạn là
21,4 tỉ đồng, chiếm 20%/tổng dư nợ, đến cuối năm 2003 dư nợ cho vay ngắn hạn
66,1 tỷ đồng chiếm 36% trên tổng dư nợ.
14
Trần Duy Hưng Đầu tư 46A
Trong tổng cho vay 184 tỉ đồng thì có 72 tỉ đồng dư nợ là do mở rộng địa bàn
vùng lân cận ngoài khu vực Nhị Chiểu, đã thu hút được 42 doanh nghiệp về với chi
nhánh chiếm 63% doanh nghiệp có dư nợ tại chi nhánh.
Bên cạnh việc tăng trưởng dư nợ Chi nhánh NHCT Nhị Chiểu đã luôn luôn
quan tâm, đến chất lượng tín dụng. Tính đến 31/12/2004 dư nợ quá hạn của chi nhánh
là 1.980 triệu đồng thì 1.786 triệu là nợ quá hạn của Xí nghiệp cơ khí thuỷ Hải
Dương tồn đọng từ năm 1993 đã hết thời gian giãn nợ chuyển sang nợ quá hạn. Nợ
quá hạn của cơ khí thuỷ đã được Ngân hàng nhà nước trình Chính Phủ xin xoá nợ.
Nợ quá hạn không tính Xí nghiệp cơ khí thuỷ Hải Dương thì nợ quá hạn của chi
nhánh chỉ còn 194 triệu đồng bằng 0,1% trên tổng dư nợ cho vay của chi nhánh,
trong đó chỉ có 16 triệu đồng là nợ quá hạn trên 12 tháng.

đồng, trong đó dư nợ ngắn hạn 66,1 tỷ đồng. Dư nợ trung hạn 117.8 tỷ đồng, dư nợ
dài hạn 0,1 tỷ đồng. Năm 2005 tổng dư nợ 243,2 tỷ đồng trong đó dư nợ ngắn hạn
112,1 tỷ đồng, dư nợ trung hạn127,8 tỷ đồng , dư nợ dài hạn 3,3 tỷ đồng. Năm 2006
tổng dư nợ 367,6 tỷ đồng trong đó dư nợ ngắn hạn 189 tỷ đồng, dư nợ trung hạn
157,9 tỷ đồng, dư nợ dài hạn và uỷ thác 20,7 tỷ đồng.
Năm 2007 tổng dư nợ tại thời điểm 31/12/2007 là: 756,3 tỷ đồng đạt 109% so
kế hoạch NHCT Việt Nam giao.
Trong đó: Cho vay ngắn hạn là: 325 tỷ đồng
Cho vay trung hạn : 431,3 tỷ đồng
Nợ quá hạn tại thời điểm này là: 934 triệu đồng chiếm 0,001% trên tổng dư
nợ.
Như vậy với NHCT Nhị Chiểu đã chủ động điều chỉnh cơ cấu dư nợ cho phù
hợp với tình hình chỉ đạo thực tế với xu hướng là tăng tỷ lệ cho vay ngắn hạn, giảm
tỷ lệ cho vay trung hạn và kết quả là dư nợ ngắn hạn tăng nhanh hơn dư nợ trung hạn
cụ thể:
Năm 2004 dư nợ ngắn hạn chiếm 35,9% trên tổng dư nợ.
Năm 2005 dư nợ ngắn hạn chiếm 46,09% trên tổng dư nợ.
Năm 2006 dư nợ ngắn hạn chiếm 51,41% trên tổng dư nợ.
Năm 2007 dư nợ ngắn hạn chiếm 42,98% trên tổng dư nợ
Nếu tính dư nợ phân theo thành phần kinh tế thì dư nợ ngoài quốc doanh với xu thế
chiếm đại đa số:
16
Trần Duy Hưng Đầu tư 46A
Năm 2004: 176,9 tỷ chiếm 96,1% trên tổng dư nợ
Năm 2005 : 238 tỷ chiếm 97,9% trên tổng dư nợ
Năm 2006: 365 tỷ chiếm 99,4% trên tổng dư nợ
Năm 2007: 732,9 tỷ chiếm 96,9% trên tổng dư nợ
Ngân hàng công thương Nhị Chiểu đẫ rất nhanh nhạy với sự chỉ đạo vì các
doanh nghiệp quốc doanh đa phần làm ăn kém hiệu quả trong cơ chế thị trường vì
tính cồng kềnh, tính thủ tục còn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì nhạy bén với

đồng, và chuyển tiền ra nước ngoài là 1 tỉ đồng. Thu dịch vụ là 370 triệu đồng, thu lãi
cho vay cả năm 12.900 triệu đồng.
Trong năm 2005 và năm tháng đầu năm 2006 NHCT Nhị chiểu còn mở rộng
thêm dịch vụ chuyển tiền nhanh (chuyển tiền ÊDEN) cho khách hàng từ nước ngoài
chuyển về, do vậy đã thu hút được một lượng khách hàng thường xuyên đến với NHCT
Nhị chiểu. Như vậy tính đa dạng hoá về sản phẩm dịch vụ đã được sự quan tâm chú ý
của khách hàng đây là điểm tích cực ngoài việc đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng còn
tăng thêm sự văn minh và thể hiện tính hiện đại hoá của ngành Ngân hàng.
Công tác thu nợ luôn được theo dõi thường xuyên, giữa kế toán và tín dụng luôn
có sự phối kết hợp , đôn đốc nhắc nhở khách hàng đảm bảo thu nợ , thu lãi kịp thời
hạn chế nợ quá hạn phát sinh. Đây cũng là một trong những nguyên nhân nâng cao
chất lượng tín dụng.
Cụ thể kết quả kinh doanh của chi nhánh, tính đến 31/12/2004 thu nhập trừ chi
phí đạt 11.373 triệu đồng tăng 6.850 triệu đồng gấp 2,5 lần so với năm 2003.
Tổng thu nhập tính đến 31/12/2006 của chi nhánh đạt 33,5 tỷ đồng
Tổng chi phí tính đến ngày 31/12/2006 là 20,9 tỷ đồng
Chênh lệch thu nhập từ chi phí đã trích dự phòng rửi ro là:+ 12,6 tỷ đồng
Xuất phát từ tăng trưởng tín dụng thì công tác tiền tệ kho quỹ trong những
năm qua chi nhánh thực hiện như sau:
Bảng thực hiện thu chi tiền mặt từ năm 2004 đến 2006
Đơn vị tính: tỉ đồng
Năm
Thu Chi Bội thu(+) bội chi (-)
2004 390 674 - 284
2005 477 746,8 - 269,8
18
Trần Duy Hưng Đầu tư 46A
2006 644,4 972,2 - 327,8
Bên cạnh công tác tín dụng và thanh toán công tác tiền tệ luôn được chi nhánh
coi trọng đây là nghiệp vụ truyền thống của ngành, việc luân chuyển tiền tệ qua quỹ

tăng lên một các đồng bộ của hệ thống của chi nhánh
2.3.3. Nghiệp vụ thanh toán quốc tế.
Hoạt động thanh toán quốc tế của chi nhánh hiện nay đã thực hiện đầy đủ các
nhiệm vụ của một ngân hàng hiện đại, với chất lượng dịch vụ, tiện ích cao đáp ứng
được yêu cầu vận động của nền kinh tế.
Tính đến ngày 31/12/2007 tổng giá trị thanh toán 83 món trị giá 4821nghìn
USD so với cùng kỳ năm trước tăng 16 món trị giá 202 nghìn USD
Trong đó: thanh toán hàng nhập khẩu 56 món trị giá 4514 nghìn USD; thanh
toán hàng xuất khẩu 27 món trị giá 307 nghìn USD
So với các năm trước , năm 2004 – 2005 nghiệp vụ thanh toán quốc tế tuy được lãnh
đạo chi nhánh khá quan tâm nhưng tổng giá trị thanh toán chưa được cao so với yêu
cầu, năm 2004 có tới 68 món giá trị nhưng trị giá là 1840 nghìn USD, năm 2005 tăng
lên 73 món giá trị với trị giá là 2704 USD.
Nhận xét: khối lượng nghiệp vụ phát sinh trong thanh toán quốc tế của chi
nhánh là không quá lớn. Tuy nhiên ngân hàng vẫn cố gắng đảm bảo không xảy ra sai
xót làm ảnh hưởng tới quyền lợi của khách hàng cũng như uy tín của chi nhánh nói
riêng và NHCT nói chung. Bên cạnh đó chi nhánh vẫn có sự tư vấn giúp khách hàng
lựa chọn phương thức thanh toán, điều tra thông tin khách hàng nước ngoài để tránh
rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu.
2.3.4. Công tác kiểm tra, kiểm soát
Để ngăn ngừa, phát hịên và chấn chỉnh, xử lý kịp thời những sai phạm trong
quá trình thực hiện các mặt nghiệp vụ nhằm đảm bảo an toàn vốn, bàng các hình thức
kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm soát từ xa, kiểm tra tại chỗ.
2.3.5. Nghiệp vụ tín dụng
Qua kiểm tra cho thấy chi nhánh đã cơ bản thực hiện tốt qui chế tín dụng,
nhưng vẫn còn một số sai sót trong hồ sơ DN như thiếu quyết định thành lập, báo cáo
tài chính một số doanh nghiệp nộp còn muộn, kiểm soát sau một số món còn sơ sài,
20
Trần Duy Hưng Đầu tư 46A
chưa kịp thời do vậy những sai sót này đã được chấn chỉnh ngay.

Trần Duy Hưng Đầu tư 46A
vật chất tinh thần được cải thiện, góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội tại địa phương
trong những năm qua.
Qua sự phân tích về tình hình hoạt động của chi nhánh trong một số năm gần
đây ta có thể bước đầu nhận thấy Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nhị Chiểu qua
từng năm có sự phát triển tương đối vững chắc, nhất là trong năm 2007, từ nguồn vốn
huy động, dư nợ và thu nhập đều tăng và với số lượng khá lớn. Điều này có thể hiểu
khi nền kinh tế nói chung của cả nước đang có sự tăng trưởng nhanh chóng, nhu cầu
về vốn là lớn của các nhà đầu tư ( tác động của việc gia nhập WTO ), một yếu tố nữa
là việc trên địa bàn hoạt động của chi nhánh xuất hiện thêm một số nhà máy xi măng
lớn sử dụng vay vốn Ngân hàng để đầu tư
Trong các năm trở lại đây Ngân hàng công thương chi nhánh Nhị Chiểu đã có
những bước phát triển rất đáng khích lệ và vững chắc, đạt mức tăng trưởng 37,5 %/
năm ( tính từ năm 2004 đến năm 2007 ). Đây là mức tăng trưởng cao so với mức tăng
chung của các chi nhánh trong hệ thống NHCT Việt Nam, góp phần tích cực trong
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh. Để tăng trưởng và đảm bảo nguồn vốn
kinh doanh , Chi nhánh đã thực hiện kết hợp đồng thời nhiều biện pháp như đa dạng
hóa các sản phảm huy động vốn, áp dụng mức lãi suất linh hoạt, cung cấp những sản
phẩm trọn gói,… Bên cạnh đó, việc xây dựng chiến lược khách hàng phù hợp cũng
giúp Chi nhánh thành công trong công tác huy động vốn. Trên cơ sở xác định đối
tượng khách hàng, Ngân hàng Công thương Nhị Chiểu đã xây dựng các giải pháp và
lựa chọn hình thức tiếp cận, giới thiệu sản phẩm sao cho phù hợp nhất. Đối với
những khách hàng thường xuyên duy trì số dư tiền gửi lớn, Chi nhánh sẵn sàng áp
dụng các hình thức chăm sóc đặc biệt như áp dụng một số hình thức khuyến khích,
giảm và tiến đến thu phí chuyển tiền.
Trong cho vay đầu tư, với phương châm tăng trưởng gắn liền với an toàn và
hiệu quả, Chi nhánh đã thực hiện “ đa dạng hóa đối tượng vay vốn, phương thức và
thể loại cho vay” nhằm phục vụ tối đa mọi nhu cầu của từng khách hàng, đồng thời
cũng hạn chế được nhiều rủi ro. Với chức năng trung gian tài chính, đi vay để cho
vay, vốn tín dụng của Chi nhánh Ngân hàng Nhị Chiểu đã góp phần nâng cao sức

dựng cơ bản, còn rất nhiều vấn đề bức xúc mà cả xã hội đều quan tâm, đặc biệt là
thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Tình trạng thất thoát, lãng phí vốn
đang tồn tại trong tất cả các khâu, từ khâu khảo sát, thiết kế đến khâu tổ chức đấu
thầu, quản lý các chủ đầu tư. Tỷ lệ thất thoát vốn đầu tư trung bình là hơn 10%, cá
biệt có công trình, dự án thất thoát đến 60%. Nhận biết được điều này, chi nhánh
ngân hàng Công thương Nhị Chiểu đã rất chú trọng vào viêc xem xét đầu tư, thẩm
định các dự án đầu tư xây dựng cơ bản.
Đặc điểm các dự án đầu tư xây dựng cơ bản được thẩm định :
- Các dự án thường khá lớn vì nó thường là các công trình sản suất sản
phẩm như là sản suất xi măng, gạch ốp lát, gạch chịu lửa,… Đặc điểm này
xuất phát từ đặc điểm vùng kinh tế, nơi có nhiều nguyên liệu sản suất các
sản phẩm công nhiệp ( đá vôi ).
- Đó là các dự án xây dựng đường giao thông, công trình dịch vụ, cầu đường .
24
Trần Duy Hưng Đầu tư 46A
- Dự án vay xây dựng cơ bản thường kéo dài từ 1 năm trở lên, do vậy ngân
hàng thường cho vay vốn theo từng giai đoạn của dự án.
Trong công tác quản lý và kế hoạch hóa đầu tư, các nhà quản lý thường phân
chia đầu tư theo các tiêu thức khác nhau. Trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản,
việc phân chia hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản theo những tiêu thức khác nhau
nhằm tạo thuận lợi cho việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản. Chi nhánh ngân hàng
Nhị Chiểu cũng vậy, chi nhánh đã xem xét cơ cấu đầu tư xây dựng cơ bản theo
ngành kinh tế. Trong thời gian qua, cùng với sự chuyển biến của nền kinh tế và của
cơ chế quản lý đổi mới, lĩnh vực đầu tư đã có những chuyển biến rõ rệt cụ thể là tại
ngân hàng các gói dự án mà ngân hàng thẩm định thường là về các công trình, các
dự án sản xuất công nghiệp. Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản chú ý, tập trung
xây dựng cơ sở hạ tầng và những công trình then chốt.
Cụ thể, việc phân chia vốn đầu tư xây dựng cơ bản mà chi nhánh ngân hàng
công thương Nhị Chiểu đã thẩm định cho vay hàng năm được chia theo các ngành
cơ bản trong nền kinh tế: nông nghiệp và thủy lợi, giao thông, công trình công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status