Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
3.2. Thời gian thẩm định.........................................................................................................39
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại là hệ thần kinh, trái tim của nền kinh tế, là dấu hiệu báo
hiệu trạng thái sức khoẻ của nền kinh tế. Các ngân hàng mạnh, nền kinh tế mạnh. Ngược
lại, các ngân hàng yếu, nền kinh tế sẽ yếu kém. Thậm chí nếu ngân hàng đổ vỡ nền kinh
tế sẽ lâm vào khủng hoảng và sụp đổ .
Với tư cách là tổ chức trung gian tài chính nhận tiền gửi và tiến hành các hoạt
động cho vay và đầu tư. NHTM đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội như là
người mở đường, người tham gia, người quyết định đối với mọi quá trình sản xuất kinh
doanh. NHTM ngày càng đóng vai trò là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán của
các thành phần kinh tế, là định chế tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế .
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Trong số
các nghiệp vụ kinh doanh của mình thì tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu và
cũng là nội dung chủ yếu của bản thân các nhân viên của toàn hệ thống. Đây là nghiệp
vụ tạo ra lợi nhuận cao nhất, nó chiếm khoảng 2/3 lợi tức nghiệp vụ ngân hàng có từ tiền
lãi cho vay. Nhưng đây cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Có vô số các rủi
ro khác nhau khi cho vay, xuất phát từ nhiều yếu tố và có thể dẫn đến việc không chi trả
được nợ khi đến hạn làm cho ngân hàng bị phá sản gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho
toàn bộ nền kinh tế
Quá trình phát triển của Việt Nam theo hướng CNH - HĐH theo chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của Đảng, của Nhà nước đòi hỏi việc triển khai ngày
càng nhiều các dự án đầu tư, với nguồn vốn trong và ngoài nước, thuộc mọi thành phần
Vũ Thị Thanh Nga Lớp : Kinh tế đầu tư 48B
1
Chuyên đề tốt nghiệp
kinh tế. Trong đó, nguồn vốn cho vay theo dự án đầu tư của NHTM ngày càng phổ biến,
cơ bản và quan trọng đối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và Chính phủ. Đó cũng đặt ra
một thách thức không nhỏ đối với các NHTM về sự an toàn và hiệu quả của nguồn vốn
cho vay theo dự án. Bởi vì, các dự án đầu tư thường đòi hỏi số vốn lớn, thời gian kéo dài
Em xin chân thành cảm ơn Ths. Trần Mai Hoa cùng toàn thể cán bộ
NHNo&PTNTVN chi nhánh huyện Kim Sơn đã hướng dẫn và giúp đỡ tận tình để em
hoàn thành chuyên đề thực tập của mình.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AGRIBANK (Vietnam Bank of Agriculture and Rural Development) : Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
NHNo&PTNTVN : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
BCTĐCV : Báo cáo thẩm định cho vay
CBTD : Cán bộ tín dụng
CNH-HĐH : Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
KHCB : Khấu hao cơ bản
NHCV : Ngân hàng cho vay
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NXB : Nhà xuất bản
PASXKD : Phương án sản xuất kinh doanh
Vũ Thị Thanh Nga Lớp : Kinh tế đầu tư 48B
3
Chuyên đề tốt nghiệp
TSĐB : Tài sản đảm bảo
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
UBND : Uỷ ban nhân dân
VLXD : Vật liệu xây dựng
XDCB : Xây dựng cơ bản
MỤC LỤC CÁC BẢNG BIỂU , SƠ ĐỒ
Hình 1.1 : Chức năng của ngân hàng thương mại.…………………………………….11
Hình 1.2 : Chu kì của dự án đầu tư……………………………………………………23
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ,
DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
I. N
GÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC NGHIỆP VỤ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.Ngân hàng thương mại là gì ?
Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính thực hiện chức năng kinh doanh
tiền tệ với nội dung cơ bản là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi đó để cho vay và cung ứng
các dịch vụ thanh toán.
2.Chức năng của ngân hàng thương mại
Hình1. 1 : Chức năng của ngân hàng thương mại:
Vũ Thị Thanh Nga Lớp : Kinh tế đầu tư 48B
6
Chuyên đề tốt nghiệp
2.1. Chức năng tạo tiền:
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân hàng
thương mại. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại
và phát triển của mình, các ngân hàng thương mại với nghiệp vụ kinh doanh mang tính
đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. các
nghiệp vụ kinh doanh đặc thù ấy chính là nghiệp vụ tín dụng và đầu tư trong mối liên hệ
chặt chẽ với ngân hàng trung ương.
2.2. Chức năng tạo cơ chế thanh toán:
Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi
trả tiền theo lệnh của chủ tài khỏan. Khi các khách hàng gởi tiền vào ngân hàng, họ sẽ
được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng
tiện lợi, nhất là đối với các khoản thanh toán có giá trị lớn, ở mọi địa hương mà nếu
khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn .
Trong hoạt động buôn bán quốc tế do có sự khác nhau về hệ thống tiền tệ mỗi
nước, năng lực tài chính của người mua, người bán nên các ngân hàng thương mại cần
thiết cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế đối với hoạt động ngoại thương như:
chiết khấu hối phiếu, bảo lãnh, tín dụng thư, mua bán séc du lịch.
2.6. Chức năng ủy thác:
Thu nhập tăng lên tạo khả năng tích lũy lành mạnh, mỗi cá nhân có thể tích lũy
một khối lượng lớn tài sản. Các văn phòng ủy thác cung cấp nhiều dịch vụ đối với các
công ty, một trong các dịch vụ đó là công việc quản lý tiền hưu trí và việc thực hiện dịch
Vũ Thị Thanh Nga Lớp : Kinh tế đầu tư 48B
8
Chuyên đề tốt nghiệp
vụ này phát triển nhanh chóng trong thời gian gần đây. Văn phòng ủy thác còn là đại
diện phát hành và quản lý trái phiếu cho các công ty.
2.7. Chức năng bảo quản an toàn vật có giá:
Nhờ ưu thế của các ngân hàng thương mại là nơi kiên cố dùng để bảo quản tiền
bạc và các vật có giá khác của bản thân ngân hàng, các ngân hàng thương mại có điều
kiện thực hiện các chức năng bảo quản an toàn vật có giá của khách hàng.
Công việc bảo quản vật có giá được phân thành hai bộ phân khác nhau trong một
ngân hàng: cho thuê két sắt bảo quản, ký thác và trực tiếp bảo quản vật có giá của khách
hàng.
Chức năng bảo quản chỉ diễn ra ở các ngân hàng lớn và các chứng khoán của các
tổ chức tài chính và phi tài chính bao giờ cũng được bảo quản ở các ngân hàng thương
mại. Ngoài ra, ngân hàng còn làm dịch vụ thu lãi chứng khoán và tự động chuyển lãi vào
tài khoản của khách hàng có tại ngân hàng.
2.8. Chức năng môi giới:
Các ngân hàng đều thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán, tức dịch vụ lưu giữ
bảo quản và giúp khách hàng thực hiện quyền đối với chứng khoán do họ sở hữu.
Do có nhiều kinh nghiệm tích lũy ngân hàng đã mua lại các công ty môi giới
chứng khoán. Tuy nhiên để hạn chế rủi ro đầu cơ chứng khoán có thể gây ra khủng
hoảng trong hệ thống ngân hàng mà chính phủ luôn luôn kiểm soát chặt chẽ sự tham gia
của séc và thẻ tín dụng. Ngày nay, nghiệp vụ bảo quản vật có giá trị cho khách hàng
thường do phòng “Bảo quản” của ngân hàng thực hiện .
Tài trợ các hoạt động của Chính phủ : Thông thường, ngân hàng được cấp giấy
phép thành lập với điều kiện là họ phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất
định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được.
Cung cấp các tài khoản giao dịch :Tài khoản tiền gửi giao dịch (demand
deposit) – một tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc
mua hàng hóa và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi này được xem là một trong
những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng bởi vì nó cải thiện đáng kể
hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng
hơn, nhanh chóng hơn và an toàn hơn.
Cung cấp dịch vụ ủy thác. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện việc
quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp thương mại.
Theo đó ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy mô họ quản lý. Chức
năng quản lý tài sản này được gọi là dịch vụ ủy thác (trust service). Hầu hết các ngân
Vũ Thị Thanh Nga Lớp : Kinh tế đầu tư 48B
10
Chuyên đề tốt nghiệp
hàng đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ ủy thác thông thường cho cá nhân, hộ gia đình; và
ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp.
Thông qua phòng Ủy thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết kiệm các khoản tiền
để cho con đi học. Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khoản tiền đó cho đến khi khách hàng
cần. Thậm chí phổ biến hơn, các ngân hàng đóng vai trò là người được ủy thác trong di
chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các
tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả, và đảm bảo cho người thừa kế hợp pháp việc nhận
được khoản thừa kế. Trong phòng ủy thác thương mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu
tư chứng khoán và kế hoạch tiền lương cho các công ty kinh doanh. Ngân hàng đóng vai
trò như những người đại lý cho các công ty trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái
phiếu. Điều này đòi hỏi phòng ủy thác trả lãi hoặc cổ tức cho chứng khoán của công ty,
thu hồi các chứng khoán khi đến hạn bằng cách thanh toán toàn bộ cho người nắm giữ
các nhà thầu, là thành viên của công ty sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia của các
nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro. Những ví dụ nổi bật về loại hình công ty đầu tư này là
Bankers Trust Venture Capital anh Citicorp Venture,Inc
Bán các dịch vụ bảo hiểm. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm
tín dụng cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hòan trả trong trường hợp khách hàng
vay vốn bị chết hay bị tàn phế . Hiện nay, ngân hàng thường bảo hiểm cho khách hàng
thông qua các liên doanh hoặc các thỏa thuận đại lý kinh doanh độc quyền theo đó một
công ty bảo hiểm đồng ý đặt một văn phòng đại lý tại hành lang của ngân hàng và ngân
hàng sẽ nhận một phần thu nhập từ các dịch vụ ở đó.
Cung cấp các kế hoạch hưu trí: Phòng ủy thác ngân hàng rất năng động trong
việc quản lý kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao động, đầu
tư vốn và phát lương hưu cho những người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế. Ngân hàng cũng
bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi cho đến khi
người sở hữu các kế hoạch này cần đến.
Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán. Trên thị trường tài chính
hiện nay, nhiều ngân hàng đang phấn đấu để trở thành một “bách hóa tài chính” thực sự,
cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn mọi nhu cầu tại một
địa điểm. Đây là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch
vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và
các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán.
Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp. Do ngân hàng cung cấp các tài khoản
tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã hướng tới việc sử dụng
Vũ Thị Thanh Nga Lớp : Kinh tế đầu tư 48B
12
Chuyên đề tốt nghiệp
cái gọi là sản phẩm đầu tư (investment products) đặc biệt là các tài khoản của quỹ tương
hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp triển vọng thu nhập cao hơn tài khoản
tiền gửi dài hạn cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt
đầu từ một ngày nhất định trong tương lai ( chẳng hạn ngày nghỉ hưu). Ngược lại, quỹ
tương hỗ bao gồm các chương trình đầu tư được quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm
1.Sự cần thiết phải tiến hành các hoạt động đầu tư theo dự án
Đầu tư phát triển có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia , là
một lĩnh vực hoạt động nhằm tạo ra và duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật chất kĩ
thuật của nền kinh tế . Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ , hoạt động đầu tư
là một bộ phận trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tăng thêm cơ sở vật chất kĩ
thuật mới , duy trì sự hoạt động của cơ sở vật chất kĩ thuật hiện có , và vì thế là điều kiện
để phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ của các doanh nghiệp .
Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu tư
khác đó là :
1. Đầu tư phát triển có quy mô vốn, vật tư, lao động cần thiết thường rất lớn.
2. Đầu tư phát triển có thời kỳ đầu tư kéo dài.
Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành
và đưa vào hoạt động. Nhiều công trình đầu tư phát triển có thời gian kéo dài hàng
chục năm.
3. Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài
Thời gian vận hành các kết quả đầu tư tính từ khi công trình vào hoạt động cho
đến khi hết thời gian sử dụng và đào thải công trình. Nhiều thành quả đầu tư có thể
phát huy tác dụng lâu dài và có thể tồn tại vĩnh viễn theo thời gian như Kim Tự Tháp,
Nhà thờ La Mã…
4. Các thành quả của hoạt đầu tư phát triển mà là các công trình xây dựng
thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên do đó quá trình thực
hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng của các
nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng.
5. Đầu tư phát triển có độ rủi ro
Vũ Thị Thanh Nga Lớp : Kinh tế đầu tư 48B
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Do quy mô đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết
quả đầu tư cũng kéo dài…nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường
cao
•Các hoạt động : Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để
tạo ra các kết quả nhất định . Những nhiệm vụ hoặc những hành động này cùng với một
lịch biểu và sự phân công trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế
hoạch làm việc của dự án .
•Các nguồn lực : về vật chất , tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt
động của dự án . Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho
dự án .
2.2. Công dụng
Đối với các cơ quan quản lí Nhà nước và các định chế tài chính : dự án đầu tư
là cơ sở để thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư , thẩm định để chấp nhận sử dụng vốn
của Nhà nước , để ra quyết định đầu tư , quyết định tài trợ vốn cho dự án
Đối với chủ đầu tư :
-Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng nhất để quyết định bỏ vốn đầu tư
-Là cơ sở để xin phép được đầu tư (hoặc được ghi vào kế hoạch đầu tư) và cấp giấy
phép hoạt động .
-Là cơ sở để xin phép được nhập khẩu máy móc thiết bị , xin hưởng các khoản ưu
đãi trong đầu tư .
-Là phương tiện để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư
-Là phương tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ
hoặc cho vay vốn .
-Là căn cứ quan trọng để xem xét giải quyết các mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa
vụ giữa các bên tham gia liên doanh , giữa liên doanh và Nhà nước Việt Nam . Đây cũng
là cơ sở pháp lí để xét xử khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh.
3.Đặc trưng của một dự án đầu tư
Dự án đầu tư có những đặc trưng cơ bản :
-Dự án có mục đích , mục tiêu rõ ràng .
-Dự án có chu kì phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn .
-Dự án có sự tham gia của nhiều bên như : chủ đầu tư , nhà thầu , cơ quan quản lí
cung cấp dịch vụ trong đầu tư , cơ quan quản lí Nhà nước .
-Sản phẩm dự án mang tính đơn chiếc , độc đáo
-Dự án nhóm B
-Dự án nhóm C
Đối với các dự án đầu tư nước ngoài được chia thành 3 nhóm :
-Dự án nhóm A
Vũ Thị Thanh Nga Lớp : Kinh tế đầu tư 48B
17
Chuyên đề tốt nghiệp
-Dự án nhóm B
-Các dự án phân cấp cho các địa phương
4.6. Xét theo nguồn vốn
Dự án đầu tư có thể phân chia thành :
-Dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
-Dự án đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước , vốn tín dụng
do nhà nước bảo lãnh và vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhà nước .
-Dự án đầu tư sử dụng các nguồn vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân
-Dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗn hợp
5.Chu kì của một dự án đầu tư
Chu kì của dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phảỉ trải
qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ cho đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt
hợp đồng .
Ta có thể minh hoạ chu kì của dự án đầu tư theo hình sau đây :
Vũ Thị Thanh Nga Lớp : Kinh tế đầu tư 48B
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Hình1. 2 : Chu kì của dự án đầu tư
Các giai đoạn của chu kì dự án gồm : chuẩn bị đầu tư , thực hiện đầu tư , và vận
hành các kết quả đầu tư (còn gọi là giai đoạn vận hành khai thác của dự án) . Trong đó,
giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai
đoạn sau , đặc biệt là đối với vận hành kết quả đầu tư . Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư
sẽ tạo thuận lợi cho giai đoạn thực hiện đầu tư (đúng tiến độ , thời gian , không phải phá
quả đầu tư
Ý đồ về
dự án
mới
19
Chuyên đề tốt nghiệp
-Đánh giá tính hợp lý của dự án: tính hợp lý được thể hiện ở từng nội dung và cách
thức tính toán của dự án.
-Đánh giá tính hiệu quả của dự án; hiệu quả của dự án được xem xét trên hai phương
diện: hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội của dự án .
-Đánh giá khả năng thực hiện của dự án: đây là mục đích hết sức quan trọng trong
thẩm định dự án. Một dự án hợp lý và hiệu quả cần phải có khả năng thực hiện. Khả
năng thực hiện này được thể hiện ngoài tính hợp lý và hiệu quả còn được xem xét các kế
hoạch tổ chức thực hiện, môi trường pháp lý của dự án…
3.Vai trò
Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức, xem xét một cách khách quan, có cơ sở
khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản của dự án; từ đó ra quyết định về đầu tư và
cho phép đầu tư. Kết quả của việc thẩm định dự án đầu tư phải đưa ra những kết luận về
tính khả thi hay không khả thi của dự án.
Thẩm định dự án là rào cản cuối cùng trước khi ra quyết định đầu tư, đảm báo
đánh giá lợi ích của mọi chủ thể tham gia hoặc dựa trên lợi ích của toàn bộ nền kinh tế.
Đối với các nhà tài trợ , tổ chức cho vay , ngân hàng : thẩm định dự án là quá
trình xem xét về mặt tài chính , khả năng trả nợ của dự án xin vay nhằm đưa ra quyết
định tài trợ vốn hoặc cho vay một cách đúng đắn và hiệu quả
Đứng trên góc độ ngân hàng , thẩm định là khâu tất yếu và vô cùng quan trọng
trong hoạt động tín dụng của ngân hàng . Bởi thứ nhất , tiền của ngân hàng chủ yếu là
tiền gửi của các doanh nghiệp , cá nhân và của các tổ chức tín dụng khác , do đó ngân
hàng cần thận trọng khi cho vay . Thứ hai , trên thực tế không phải dự án nào xin vay
vốn của khách hàng đưa ra cũng đều khả thi về mặt pháp lí cũng như về mặt tài chính .
Thứ ba , có những dự án xin vay vốn , tuy khả thi nhưng chưa chắc đã đủ điều kiện để
khả năng trả nợ ngân hàng của khách hàng vay vốn , vì vậy kiểm tra cho vay là yêu cầu
cần thiết trong thẩm định .
4.Yêu cầu
Trước hết thẩm định cần tuân thủ đúng trình tự , theo đúng hướng dẫn bằng văn
bản của hội sở chính để tránh sự chồng chéo .
Cán bộ thẩm định phải là người có đủ năng lực , trình độ chuyên môn để tránh sai
sót không đáng có , bởi công tác thẩm định là khâu vô cùng quan trọng để ra quyết định
cho vay hay không , điều này ảnh hưởng đến lợi nhuận , sự an toàn và tính hiệu quả
trong hoạt động của ngân hàng .
Thẩm định cần mang tính khách quan , toàn diện , xem xét tất cả các khía cạnh
của dự án từ khía cạnh pháp lí đến thị trường , kĩ thuật , tài chính , bộ máy quản trị và
Vũ Thị Thanh Nga Lớp : Kinh tế đầu tư 48B
21
Chuyên đề tốt nghiệp
hiệu quả kinh tế xã hội . Ngoài ra cần có tính khoa học , bất kì một kết luận , quyết định
gì cũng cần có đầy đủ , chính xác thông tin .
5.Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư
Thứ nhất , căn cứ thẩm định dự án (căn cứ pháp lí và căn cứ thực tiễn) .
Căn cứ pháp lí được thể hiện ở các chủ trương , chính sách , quy hoạch phát triển , hệ
thống văn bản pháp quy . Tính ổn định của các văn bản pháp quy Nhà nước ảnh hưởng
nhiều đến quá trình tổ chức thực hiện thẩm định dự án đầu tư . Bên cạnh những căn cứ
pháp lí , công tác thẩm định dự án đầu tư còn dựa trên các tiêu chuẩn , quy phạm , định
mức, quy ước thông lệ quốc tế cùng các kinh nghiệm thực tiễn . Chất lượng hồ sơ dự án
là căn cứ thực tiễn quan trọng làm cơ sở để thẩm định . Dự án được lập có chất lượng tốt
với những thông tin đầy đủ , có độ tin cậy sẽ tạo thuận lợi cho việc xem xét , phân tích
đánh giá dự án
Thứ hai , đội ngũ cán bộ thẩm định dự án gồm nhóm chuyên môn và nhóm
quản lí Nhiệm vụ của nhóm chuyên môn là phân tích đánh giá dự án . Nhiệm vụ
của nhóm quản lí là lựa chọn dự án và quyết định đầu tư . Đội ngũ cán bộ thẩm định dự
án có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng thẩm định . Trình độ , kĩ năng , kinh nghiệm
tăng lên thì chất lượng thẩm định dự án được nâng cao và ngược lại . Về thời gian , thẩm
định dự án cần thực hiện theo đúng quy định của pháp luật , đảm bảo tiến độ thực hiện
các công việc tiếp theo , nhanh chóng đưa sản phẩm ra thị trường Về chi phí , nếu có đủ
sẽ giúp trang trải các hoạt động đặc biệt là khâu khảo sát thị trường , thu nhập thêm
thông tin cần thiết phục vụ cho việc phân tích đánh giá . Những nhân tố này nếu có được
đầy đủ sẽ góp phần nâng cao chất lượng thẩm định dự án .
Vũ Thị Thanh Nga Lớp : Kinh tế đầu tư 48B
23
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP TẠI NHNo&PTNTVN CHI NHÁNH HUYỆN KIM
SƠN (AGRIBANK CHI NHÁNH HUYỆN KIM SƠN )
I. G
iới thiệu khái quát về AGRIBANK chi nhánh huyện Kim Sơn
1.Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 26/3/1958 AGRIBANK chi nhánh huyện Kim Sơn tách ra từ Ngân hàng
Nhà nước thành Ngân hàng thương mại quốc doanh , trải qua một thời gian dài không
ngừng nỗ lực xây dựng và phấn đấu AGRIBANK chi nhánh huyện Kim Sơn đã thể hiện
sự tăng trưởng không ngừng về lợi nhuận hàng năm, chất lượng sản phẩm dịch vụ ngày
càng được nâng cao cũng như sự định hình rõ nét thương hiệu AGRIBANK trong cộng
đồng .
Gia nhập WTO mở ra cơ hội cho các ngân hàng trong nước tăng cường học hỏi
kinh nghiệm, nâng cao trình độ công nghệ và quản trị ngân hàng. Với nhận thức đó,
AGRIBANK chi nhánh huyện Kim Sơn đang từng bước thực hiện đổi mới công nghệ và
hiện đại hoá ngân hàng. Với phương châm “vì sự thịnh vượng và phát triển bền vững
của khách hàng và ngân hàng”, cùng với khát khao vươn lên của tập thể AGRIBANK
chi nhánh huyện Kim Sơn , chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng váo sự phát triển và lớn
mạnh không ngừng của AGRIBANK chi nhánh huyện Kim Sơn .
chính
Các phòng
khác
25