Khoá luận tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các tổ chức trung gian tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống tài chính trong
nền kinh tế thị trường, có chức năng dẫn vốn từ người có khả năng cung ứng vốn tới
những người có nhu cầu về vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội.
Và ngân hàng chính là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh
tế.
Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề vốn đang là một đòi hỏi cấp bách trong sự nghiệp công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Nó đóng vai trò quyết định đối với sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế. Một thực tế cho thấy hơn 80% lượng vốn trong nền kinh tế là do
hệ thống ngân hàng cung cấp, do đó vai trò của các ngân hàng trong hoạt động huy động
vốn cho nền kinh tế là vô cùng quan trọng. Có thể nói, ngân hàng chính là mạch máu
của nền kinh tế. Thông qua ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng đã góp
phần vào việc cung ứng vốn cho nền kinh tế quốc gia, là cầu nối giữa các doanh nghiệp
với thị trường và giúp nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô một cách hiệu quả. Hoạt
động tín dụng ngân hàng không chỉ có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung,
với các doanh nghiệp nói riêng mà còn vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi ngân
hàng. Nói như vậy bởi lẽ hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu,chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong tổng tài sản và tạo nguồn thu chính đối với mỗi ngân hàng. Tuy
nhiên hoạt động này lại luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, gây tổn thất lớn thậm chí dẫn đến phá
sản ngân hàng. Chính vì lẽ đó mà “chất lượng tín dụng” là vấn đề mà bất cứ ngân hàng
nào cũng phải đặc biệt quan tâm trong mọi giai đoạn phát triển của mình để hạn chế
thấp nhất những rủi ro, tổn thất đó. Do vậy, em chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất
lượng tín dụng tại chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển Đông Đô” để mong muốn
đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc giải quyết những vấn đề còn tồn
tại, những mặt chưa đạt được, ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra và nâng cao hơn
nữa chất lượng tín dụng tại chi nhánh.
1
Khoá luận tốt nghiệp
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
1.1. Tín dụng và vai trò của tín dụng trong nền kinh tế.
1.1.1. Khái niệm về tín dụng.
Thật khó để có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng về tín dụng. Thuật ngữ tín dụng
xuất phát từ chữ Latinh là “credo” có nghĩa là một sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau, hay
nói cách khác đó chính là lòng tin. Theo quan điểm của Mác thì tín dụng là sự chuyển
giao một lượng giá trị và quyền sử dụng từ người có quyền sở hữu sang người thứ hai
và sau một thời hạn nhất định sẽ nhận được lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Lượng giá trị ở đây bao gồm: tiền, hiện vật, uy tín. Quyền sở hữu đối với một tài sản
bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Như vậy, người thứ hai
trong quan điểm của Mác chỉ được quyền sử dụng tài sản mà không được quyền chiếm
hữu hay định đoạt tài sản đó.
Theo luật của các tổ chức tín dụng: “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử
dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng”.
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên
cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi.
Trong thực tế cuộc sống, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau;
ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có
một nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính tín dụng có thể được hiểu theo theo các
nghĩa sau:
- Tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ cho vay từ người thặng dư tiết
kiệm sang người thiếu hụt tiết kiệm.
- Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở
có hoàn trả giữa hai chủ thể. Chẳng hạn giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng là cá
nhân hay doanh nghiệp thể hiện dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay
3
Khoá luận tốt nghiệp
cho bên đi vay và sau một thời hạn nhất định người đi vay phải thanh toán cả vốn gốc
và lãi. Một thí dụ khác như: một công ty chấp nhận ban hàng trả trậm cho khách hàng
thì người bán sẽ chuyển giao hàng hóa cho bên mua trước và sau đó bên mua sẽ trả tiền
cho bên bán như trong thỏa thuận.
có khả năng trả nợ ngân hàng. Nếu thời hạn cho vay ngắn hơn thì khách hàng sẽ không
có nguồn để trả nợ ngân hàng, điều này sẽ gây khó khăn cho đối tượng vay. Nhưng nếu
khách hàng có nguồn thu nhập khác ngoài nguồn thu chính thì có thể thu nợ từ nguồn
đó, trong trường hợp này thì thời hạn cho vay có thể ngắn hơn chu kỳ luân chuyển vốn
của khách hàng. Ngược lại nếu dài hơn sẽ tạo điều kiện để khách hàng sử dụng vốn sai
mục đích, không có nguồn trả nợ trong tương lai. Việc xác định thời hạn cho vay còn
phụ thuộc vào tính chất nguồn vốn của ngân hàng. Nếu nguồn vốn cho vay ổn định thì
thời hạn cho vay có thể dài hơn, ngược lại thời hạn cho vay phải ngắn hơn để đảm bảo
khả năng thanh toán của ngân hàng. Theo Quyết định số 1627/2001/NHNN thời hạn cho
vay đối với các pháp nhân Việt Nam và nước ngoài không quá thời hạn hoạt động còn
lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động tại Việt Nam. Đối với cá nhân
nước ngoài, thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn được phép sinh sống, hoạt động
tại VIệt Nam.
- Thứ ba là tính hoàn trả. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị
trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là thuộc tính riêng có của nghiệp vụ tín
dụng. Vì vốn cho vay của ngân hàng là vốn huy động của những người tạm thời thừa
vốn nên sau một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận ngân hàng phải trả lại cho
người ký thác. Mặt khác, ngân hàng cũng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí hoạt
động như: khấu hao tài sản cố định, trả lương cán bộ nhân viên… nên người vay vốn
ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi. Trong quan hệ tín dụng
ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Điều này có
5
Khoá luận tốt nghiệp
nghĩa là bên đi vay phải hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Các cam kết này được thể hiện trên những văn bản xác định quan hệ tín dụng như: hợp
đồng tín dụng, khế ước…
1.1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú với nhiều
hình thức khác nhau. Để sử dụng và quản lý có hiệu quả thì phải tiến hành phân loại tín
dụng. Ngân hàng thương mại với chức năng chính là huy động vốn để cho vay, do đó
bảo thấp, tuy nhiên vẫn không thể loại bỏ được hoàn toàn rủi ro cho ngân hàng.
- Tín dụng không có đảm bảo: Là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố
hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chủ yếu chỉ dựa vào uy tín của bản
thân khách hàng. Đối với loại tín dụng này ngân hàng sẽ gặp rủi ro rất cao thậm chí là
mất trắng nếu nhân viên tín dụng đánh giá sai về khách hàng của mình.
1.1.2.3. Theo xuất sứ tín dụng
- Tín dụng trực tiếp: Là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng trực tiếp cấp vốn
cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
Trong tín dụng trực tiếp, rủi ro của ngân hàng thấp hơn vì ngân hàng trực tiếp gặp gỡ,
tiếp xúc với khách hàng từ đó có cái nhìn trực quan hơn về khách hàng, đánh giá được
uy tín, khả năng tài chính… của khách hàng từ đó đưa ra quyết định đúng đắn hơn.
- Tín dụng gián tiếp: Là hình thức cấp tín dụng được thực hiện thông qua việc mua
lại các khế ước hay các chứng từ nợ đã phát sinh và còn thời hạn thanh toán của khách
hàng. Ngược lại với tín dụng trực tiếp, tín dụng gián tiếp thường đem lại rủi ro cao hơn
cho ngân hàng vì ngân hàng không có đầy đủ thông tin về con nợ do đó có nhiều khoản
tín dụng được cấp ra không chính đáng. Tuy nhiên, với hình thức tín dụng gián tiếp này,
giúp ngân hàng tăng nhanh doanh số cho vay, tiết kiệm được chi phí trong cho vay.
1.1.2.4. Theo phương pháp hoàn trả.
Dựa vào căn cứ này nghiệp vụ tín dụng ngân hàng bao gồm các loại sau:
7
Khoá luận tốt nghiệp
- Tín dụng trả góp: Là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo
định kỳ. Loại cho vay này chủ yếu được áp dụng đối với cho vay bất động sản, nhà ở
thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay đối với những người kinh doanh nhỏ, cho vay
để mua sắm máy móc thiết bị.
- Tín dụng phi trả góp: Là loại tín dụng được thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thỏa
thuận, thường áp dụng đối với cho vay vốn lưu động.
- Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại tín dụng không có thời hạn cụ thể. Ngân
hàng có thể yêu cầu hoặc người đi vay có thể tự nguyện trả trả nợ bất cứ lúc nào khi có
thu nhập, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, thời gian này có thể được thỏa
và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm động sản và bất động sản trong đó chủ
yếu là máy móc thiết bị.
1.1.3. Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế.
1.1.3.1. Đối với bản thân mỗi ngân hàng.
Như chúng ta cũng biết, tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng trên 60% quy mô tổng tài
sản của ngân hàng, là hoạt động kinh doanh chủ yếu và tạo ra nguồn thu chính cho ngân
hàng thương mại. Một ngân hàng mà hoạt động tín dụng yếu thì khó có thể cạnh tranh
và phát triển bền vững được. Hoạt động tín dụng ngân hàng tạo cơ sở vững chắc cho
ngân hàng trong việc đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ, giúp cải thiện nguồn thu nhập
và phân tán rủi ro. Một khách hàng ngoài việc có quan hệ tín dụng với ngân hàng còn có
thể sử dụng các sản phẩm, dịch vụ khác của ngân hàng khi có nhu cầu giúp tạo nguồn
thu bổ sung (phí, tiền trong thanh toán…) cho ngân hàng.Thông qua việc tìm hiểu về
các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, các ngân hàng còn có điều kiện để phát triển dịch
vụ tư vấn cho khách hàng, tăng cường uy tín và hình ảnh của ngân hàng, giúp ngân hàng
dễ dàng hơn trong việc huy động vốn trong dân chúng, tạo đà cho ngân hàng tồn tại và
phát triển bền vững.
9
Khoá luận tốt nghiệp
1.1.3.2. Đối với khách hàng của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng ngân hàng giúp khách hàng thỏa mãn được các nhu cầu cần
thiết, cấp bách ngay cả khi chưa có đủ tiền. Chẳng hạn như trong cho vay tiêu dùng,
thông qua quan hệ vay mượn ngân hàng, khách hàng có thể thoả mãn nhu cầu tiêu dùng
trong điều kiện chưa tích lũy đủ như: mua nhà,mua ôtô, đi du lịch, chi phí chi tiêu cho y
tế, giáo dục để nâng cao chất lượng cuộc sống. Hay như trong tín dụng doanh nghiệp,
khách hàng là các doanh nghiệp có thể có đủ vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, xây
dựng những công trình mới, mua máy móc, thiết bị, vật tư, đáp ứng các nhu cầu về vốn
lưu động hay vốn cố định của khách hàng, giúp cải thiện và nâng cao hơn nữa hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Hay như trong nghiệp vụ bảo
lãnh, mặc dù ngân hàng không trực tiếp cấp vốn nhưng khách hàng vẫn được hưởng
những thuận lợi về ngân quỹ như đi vay thực sự…
Góp phần ổn định và điều hòa lưu thông tiền tệ.
Thông qua tín dụng ngân hàng, có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng
trong lưu thông, thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. Khi các ngân hàng thương mại mở
rộng tín dụng sẽ dẫn tới tình trạng khối lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên (điều
này đặc biệt có ý nghĩa khi nền kinh tế rơi vào tình trạng giảm phát). Ngược lại, việc thu
hẹp khối lượng tín dụng sẽ giảm khối lượng tiền trong lưu thông, việc thắt chặt tiền tệ
này giúp nền kinh tế có thể thoát khỏi tình trạng lạm phát cao. Như những tháng đầu
năm 2008, khi lạm phát nước ta lên tới mức hai con số, để giảm lượng tiền mặt trong
lưu thông các ngân hàng ngoài việc tăng lãi suất huy động bù lạm phát để thu hút luồng
tiền gửi của dân cư, còn hạn chế cấp tín dụng cho khách hàng.
Hoạt động tín dụng thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại.
Hoạt động tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế,
giúp ổn định giá trị tiền tệ, nâng cao cơ sở hạ tầng xã hội… từ đó tạo môi trường thuận
lợi để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nhất là khi Việt Nam đang trong quá
11
Khoá luận tốt nghiệp
trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới như ngày nay thì việc các nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư vào nước ta là một khả năng rất dễ thấy.
Việt Nam hiện nay đã tham gia vào các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF…và
cũng có đại lý ngân hàng tại các nước khác nhau trên thế giới. Các đơn vị cần vốn
không chỉ có thể vay vốn tại các tổ chức tín dụng trong nước mà còn có thể vay từ các
tổ chức tín dụng quốc tế. Như vậy, tín dụng ngân hàng tạo điều kiện mở rộng quan hệ
kinh tế với nước ngoài, là cầu nối cho việc giao lưu kinh tế và là phương tiện để thắt
chặt mối quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới.
Tín dụng ngân hàng còn thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường chế độ hạch toán
kinh doanh, giúp các doanh nghiệp khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng trong hoạt động
kinh doanh của mình.
Để có thể hoàn trả đúng hạn cho ngân hàng và nhận lại tài sản đảm bảo, đòi hỏi các
đơn vị kinh tế khi sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng phải quan tâm đến hiệu quả hoạt
động của mình đủ bù đắp chi phí và có lãi. Các doanh nghiệp phải khai thác triệt để mọi
nhanh chóng, kịp thời; lãi suất cạnh tranh được với các ngân hàng khác và phù hợp với
khả năng tạo nguồn thu nhập trả nợ lãi của khách hàng; giải ngân đúng tiến độ; quy mô
tín dụng đáp ứng nhu cầu sử dụng…
Đối với bản thân ngân hàng: Khoản tín dụng được coi là có chất lượng khi ngân
hàng có thể thu hồi vốn gốc và lãi như trong hợp đồng tín dụng hay khoản tín dụng đó
không có rủi ro; quy mô và thời hạn trong hợp đồng tín dụng phải phù hợp với khả năng
và tính chất nguồn vốn của ngân hàng.
Đối với nền kinh tế: Hoạt động tín dụng có chất lượng khi nó thực hiện được các
mục tiêu, chính sách của nhà nước: Cân bằng cung cầu trên thị trường tiền tệ, phục vụ
sản xuất và lưu thông hàng hóa, giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống cho
người lao động, khai thác khả năng tiềm tàng của nền kinh tế…
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng.
13
Khoá luận tốt nghiệp
Đất nước ta đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế theo cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa tạo đà
phát triển thành nước công nghiệp vào năm 2020. Vì vậy nền kinh tế đòi hỏi lượng vốn
lớn, là cơ sở và điều kiện cho hoạt động tín dụng của ngân hàng phát triển.
Như chúng ta cũng biết, trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động tín dụng là
một trong những hoạt động tạo ra giá trị cho ngân hàng. Hoạt động tín dụng là nghiệp
vụ kinh doanh chủ yếu của hệ thống ngân hàng thương mại nước ta, nó mang lại phần
lớn thu nhập cho mỗi ngân hàng song rủi ro của nó cũng là rất lớn. Rủi ro tín dụng cao
quá mức sẽ hủy hoại giá trị của ngân hàng và có thể dẫn đến phá sản. Do đó, đứng trước
những thời cơ và thách thức của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề nâng cao
khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam với các ngân hàng thương
mại nước ngoài mà trước mắt là nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro đã trở
nên cấp thiết đối với hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh, đảm bảo hài hòa giữa tăng trưởng và chất
lượng tín dụng là thách thức lớn cho các ngân hàng. Nó không chỉ phản ánh khả năng
đáp ứng vốn cho doanh nghiệp mà còn thể hiện kết quả kinh doanh của bản thân ngân
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, “nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần
hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.
Các trường hợp chuyển sang nợ quá hạn như sau:
- Đến hạn trả nợ mà khách hàng không chủ động trả hay trên tài khoản tiền gửi
không có tiền, hay không đủ tiền để thu nợ, nếu là do chủ quan của khách hàng thì ngân
hàng tiến hành chuyển khoản nợ đó sang nợ quá hạn.
15
Khoá luận tốt nghiệp
- Nếu khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, ngân hàng sẽ tiến hành thu hồi nợ trước
hạn. Nếu khách hàng không có đủ tiền trả, ngân hàng sẽ chuyển nợ đó sang nợ quá hạn.
- Sau khi kiểm tra đảm bảo nợ vay, bộ phận vay không có vật tư làm đảm bảo thì
ngân hàng yêu cầu bổ sung tài sản đảm bảo hoặc thu hồi nợ phần thiếu đảm bảo. Nếu cả
hai phương thức trên đều không thực hiện được ngân hàng sẽ chuyển sang nợ quá hạn.
Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và
thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá 150% lãi
suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp
đồng.
Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh tỷ lệ phần trăm giữa khoản dư nợ tín dụng được
cấp ra nhưng không thu hồi được một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi khi đến hạn so
với tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng tại một thời điểm. Để đánh giá, xem xét chất
lượng tín dụng của một ngân hàng thì điều đầu tiên là phải xem xét đến nợ quá hạn của
ngân hàng đó. Tỷ lệ nợ quá hạn tỷ lệ nghịch với chất lượng tín dụng ngân hàng. Tỷ lệ
nợ quá hạn càng thấp thì chất lượng tín dụng càng cao và ngược lại. Các ngân hàng luôn
đặt ra mục tiêu là không có tỷ lệ nợ quá hạn nhưng thực tế để làm điểu này là không thể.
Tuy nhiên, sử dụng chỉ tiêu này các ngân hàng cần phải thận trọng xác định kỳ hạn như
thế nào được coi là quá hạn.
1.2.3.2. Tỷ lệ nợ xấu.
Tỷ lệ nợ xấu =
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ngày
17
Khoá luận tốt nghiệp
dụng ngân hàng càng thấp, nguy cơ ngân hàng không thu hồi được khoản tín dụng đã
cấp càng lớn, tổn thất đối với ngân hàng càng cao.
1.2.3.4. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng.
Vòng quay vốn tín dụng =
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của một ngân hàng. Vốn tín
dụng quay được một vòng tức là tính từ thời điểm cấp tín dụng đến thời điểm thu hồi
đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn như trong hợp đồng. Vòng quay vốn tín dụng càng cao
chứng tỏ nguồn vốn vay ngân hàng luân chuyển càng nhanh, được sử dụng để tham gia
vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hóa. Với một số vốn nhất định, vòng quay
vốn tín dụng nhanh, ngân hàng có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác để kiếm
lời. Vòng quay vốn tín dụng cao chứng tỏ khả năng quản lý vốn tín dụng cũng như chất
lượng tín dụng của ngân hàng tốt.
1.2.3.5. Chỉ tiêu tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.
Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể
xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện được nghĩa vụ theo cam kết.
Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ
chức tín dụng. Dự phòng rủi ro bao gồm: dự phòng cụ thể và dự phòng chung.
Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản
nợ để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra.
Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa
xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các
trường hợp khó khăn về tài chính của tổ chức tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy
giảm.
Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với nhóm nợ từ 1 đến 5 như sau: Nhóm 1 (0%),
nhóm 2 (5%), nhóm 3 (20%), nhóm 4 (50%), nhóm 5 (100%)
18
Khoá luận tốt nghiệp
Các tổ chức tín dụng thực hiện việc trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75%
phát triển được, các ngân hàng cần phải tìm cách để lôi kéo, duy trì và mở rộng mối
quan hệ với khách hàng. Theo quy luật, khách hàng sẽ lựa chọn sản phẩm của những
ngân hàng nào thỏa mãn nhu cầu của họ tốt nhất. Trong hoạt động tín dụng, để thu hút
và giữ những khách hàng tốt thì ngân hàng cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng tín
dụng, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Chất
lượng tín dụng tốt theo quan điểm của khách hàng phải bao hàm những nội dung sau:
Quy trình, thủ tục: Khi sử dụng bất cứ một sản phẩm dịch vụ nào của ngân hàng,
khách hàng cũng đều nhất thiết phải tuân thủ những quy trình, thủ tục nhất định. Trong
quan hệ tín dụng cũng vậy, khách hàng cũng phải tuân thủ quy trình tín dụng của ngân
hàng. Quy trình, thủ tục tín dụng đơn giản, gọn nhẹ sẽ không gây khó khăn, cản trở
khách hàng đến với các khoản tín dụng của ngân hàng, tạo thuận tiện cho khách hàng
trong hoạt động của mình. Ngược lại quy trình càng rườm rà, phức tạp thì càng gây khó
khăn cho khách hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng.
Thời hạn trả nợ của khách hàng: Việc ngân hàng tính toán và thỏa thuận với khách
hàng về thời hạn cho vay phải dựa vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, chu kỳ luân chuyển
vốn, phù hợp với luồng tiền vào hay ra của khách hàng. Từ đó tạo điều kiện cho khách
hàng có khả năng tạo nguồn để trả nợ vay ngân hàng đúng theo thời hạn trong hợp
đồng, hướng khách hàng vào việc sử dụng vốn vay đúng mục đích.
Tài sản đảm bảo: Trong quan hệ tín dụng với ngân hàng, một số khách hàng ngân
hàng không yêu cầu phải có tài sản đảm bảo, nhưng bộ phận lớn khách hàng phải có tài
sản để đảm bảo cho khoản tín dụng được cấp. Thông thường mức cho vay tối đa là
20
Khoá luận tốt nghiệp
70% giá trị của tài sản đảm bảo. Việc yêu cầu tài sản đảm bảo là vô cùng cần thiết để
giảm thiểu rủi ro tín dụng đối với ngân hàng nhưng nếu quá khắt khe thì khách hàng khó
có thể đáp ứng được, gây khó khăn cho khách hàng, quan hệ tín dụng cũng khó xảy ra.
Chi phí cấp tín dụng: Chi phí ở đây bao gồm lãi và các khoản phí mà khách hàng
phải chịu trong quan hệ tín dụng. Chi phí càng thấp thì gánh nặng về trả nợ lãi của
khách hàng càng thấp, chính vì lẽ đó mà khách hàng luôn tìm đến những khoản tín dụng
với lãi suất thấp hơn. Để cạnh tranh được với các ngân hàng khác trong lĩnh vực tín
hàng. Đồng thời dựa vào quy trình tín dụng, ngân hàng sẽ thiết lập các thủ tục hành
chính phù hợp với những quy định của luật pháp và đảm bảo an toàn trong hoạt động
kinh doanh. Mặt khác, quy trình tín dụng còn là cơ sở để ngân hàng kiểm soát tiến trình
cấp tín dụng và điều chỉnh chính sách tín dụng cho phù hợp với thực tiễn.
Hiệu quả của hoạt động tín dụng: Trong thực tiễn cuộc sống, bất cứ một hoạt động
nào muốn có hiệu quả cao thì trước hết chất lượng của nó phải tốt. Hoạt động tín dụng
có hiệu quả cao đồng nghĩa với việc chất lượng của hoạt động đó phải tốt, đem lại nhiều
lợi nhuận cho ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh chung của
ngân hàng.
Khả năng thu hồi các khoản nợ của ngân hàng khi đến hạn: Đây cũng là một trong
những chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng. Khả năng thu
hồi nợ của ngân hàng càng cao, ngân hàng càng ít bị chiếm dụng vốn từ bên ngoài, rủi
ro tín dụng mà ngân hàng gặp phải thấp hay chất lượng tín dụng của ngân hàng cao.
Khả năng cạnh tranh: Khả năng cạnh tranh của một ngân hàng cao hay thấp cho
chúng ta thấy được chất lượng tín dụng của ngân hàng đó tốt hay không tốt. Sở dĩ như
vậy là vì tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu, nó đem lại nguồn thu nhập chính
cho bản thân mỗi ngân hàng. Một ngân hàng có khả năng cạnh tranh cao thì tất yếu hoạt
động tín dụng của ngân hàng đó phải có chất lượng tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh vì
22
Khoá luận tốt nghiệp
khả năng cạnh tranh cao đồng nghiã với việc khả năng thu hút khách hàng của ngân
hàng tốt, khả năng huy động vốn cao, ngân hàng có điều kiện mở rộng tín dụng và tìm
kiếm được những khách hàng tiềm năng tốt, hạn chế rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
Chỉ tiêu định lượng.
Ngoài 6 chỉ tiêu như đã trình bày ở trên như: Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu,
tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ lệ xử lý
tài sản đảm bảo và vòng quay vốn tín dụng. Chất lượng tín dụng theo quan điểm của
ngân hàng còn thể hiện ở chỉ tiêu: “Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng”
Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng =
mắt thì không thể nào phát triển bền vững được.
1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
Cổ nhân xưa thường có câu: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, câu nói này đúng trong
mọi hoàn cảnh, mọi tình huống, mọi trường hợp và mọi thời đại. Trong ngân hàng nói
chung và trong hoạt động tín dụng nói riêng, để có thể nâng cao chất lượng tín dụng,
hạn chế các khoản cho vay kém chất lượng, giảm thiểu những rủi ro có liên quan…thì
một điều tất yếu không thể thiếu đó là phải xem xét những nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng tín dụng
Chúng ta sẽ xem xét các nhân tố ảnh hưởng trên 2 góc độ: khách quan và chủ quan.
1.2.5.1 Các nhân tố khách quan.
Ngân hàng nói riêng và mọi ngành nghề trong nền kinh tế nói chung đã tồn tại trên
thị trường thì đều phải chịu những tác động chung của môi trường kinh tế - xã hội. Môi
trường ở đây bao gồm: môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường chính trị -
pháp luật, môi trường quốc tế, dân số và các điều kiện tự nhiên.
* Môi trường kinh tế:
24
Khoá luận tốt nghiệp
Chu kỳ kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng của một ngân hàng.
Nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu về các sản phẩm ngân hàng cũng gia tăng. Thu nhập
của dân cư tăng thì có hai khả năng: thứ nhất là tiết kiệm tăng thì ngân hàng dễ dàng
hơn trong việc huy động vốn; thứ hai là chi tiêu dùng trong dân cư tăng, nhu cầu về các
sản phẩm trong xã hội tăng, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp tăng, các chủ thể
tham gia trong nền kinh tế hoạt động có hiệu quả, ngân hàng sẽ có khả năng mở rộng tín
dụng và chất lượng hoạt động tín dụng cũng sẽ được nâng lên. Ngược lại khi nền kinh tế
rơi vào tình trạng suy thoái, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng
khi đó chất lượng các khoản tín dụng của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng rất lớn.
Chất lượng tín dụng của ngân hàng không chỉ chịu ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh tế mà
còn bởi tình trạng lạm phát, tỷ giá… và những biến động bất thường của thị trường. Ta
có: “Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát”. Nếu lạm phát tăng cao, lãi
suất danh nghĩa không thay đổi thì lãi suất thực mà ngân hàng nhận được từ các khoản