Tìm hiểu về hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam - Pdf 12

Luận văn
Tìm hiểu về hoạt động
nhượng quyền thương mại
tại Việt Nam
1
MỤC LỤC
PHẦN TRANG
2
MỞ ĐẦU
Từ sau khi gia nhập WTO, cơ chế kinh tế của nước ta thông thoáng hơn, tạo
điều kiện thuận lợi cho các công ty, tập đoàn kinh tế lớn của nước ngoài “thâm nhập”
vào thị trường Việt Nam. Đây là bước tiến thể hiện sự hội nhập và phát triển của kinh
tế, nhưng đồng thời cũng có nghĩa là các doanh nghiệp nước nhà phải cạnh tranh khốc
liệt hơn để tồn tại và phát triển.
Bằng con đường nhượng quyền thương hiệu, nhiều tên tuổi lớn thuộc nhiều
lĩnh vực, ngành nghề của thế giới đã thâm nhập vào thị trường Việt Nam thông qua
hình thức nhượng quyền thương mại. Đặc biệt phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực thực
phẩm - đồ ăn nhanh và nước giải khát - người tiêu dùng trong nước đã dần quen
thuộc với các thương hiệu nổi tiếng thế giới như KFC, Lotteria , Five Star Chicken,
Texas Chicken, Carvel, Jollibee (Philippines),…Trong lĩnh vực siêu thị, Đức “đổ bộ”
vào Việt Nam với hệ thống siêu thị Metro nằm ở những địa thế đẹp và thuận lợi….Đó
là những thương hiệu lớn đã thành danh ở Việt Nam nhờ nhượng quyền thương mại,
Bên cạnh đó những doanh nghiệp trong nước cũng đã tiến hành kinh doanh nhượng
quyền thương mại và đạt được những thành công nhất định như Trung Nguyên, Phở
24, Kinh Đô Vissan…
Để hiểu rõ hơn về hoạt động nhượng quyền thương mại, những thuận lợi và
thách thức nào đối với DN Việt khi tham gia vào lĩnh vực hoạt động này. Đề tài “Tìm
hiểu về hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam” đã được nhóm em lựa
chọn làm đề tài nghiên cứu.
Vì điều kiện nghiên cứu và kiến thức còn hạn hẹp, trong quá trình nghiên cứu
không tránh khỏi sai sót mong thầy và các bạn thông cảm và góp ý để bài làm được

có các chính sách khuyến khích phát triển franchise. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên luật
4
hoá franchise và có các chính sách ưu đãi cho những cá nhân, doanh nghiệp kinh
doanh theo phương thức franchise. Chính phủ các nước phát triển khác như Anh,
Pháp, Đức, Nhật, Ý cũng noi gương Hoa Kỳ, ban hành các chính sách thúc đẩy, phát
triển hoạt động franchise, khuyến khích và hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc bán
franchise ra nước ngoài. Nhiều trung tâm học thuật, nghiên cứu chính sách về
franchise của các chính phủ, tư nhân lần lượt ra đời, các đại học cũng có riêng chuyên
ngành về franchise để đào tạo, đáp ứng nhu cầu mới của nền kinh tế.
Riêng tại Đông Nam Á, kể từ thập niên 90, các quốc gia đã nhận thấy tác động
của franchise đến việc phát triển nền kinh tế quốc dân là quan trọng và là xu thế tất
yếu của toàn cầu hóa, vì vậy nhiều chính sách, giải pháp phát triển kinh tế liên quan
đến franchise đã được nghiên cứu, ứng dụng và khuyến khích phát triển. Năm 1992,
Chính phủ Malaysia đã bắt đầu triển khai chính sách phát triển hoạt động kinh doanh
nhượng quyền (Franchise development program) với mục tiêu gia tăng số lượng
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh theo phương thức nhượng quyền, thúc đẩy và
phát triển việc bán franchise ra bên ngoài quốc gia. Singapore, quốc gia láng giềng
của Malaysia, cũng có các chính sách tương tự nhằm thúc đẩy, phát triển hoạt động
nhượng quyền trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ như đào tạo, y tế, du lịch, khách sạn-
nhà hàng Gần đây nhất, kể từ thời điểm năm 2000, Chính phủ Thái Lan cũng đã có
các chính sách khuyến khích, quảng bá, hỗ trợ việc nhượng quyền của các doanh
nghiệp Thái Lan tại thị trường nội địa và quốc tế.
Ngày nay, nhiều tổ chức phi chính phủ với tôn chỉ thúc đẩy phát triển, hỗ trợ và
quảng bá hoạt động franchise đã được thành lập. Điển hình là Hội đồng Franchise Thế
giới (World Franchise Council), ra đời vào năm 1994, có thành viên là các hiệp hội
franchise của nhiều quốc gia. Ngoài ra, một tổ chức uy tín và lâu đời nhất là Hiệp hội
Franchise Quốc tế (International Franchise Association) được thành lập năm 1960, có
khoảng 30.000 thành viên bao gồm các doanh nghiệp bán, mua franchise. Thông qua
các tổ chức này, nhiều hoạt động có ích cho doanh nghiệp, cho các nền kinh tế quốc
gia đã được thực hiện.

• Nhượng quyền kinh doanh mô hình không toàn diện ( Non - business format
franchise)
6
Bên nhượng quyền là chủ thể sở hữu thương hiệu/ sản phẩm/ dịch vụ thường
không nỗ lực kiểm soát chặt chẽ hoạt động của bên nhận quyền và thu nhập cuả
bên nhượng quyền chủ yếu từ việc bán sản phẩm hay dịch vụ. Bên nhượng quyền
thường có ý định mở rộng nhanh chóng hệ thống phân phối nhằm gia tăng độ bao
phủ thị trường, doanh thu và đi trước đối thủ
• Nhượng quyền có tham gia quản lý (Management franchise):
Bên nhượng quyền hỗ trợ cung cấp nguwoif quản lý và điều hành doanh nghiệp
ngoài việc chuyenr nhượng quyền sử dụng thương hiệu và mô hình/ công thức
kinh doanh
• Nhượng quyền có tham gia đầu tư vốn ( equity franchise)
Người nhượng quyền tham gia vốn đầu tư với tỷ lệ nhỏ dưới dạng lien doanh. Bên
nhượng quyền có thể tham gia Hội đồng quản trị công ty mặc dù vốn tham gia
đóng góp chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Tùy theo năng lực quản lý, sức mạnh thương hiệu,
đcặ trưng nghành hàng, cạnh tranh thị trường, bên nhượng quyền sẽ cân nhắc thêm
3 yếu tố ưu tiên quan trọng sau khi lựa chọn mô hình franchise phù hợp cho doanh
nghiệp của mình.
1.2.3 Các thuật ngữ chuyên môn về NQTM
− Đơn vị nhượng quyền (franchisor): là người trao cho một đơn vị, tập thể
quyền sử dụng thương hiệu và phương thức hoạt động kinh doanh của mình
− Đơn vị nhận quyền (franchisees): là người được nhận quyền sử dụng thương
hiệu, phương thức hoạt động, mô hình kinh doanh từ đơn vị nhượng quyền, đổi
lại đơn vị nhận quyền này phải thanh toán các loại phí nhượng quyền.
− Initial Fee: chi phí ban đầu cho các việc chuẩn bị và trợ giúp để bắt đầu doanh
nghiệp như: chuyển giao công nghệ, huấn luyện, thủ tục, hành chính. Initial fee
dựa trên các gói sản phẩm mà đơn vị nhận quyền muốn được nhượng quyền,
quy mô của đơn vị nhận quyền, độ phức tạp khi chuyển giao công nghệ và
phạm vi hoạt động tại địa bàn của đơn vị nhận quyền.

− Mục đích của người nhận quyền là giảm tính rủi ro và dễ thành công hơn trong
hoạt động kinh doanh, nhất là đối với những cá nhân còn mới mẻ trong hoạt
động vốn không dễ dàng này.
− Các doanh nghiệp kinh doanh bằng hoạt động nhượng quyền cũng dễ dàng
được ngân hàng cho vay vốn để làm ăn, mở rộng sản xuất do xác suất thành
công của họ cao hơn và các ngân hàng cũng tin tưởng họ hơn. Chủ thương hiệu
với uy tín của mình cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc thuyết phục
hay đảm bảo các ngân hàng cho người nhận quyền vay tiền.
8
− Nhận được sự hỗ trợ từ phía chủ thương hiệu và bên nhượng quyền thứ cấp rất
nhiều. Không chỉ là sự hỗ trợ từ những bước đầu tiên trong việc thành lập một
cửa hiệu, trang trí, thiêt kế…mà còn sau đó và liên tục trong việc hỗ trợ về
huấn luyện nhân viên, hỗ trợ phát triển sản phẩm mới…
− Cuối cùng, chắc chắn một mục đích không thể thiếu của những người nhận
quyền là tạo tính chuyên nghiệp cho chính mình bằng cách mua những mô hình
kinh doanh, những sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng, những cách thức kinh
doanh…rất chuyên nghiệp của những công ty lớn với các thương hiệu nổi
tiếng.
1.3 Kinh doanh nhượng quyền
Kinh doanh nhượng quyền (thường được gọi là franchise) là một hệ thống mở rộng
mạng lưới cung cấp sản phẩm, dịch vụ (đối với đơn vị nhượng quyền). Là cơ hội để
phát triển doanh nghiệp dưới một thương hiệu nổi tiếng (đối với đơn vị được nhượng
quyền)
Kinh doanh nhượng quyền xảy ra khi một doanh nghiệp (đơn vị nhượng quyền)
trao cho doanh nghiệp khác (đơn vị nhận quyền) quyền sử dụng thương hiệu và
phương thức hoạt động. Đổi lại, bên được nhượng quyền phải thanh toán các phí
nhượng quyền cho bên nhượng quyền.
Một nhượng quyền thương mại là một sự thỏa thuận hay cấp phép giữa 2 tổ chức pháp
lý độc lập trong đó cho phép :
− Bên nhận quyền có quyền tiếp thị sản phẩm hay dịch vụ sử dụng phương pháp

niệm quyền thương mại phát triển rất phong phú và có mối liên hệ đặc biệt với các đối
tượng sở hữu trí tuệ. Nội dung của quyền thương mại có thể khác nhau tuỳ thuộc vào
từng loại hình nhượng quyền thương mại và thoả thuận giữa các bên. Nó có thể bao
gồm quyền sử dụng các tài sản trí tuệ như tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá/dịch
vụ, bí mật kinh doanh… và quyền kinh doanh theo mô hình, với phương thức quản lý,
đào tạo, tiếp thị sản phẩm của bên nhượng quyền… Quyền thương mại là một sự kết
hợp các yếu tố nêu trên, từ đó tạo nên sự khác biệt của cơ sở kinh doanh trong hệ
thống nhượng quyền thương mại, giúp phân biệt với các cơ sở kinh doanh khác là đối
thủ cạnh tranh. Sự lựa chọn và cách sử dụng các yếu tố này cấu thành một khía cạnh
cơ bản của chính sách chung của doanh nghiệp để tạo ra sức mạnh cạnh tranh.
Nhượng quyền thương mại là hoạt động kinh doanh theo mô hình thống nhất,
theo đó bên nhận quyền phải tuân thủ mô hình nhượng quyền thương mại
10
Trong hoạt động nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền và các bên nhận
quyền cùng tiến hành kinh doanh trên cơ sở cùng khai thác quyền thương mại. Điều
đó tạo ra một hệ thống thống nhất. Tính thống nhất thể hiện ở:
− Thống nhất về hành động của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền. Các
thành viên trong hệ thống nhượng quyền thương mại phải thống nhất về mọi
hành động nhằm duy trì hình ảnh đặc trưng và duy trì chất lượng đặc trưng của
sản phẩm/dịch vụ.
− Thống nhất về lợi ích của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền. Lợi ích
của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Việc tiến hành hoạt động kinh doanh tốt hay xấu của bất kỳ một thành
viên nào trong hệ thống nhượng quyền thương mại đều có thể làm tăng hay
giảm uy tín của toàn bộ hệ thống, từ đó sẽ gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu
cực đến lợi ích của các thành viên còn lại.
1.3.2 các hình thức nhượng quyền thương mại
Tuỳ theo tiêu chí phân loại mà chúng ta có thể phân chia hoạt động franchise theo
nhiều hình thức khác nhau.
• Theo tiêu chí lãnh thổ, ta có thể chia hoạt động franchise theo 3 loại:

nhượng quyền sử dụng công thức kinh doanh.
• Nhượng quyền sử dụng công thức kinh doanh (business format franchise): là
hình thức chuyển nhượng phổ biến nhất, còn gọi là nhượng quyền kinh doanh
hay nhượng quyền thương mại được đề cập trong Luật Việt Nam. Đây là hình
thức nhượng quyền chặt chẽ hơn hình thức trên, trong đó bên nhượng quyền
không chỉ cho phép bên nhận nhượng quyền được phân phối sản phẩm dưới
thương hiệu của người nhượng quyền mà còn chuyển giao kỹ thuật kinh doanh,
công thức điều hành quản lý và huấn luyện nhân viên cho bên nhận nhượng
quyền.
• Tiêu chí phát triển hoạt động
 Franchise độc quyền (Master franchise): là hình thức mua franchise, mà
trong đó người mua được phép thực hiện nhượng quyền lại trong một
khu vực, lãnh thổ cụ thể và cam kết phát triển về số lượng đơn vị kinh
doanh nhượng quyền trong từng giai đoạn cụ thể với bên bán.
 Người mua master franchise có thể nhượng lại cho bên thứ ba dưới hình
thức franchise phát triển khu vực (Area development franchise) hay
franchise riêng lẻ (single-unit franchise. Nếu người mua muốn mở thêm
12
đơn vị nhượng quyền mới, thì cũng phải ký thêm hợp đồng mới với nội
dung tương tự với bên bán. Theo hình thức này, người mua không được
phép nhượng quyền lại. Với hình thức này, bên mua thương hiệu phải
chủ động tìm kiếm khách hàng, phát triển thương hiệu trong khu vực
của
 Franchise vùng (Regional franchise): Đây là hình thức franchise mà
người mua regional franchise sẽ nhận nhượng quyền từ người chủ
thương hiệu hoặc người mua master franchise để bán lại cho các người
mua franchise nhỏ lẻ (singl-unit franchise) trong vùng (region) mà mình
mua với những quy định theo thỏa thuận với công ty nhượng quyền.
Hình thức này giống như trung gian của master franchise và single-unit
franchise. Điểm khác biệt của hình thức này với hình thức master

hoặc duy nhất. Vì thế thương hiệu là một trong những thành tố có giá trị nhất trong
chủ đề quảng cáo.
Bản sắc của một sản phẩm hoặc một thương hiệu là những giá trị mà nhà sản
xuất/sở hữu thương hiệu muốn người tiêu dùng tin vào và nhận biết sản phẩm. Nhà sở
hữu phải tìm cách gắn kết hình ảnh thương hiệu và căn cước của thương hiệu càng
gần với nhau càng tốt. Những thương hiệu có hiệu quả cao thương biết cách kết nối
giữa cá tính của thương hiệu trong quan niệm của đối tượng phục vụ và bản thân
chính sản phẩm hoặc dịch vụ nó cung cấp. Hơn nữa, thương hiệu cần phải nhằm vào
một số nhóm dân cư nhất định. Đặc biệt, những thương hiệu có sức sống lâu dài
thường là những thương hiệu dễ nhớ, có thể duy trì qua nhiều xu hướng đổi thay, và
mang lại một ấn tượng tích cực. Bản sắc của thương hiệu là hết sức quan trọng giúp
người tiêu dùng nhận ra sản phẩm; nó chính là biểu tượng của sự khác biệt của một
thương hiệu so với những sản phẩm cạch tranh khác.
• Tính đồng bộ, hệ thống và tính địa phương
Tính đồng bộ và hệ thống là điểm mấu chốt của các doanh nghiệp kinh doanh nhượng
quyền phải hoàn thiện để đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Tính đồng bộ của hệ thống
nhượng quyền phải được thể hiện từ logo, nhãn hiệu, khẩu hiệu cho đến cách bài trí
cửa hiệu, màu sắc trang trí, phương thức hoạt động, …để tạo được lòng tin cho khách
hàng về thương hiệu uy tín và chuyên nghiệp, giúp khách hàng dễ dàng nhận ra sản
phẩm của mình.
14
Tuy nhiên không phải lúc nào ta cũng có thể cứng nhắc trong việc đồng bộ mà còn
phải xét đến tính địa phương vì nó thể hiện thói quen hay phong tục của người địa
phương ảnh hưởng đến việc kinh doanh. Thói quen của khách hàng có thể thay đổi tùy
theo mỗi vùng, theo từng quốc gia như 1 số quốc gia đạo Hồi hoặc Hindu không thể
ăn thịt bò hoặc lợn… hay như ở Việt Nam, ở mỗi miền đều có 1 khẩu vị khác nhau,
cách thức ăn uống cũng khác nhau.
Vì thế, đồng bộ ở chỉ mang tính tương đối chứ không phải là một sự sao chép
nguyên bản các cửa hàng trong cùng một hệ thống; vẫn phải có phần nào khác để phù
hợp với địa phương do yếu tố con người tồn tại ở tất cả các khâu, nhất là lĩnh vực dịch

giải quyết, trong đó nhượng quyền thương hiệu (NQTH) là một hoạt động thương mại
hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) ở VN. Kể từ năm
2006, franchise chính thức được luật hoá và công nhận. Luật Thương mại 2005 (có
hiệu lực từ 01/01/2006) đã dành nguyên Mục 8 Chương VI để quy định về hoạt động
nhượng quyền thương mại. Đồng thời, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động
nhượng quyền thương mại, đến ngày 25/5/2006 thì Bộ Thương mại ban hành Thông
tư 09/2006/TT-BTM hướng dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại. Đây
chính là những căn cứ pháp lý cơ bản nhất, tương đối đầy đủ để điều chỉnh và tạo điều
kiện cho franchise phát triển tại Việt Nam.
16
Theo thống kê, trên thế giới hiện nay có hàng nghìn hệ thống kinh doanh dưới
hình thức nhượng quyền thương mại, trong khi tại Việt Nam có khoảng 200 hệ thống
đang hoạt động. Thông tin này được đưa ra tại hội thảo “Nhượng quyền thương hiệu -
Xu hướng phát triển mới, cơ hội và tiềm năng” do Trung tâm hỗ trợ xuất khẩu phía
Nam - Cục xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) tổ chức tại Thành phố Hồ Chí
Minh ngày 11/5.
Là một đất nước có nền kinh tế tăng trưởng cao suốt 5 năm năm qua, GDP bình
quân 7,5%/năm, không có xung đột về tôn giáo, chính trị; một thị trường tiềm năng
với dân số 84 triệu người, trong đó 70% số dân độ tuổi dưới 30, đa số thích mua sắm,
tiêu dùng. Theo khảo sát của Tổng cục thống kê gần đây trong lĩnh vực tiêu dùng cho
thấy, có 90% người tiêu dùng quyết định mua sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thông qua
thương hiệu và theo số liệu của Hội đồng nhượng quyền thương mại thế giới – WFC,
năm 2006 VN được xếp là thị trường bán lẻ đứng thứ ba thế giới với sức mua khoảng
21 tỷ USD, có trên 70 hệ thống nhượng quyền đang họat động với tốc độ tăng trưởng
mỗi năm khoảng 15 – 20%. Đây là xu hướng và cũng là cơ hội cho những DNVVN
muốn thử sức bằng các hình thức nhượng quyền. Những năm gần đây, hình thức
“NQTH” không còn xa lạ và trở thành vấn đề gây chú ý đối với các DNVVN ở VN.
Nhìn một cách tổng quan, hoạt động nhượng quyền tại VN đã khởi sắc, hứa hẹn một
thị trường đầy hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh các thương hiệu

cũng đã khai trương tiệm café, Hard Rock Café của Mỹ,
Subway, thương hiệu thức ăn nhanh lớn thứ 2 thế giới sau McDonald’s (Mỹ),
đã chính thức vào Việt Nam (02/2011) nối gót các thương hiệu như KFC, Lotteria,
Jollibee, hợp tác với hãng nước giải khát Mỹ PepsiCo mở nhà hàng đầu tiên tại “khu
phố Tây” trên đường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 (TP.HCM). Theo đó, Subway cung cấp
các sản phẩm bánh mì kẹp thịt, còn PepsiCo thì lo về thức uống. Mục tiêu của Subway
là mở 50 nhà hàng tại Việt Nam đến năm 2015, có thể dưới hình thức nhượng quyền
thương hiệu. Bên cạnh đó, nhãn hiệu kem lớn nhất thế giới Baskin – Robbins đánh
dấu sự gia nhập thị trường Việt Nam với ba cửa hàng đầu tiên khai trương tại
TP.HCM, thông qua đối tác độc quyền là Blue Star Food.
KFC (Mỹ) cũng tăng khoảng 100 nhà hàng trong năm 2011 từ 90 nhà hàng
hiện có, với mục tiêu nhân đôi con số năm 2015. Chuỗi cửa hàng này đang chiếm 60%
thị phần thức ăn nhanh tại Việt Nam và toạ lạc ở nhiều vị trí đẹp. Lotteria (Hàn Quốc)
18
thì lên kế hoạch đạt 100 nhà hàng từ con số 65 hiện tại. Dù phần lớn nhà hàng hiện có
của KFC và Lotteria là tự đầu tư, nhưng với kế hoạch mở rộng, các thương hiệu này
cho biết sẽ bắt đầu thực hiện nhượng quyền. Thương hiệu Pizza Hut của Yum Brands
cũng có mặt tại Việt Nam năm 2007, đến nay phát triển với gần 20 cửa hàng bao gồm
cả dịch vụ Pizza Hut Delivery chuyên giao bánh tận nơi. Thị trường cũng đang chờ
đợi những thương hiệu thức ăn nhanh nổi tiếng khác của Mỹ nhập cuộc như
McDonald’s, Starbucks bên cạnh những tên tuổi đang xúc tiến nhượng quyền hoặc tìm
kiếm đối tác vào Việt Nam như Round Table Pizza, Applebee’s, Focus Brands, Which
Wich, Melting Pot…
• Ngành bán lẻ
Chỉ trong vòng 5 năm trở lại đây, hàng loạt các đại siêu thị đã được các nhà phân
phối nước ngoài đã xây dựng ở Việt Nam. Đầu tiên là Metro Cash & Carry, tập đoàn
của Đức, nhà phân phối lớn thứ 5 trên thế giới đã nhanh chóng xây dựng siêu thị tại 5
trung tâm của Việt Nam là Tp. HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hà Nội và Hải Phòng.
Tập đoàn Parkson của Malaysia đã chính thức tham gia vào thị trường Tp. HCM
với trung tâm mua sắm Parkson rất lớn ở Quận 1 và vừa khai trương thêm 1 trung tâm

tháng 06/2010, Phở 24 đã mở được 57 cửa hàng trong nước: tại thành phố Hồ Chí
Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Nha Trang, Bình Dương, và 16 cửa hàng ngoài
nước như Jakarta (Indonesia), Manila (Philippines), Seoul (Hàn Quốc), Phnom Penh
(Campuchia), Úc, Hồng Kông. Thời gian tới, Phở 24 dự định mở thêm cửa hàng ở một
số thành phố chính của Việt Nam cũng như nước ngoài, nơi có đông dân cư người
châu Á và đặt mục tiêu đạt tổng số 200 cửa hàng vào năm 2012. Phở 24 tuy không
phải là người đi tiên phong trong hình thức kinh doanh nhượng quyền thương mại tại
nước ta. Tuy nhiên, Phở 24 lại là mô hình nhượng quyền thành công nhất trong số các
doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh nhượng quyền
Cũng trong lĩnh vực thực phẩm, Wrap & Roll, chuỗi nhà hàng cuốn Việt Nam
với xấp xỉ 10 nhà hàng (không theo hình thức nhượng quyền), đang tìm kiếm đối tác
tại Úc để tiến hành nhượng quyền thương hiệu ở quốc gia này. Bên cạnh các thương
hiệu nói trên, có thể kể đến Kinh Đô bakery, thời trang Ninomax, Foci, giày dép
T&T Đặc biệt T&T là một trong những doanh nghiệp đầu tiên được Bộ Công
Thương cấp phép nhượng quyền sang Malaysia và Úc. Đây cũng là những tín hiệu
đáng mừng cho sự phát triển non trẻ của lĩnh vực nhượng quyền thương mại tại Việt
Nam.
20
2.3 Những lợi ích và thách thức khi kinh doanh bằng hình thức nhượng quyền
2.3.1 Lợi ích
Thứ nhất: Phát triển và nhân rộng mạng lưới kinh doanh, đây là một yếu tố tất yếu và
cũng là nhu cầu của bất cứ doanh nghiệp một khi phương án và kế hoạch gia tăng thị
phần của doanh nghiệp luôn là nhu cầu đặt ra trong thời kỳ mà sự cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp là thực trạng. Chúng ta hiểu rằng, nhu cầu của doanh nghiệp là vô hạn
nhưng khả năng và năng lực tài chính là một giới hạn cũng như các yếu tố khác hữu
hạn đối với mọi doanh nghiệp đó là con người, kiến thức địa phương và mạng
lưới quản trị … Một cách để giải quyết và giúp các doanh nghiệp đáp ứng phần nào
nhu cầu vô hạn đó là "mô hình nhượng quyền" được phát triển rất hiệu quả đối với các
nước và điều đó đã được minh chứng thông qua các thương hiệu đã và đang áp dụng
mô hình này để mở rộng và phát triển trong đó có thể kể đến là Mcdonald’s, gà rán

nhận nhượng quyền trong một thời gian nhượng quyền nhất định, khi hết thời hạn
nhượng quyền thì giá trị của những lô đất này được tăng lên gấp nhiều lần so với giá
trị mua ban đầu cũng như so với các lô đất hiện có quanh khu vực của cửa hàng tại
cùng thời điểm. Bởi lẽ, người ta cho rằng, chính thương hiệu của Mcdonald’s đã làm
cho giá trị của lô đất tại vị trí đó tăng lên nhiều lần và đó là 1 trong những yếu tố gián
tiếp tạo thêm lợi thế cho chính lô đất và tương ứng là một khoản lợi nhuận gia tăng
thêm cho lô đất được tạo ra từ nhượng quyền.
2.3.2 Thách thức
Một thách thức khi nói đến nhượng quyền kinh doanh là sự tin cậy giữa "bên bán" và
"bên mua". Tiêu chí luôn được đặt ra cho hệ thống các cửa hàng franchise là phải nhất
quán từ nội dung kinh doanh, tên hiệu đến cách bài trí để tạo được sự đồng bộ về chất
lượng sản phẩm và dịch vụ. Đề cập đến vấn đề này, Phở 24 cho biết, họ luôn có các
đội kiểm tra vệ sinh, kiểm tra chất lượng bếp thường xuyên đi kiểm tra đột xuất các
cửa hàng. Ngoài ra, Phở 24 còn tổ chức một nhóm gọi là "khách hàng bí mật", chuyên
góp ý trên tinh thần "ham đóng góp". Vị khách bí mật này sẽ tự chọn vào một hay
nhiều quán Phở 24 bất kỳ để thưởng thức và họ phải trả lời cho Công ty một số câu
hỏi. Sau đó Công ty sẽ trả cho họ số tiền mà họ đã dùng tại cửa hàng. Dĩ nhiên, các
nhân viên của Phở 24 không hề biết về những "khách hàng bí mật" này.
22
Tuy nhiên, biện pháp này mới chỉ đảm bảo được chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
ở khắp các cửa hàng Phở 24 trong cả nước mà chưa thể mang đến sự đồng bộ về
hương vị. Ở từng cửa hàng khác nhau, mùi vị phở cũng có phần khác biệt nên người
dùng cũng mất sự tin tưởng: họ có thể đến chỗ này mà không bao giờ đến chỗ kia, dù
chung một hệ thống. Chưa kể, một số nhà hàng Phở 24 có bán kèm cả cơm, lẩu, một
số khác thì không.
Bài toán chi phí cũng là điều mà các thương hiệu nhượng quyền phải tính toán để
thuyết phục đối tác về tính khả thi của franchise. Đơn cử với Phở 24, phí nhượng
quyền khoảng từ 15.000 - 20.000 USD/cửa hàng, chưa kể phí vận hành khoảng từ 3
đến 4% doanh thu của từng cửa hàng. Trong khi mức đầu tư ban đầu cho một cửa
hàng Phở 24 từ khoảng 50.000 đến 60.000 USD (khoản tiền này do bên nhận quyền tự

tối ưu các nguồn lực của các nhà nhượng quyền và nhà nhận quyền tại Việt Nam cũng
không nằm ngoài xu thế này. Trong xu thế đó, vần đề đặt ra là làm sao củng cố vững
chắc hệ thống đại lý nhượng quyền trong xu thế cạnh tranh quốc tế như hiện nay?
Để củng cố và phát triển hệ thống nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, nhà
nhượng quyền Việt Nam cần xây dựng môt hệ thống các qui trình, qui định, giải pháp
sao cho hệ thống vừa đảm bảo phát triển hiệu quả trong ngắn hạn và bền vững trong
dài hạn. Cụ thể là nâng cao chất lượng chuyển giao và chất lượng quan hệ cho hệ
thống nhượng quyền của mình.
Vì vậy, có thể thấy rằng muốn phát triển một cách bền vững hệ thống theo hình
thức nhượng quyền thương mại, cần phải có các thước đo hiệu quả trong ngắn hạn và
dài hạn. Cụ thể là nâng cao chất lượng chuyển giao và duy trì liên tục chất lượng quan
hệ. Vì bản thân hệ thống nhượng quyền thương mại tồn tại và phát triển cần có sự cam
kết của cả nhà nhượng quyền và nhận quyền trong một thời gian dài, từ đó sẽ gia tăng
sức mạnh của hệ thống, nâng cao được lòng trung thành của khách hàng. Điều này có
thể nói là sống còn cho hệ thống. Vì vậy, dưới góc độ chất lượng chuyển giao và chất
lượng quan hệ để củng cố và phát triển hệ thống nhượng quyền thương mại, nhà
nhượng quyền cần cân nhắc hệ thống các giải pháp sau:
Trước hết, cần xác định cho hệ thống thương hiệu, sản phẩm, mô hình, hệ
thống các qui trình dự định chuyển giao cho các nhà nhận quyển trong tương lai,
chương trình đào tạo, địa điểm đào tạo, qui trình vận hành, kiểm soát, tư vấn… thật rõ
ràng và chi tiết. Nhà nhượng quyền cần biết rằng, đã là một hệ thống nhượng quyền
thì không phải là một điểm, hai điểm mà là nhiều hơn như vậy, không phải chỉ tại
Thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội mà là Việt Nam và thế giới với nhiều điểm khác
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status