Quan niệm văn học của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du - Pdf 12

Quan niệm văn học của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du
BÀI LÀM
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong dòng chảy lịch sử của văn học trung đại Việt Nam không thể không nhắc
đến hai cây đại thụ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du. Thông qua hệ thống các quan
niệm về văn học đã cho ta thấy được nhãn quan chính trị và cách ứng xử của
Nguyễn Trãi và Nguyễn Du. Từ đó, có thể hiểu sâu sắc hơn về bối cảnh lịch sử của
từng thời đại.
2. NỘI DUNG
2.1. Quan niệm văn học của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du
2.1.1. Quan niệm văn học của Nguyễn Trãi
Là một nhà đạo đức- chính trị, nên trước hết Nguyễn Trãi quan niệm “văn dĩ tải
đạo”, “thi dĩ ngôn chí”. Theo ông, làm thơ là để truyền tải những đạo lý của các
bậc thánh nhân. Văn chương phải tham gia vào công cuộc giáo hóa, tổ chức xã hội,
phải có ích cho quốc kế dân sinh. Đây là chức năng cao quý của văn chương:
“Văn chương chép lấy đòi câu thánh,
Sự nghiệp tua gìn phải đạo trung.
Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược,
Có nhân, có trí, có anh hùng.
(Bảo kính cảnh giới- Bài số 5)
Quan niệm này còn được thể hiện thông qua lời tấu của Nguyễn Trãi dâng lên vua
khi được giao làm nhã nhạc cung đình: “Kể ra thì thời loạn trọng võ,thời bình
trọng văn. Nay quả rất đúng lúc phải chế ra các loại lễ nhạc. Nhưng nhạc phải có
gốc mới đứng, phải có văn mới hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn
của nhạc, dám đâu không dốc hết sức ra mà làm, nhưng vì học thuật thì nông cạn,
chỉ sợ thanh luật không được hài hòa. Cúi xin bệ hạ thương yêu mà nuôi nấng dân,
khiến cho mọi xóm thôn không còn tiếng oán hờn, buồn khổ, như thế mới giữ
được gốc của nhạc”.
Phạm Thị Thùy- Văn K55
Quan niệm văn học của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du
Sở dĩ, Nguyễn Trãi có quan niệm văn học như vậy, bởi ông đứng trên lập trường

2.2. Quan niệm về cách thể hiện cảm xúc trong thơ (Cái “Tôi” trữ tình trong thơ)
của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du
2.2.1. Cách thể hiện cảm xúc trong thơ của Nguyễn Trãi
Là một nhà nho, nên Nguyễn Trãi luôn kìm nén cảm xúc của mình đến mức tối đa
nhất. Bởi vậy, cảm xúc chủ đạo trong thơ Nguyễn Trãi mang màu sắc trung hòa
“lạc nhi bất dâm/ Ai nhi bất thương/ Oán nhi bất nộ” (Vui mà không quá mức/
Buồn không rơi vào đau thương/ Oán giận không rơi vào phẫn nộ- Sách Trung
Dung của Khổng Tử). Nguyễn Trãi không lựa chọn những trạng thái cảm xúc
phàm tục :
“Cõi phàm tục khỏi lòng phàm tục
Học thánh nhân chuyên thói thánh nhân”
(Bảo kính cảnh giới- Bài 60)
Bởi vậy, Nguyễn Trãi luôn luôn giữ được trạng thái tâm lý cân bằng, ung dung tự
tại, kể cả lúc buồn cũng như lúc vui. Tâm thế này được thể hiện rõ qua bài Cảnh
ngày hè:
“Rồi hóng mát , thuở ngày trường
Hòe lục đùn đùn, tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ, khắp đòi phương”.
Hay trong hoàn cảnh được giao cho chức nhàn quan, ông vẫn giữ được cho mình
một trạng thái ung dung, tự tại:
Phạm Thị Thùy- Văn K55
Quan niệm văn học của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du
- “Hỷ đắc thân nhàn quan hựu lãnh
(Mừng được thân nhàn mà chức quan rảnh rỗi)
- “Quan lãnh thân nhàn mộng tiệc thanh

trọng nhất của phong cách thơ Nguyễn Du đối với thơ trung đại Việt Nam.
Cùng viết về Khuất Nguyên, nhưng Nguyễn Trãi và Nguyễn Du lại có những cảm
nhận khác nhau. Nguyễn Trãi thì đứng trên nhãn quan của một nhà đạo đức- chính
trị,nên ông chỉ tập trung vào những phương diện trung- hiểu- tiết- nghĩa. Còn
Nguyễn Du lại đứng trên nhãn quan của một nghệ sĩ, nên ở Nguyễn Du có sự đồng
cảm sâu sắc hơn:
“Bất thiệp Hồ Nam đạo
An tri tương thủy thâm?
Bất độc Hoài Sa phú,
An thức Khuất Nguyên tâm?
Khuất Nguyên tâm, Tương giang thủy,
Thiên thu, vạn thu thanh kiến để…”
(Không đi qua Hồ Nam
Biết sao được sông Tương sâu?
Không đọc bài phú Hoài Sa,
Biết sao được nỗi lòng của Khuất nguyên?
Nghìn năm, vạn năm vẫn thấy trong suốt thấy đáy).
(Biện Giả- Nguyễn Du)
Trong Phản chiêu hồn, Nguyễn Du đã thể hiện cảm xúc của mình một cách mãnh
liệt về một thế giới bốn phương đông tây nam bắc không có chỗ dựa cho con
người, một thế giới hãi hùng, đáng sợ. Nguyễn Du đã đưa cảm hứng xã hội vào bài
thơ, cảm hứng này làm mờ đi tư duy thần thoại của chiêu hồn, đồng thời gia tăng
Phạm Thị Thùy- Văn K55
Quan niệm văn học của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du
tinh thần thế tục, cảm hứng phê phán hiện thực, cái nhìn “tật thế” (oán ghét xã
hội):
“Hậu thế nhân gian giai Thượng Quan,
Đại địa xứ xứ giai Mịch La.
Ngư long bất thực, sài hổ thực,
Hồn hề! hồn hề! Nại hồn hề”

đồng cảm và chiêu tuyết cho họ. Khi viết về Dương Quý Phi, Nguyễn Du đã chỉ ra
rằng cái loạn An Sử và sự suy vi của nhà Đường, không phải là do sắc đẹp của
Dương Quý Phi gây ra mà nó là kết quả của chính sách cai trị của các bậc vua
chúa, của chính sự thối nát của chế độ phong kiến. Cách nhìn của Nguyễn Du là
cách nhìn mới mẻ, trái với quan niệm thông thường.
2.3. Đề tài chủ yếu trong thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du
2.3.1. Đề tài chủ yếu trong thơ Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi đã đứng trên điểm nhìn của một nhà chính trị- đạo đức, nên trong thơ
ông chủ yếu nói về những khái niệm nhân nghĩa, về mô hình xã hội lý tưởng “vua
Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn” , về nhân dân:
“ Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn
Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền”
(Tự thán, bài 4)
Ông vẽ lên một bức tranh xã hội nông nghiệp lấy việc chuyên cần cày cấy làm gốc,
người nông dân cần cù, vui vẻ lao động dưới sự dẫn đạo của các vị vua hiền minh:
“Cày ruộng cuốc vườn dâu hết khỏe,
Tôi Đường Ngu ở đất Đường Ngu”
(Trần tình, bài 7)
Ông ước mơ cho dân chúng khắp nơi đều được no đủ:
“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Phạm Thị Thùy- Văn K55
Quan niệm văn học của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du
Dân giàu đủ khắp đòi phương”
(Cảnh ngày hè)
Hình ảnh vua Nghiêu Thuấn- một vị vua anh minh đức độ luôn trở đi trở lại trong
những sáng tác của Nguyễn Trãi. Trong bài Biểu tạ ơn, viết năm ông sáu mươi tuổi
khi được vua Lê Thái Tông vời ra trao cho chức vụ, Nguyễn Trãi đã khắc họa vẻ
đẹp nhân đức của Nghiêu Thuấn:
“Đế Nghiêu là thánh là thần, biết người rất rõ. Đại Thuấn thích nghe thích xét, đãi
chúng lấy khoan. Chọn người hiền không có loại nào, dùng người tài xem như

(Sở kiến hành)
Hay tình cảnh đau xót của hai ông cháu hát rong ở Thái Bình, trong Thái Bình mại
ca giả, hát đến sùi bọt mép mà chỉ được có năm, sáu đồng bạc:
“Miệng sùi tay lão ông
Cất đàn, ngồi lại thưa rằng đã xong
Gần một canh, hết lòng hết sức
Năm sáu đồng kiếm được thế thôi”
Trong khi đó, bọn quan lại thì gạo, thịt ứ đầy một thuyền, ăn không hết đổ xuống
sông cho cá.:
“Gạo thịt đầy thuyền cái con con
Người ăn no ứ vẫn còn
Đáy sông cơm ngọt món ngon đổ chìm”
Viết về những người tài hoa bạc mệnh, Nguyễn Du không chỉ thấu hiểu, cảm thông
mà còn thương cảm cho chính mình như Tiểu Thanh, Dương Quý Phi, Khuất
Nguyên, Đỗ Phủ, Lý Bạch,…
Từ cảm thông, ông đã đặt ra câu hỏi “thiên nan vấn” để truy tìm nguyên nhân của
nỗi bất hạnh ấy:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phạm Thị Thùy- Văn K55
Quan niệm văn học của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du
Phong vận kỳ oan ngã tự cư”
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)
(Độc Tiểu Thanh ký)
Có thể thấy, đề tài về những người tài hoa bạc mệnh đã trở thành một trong những
sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du và cũng là đề tài
chính trong sáng tác của ông.
3. KẾT LUẬN
Thông qua quan niệm sáng tác của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du đã cho ta
thấy được tư tưởng về nghệ thuật cũng như chính trị- xã hội của hai ông.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status