Lời mở đầu.
Xu hớng toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế với đặc trng nổi bật là tự do
hoá tài chính ngày càng rộng khắp và mạnh mẽ, đã và đang chi phối khuynh h-
ớng và cấu trúc vận động của hệ thống tài chính- ngân hàng của từng quốc gia.
Nền kinh tế mở cửa cũng là lúc các ngân hàng phải mở cửa. Từ đó kinh doanh
ngoại tệ ra đời và ngày càng trở nên có ý nghĩa đối với hoạt động kinh tế đối
ngoại, thơng mại xuất nhập khẩu và đầu t của đất nớc.
Trớc những thành tựu đã đạt đợc trên phơng diện kinh tế đối ngoại nh:
Bình thờng hoá quan hệ với Mỹ, ký hiệp định khung hợp tác Liên minh
Châu Âu, trở thành thành viên chính thức của Asean, đồng thời cũng là lúc
xuất hiện nhu cầu ngoại tệ ngày càng lớn của khách hàng, phát triển cả về quy
mô lẫn chất lợng. Điều đó đặt ra một thách thức lớn đối với hệ thống Ngân hàng
thơng mại Việt Nam trong việc thu hút khách hàng và tăng lợi nhuận cho ngân
hàng. Do đó bên cạnh các hoạt động kinh doanh truyền thống nh huy động
vốn, cho vay, đầu t, thanh toán, ngân hàng ngày nay còn phát triển nhiều dịch
vụ kinh doanh mới để thoả mãn nhu cầu của nền kinh tế trong đó có hoạt động
kinh doanh ngoại tệ mà tơng lai sẽ trở thành một trong những hoạt động kinh
doanh lớn nhất của ngân hàng hiện đại.
Trên cở sở nhận thức đợc tính cấp thiết của vấn đề và qua quá trình thực
tập tại Sở giao dịch NHNo em đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu: Giải pháp
mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Sở giao dịch NHNo và PTNT
Việt Nam. Nội dung của chuyên đề bao gồm ba chơng:
Chơng I: Ngân hàng thơng mại và hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân
hàng thơng mại.
Chơng II : Thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại sở giao dịch ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
1
Chơng III: Giải pháp mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Sở giao dịch
NHNo & PTNN Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo- Tiến sỹ Đào Văn Hùng cùng các
hàng thơng mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và th-
ờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng
số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng tiện
thanh toán.
Các họat động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thơng mại
Qua khái niệm về ngân hàng thơng mại trên, ta thấy NHTM là một loại
hình doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế thị trờng, có các hoạt động kinh
doanh chủ yếu sau :
3
- Huy động vốn bằng việc nhận tiền gửi tiết kiệm và phát hành các
chứng chỉ tiền gửi khác...
- Tín dụng ngắn trung và dài hạn.
- Phục vụ nhu cầu thanh toán của khách hàng
- Các nghiệp vụ khác nh kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh vàng bạc đá
quý, các dịch vụ t vấn, bảo quản và quản lý tài sản của khách hàng, bảo lãnh,
dịch vụ uỷ thác và t vấn, môi giới và đầu t chứng khoán
1.2. Họat động kinh doanh ngoại tệ tại các Ngân hàng
thơng mại .
1.2.1. Khái niệm về kinh doanh ngoại tệ .
Khái niệm.
Ngoại hối là phơng tiện thanh toán thể hiện dới dạng ngoại tệ hoặc các
khoản phải thu, phải trả bằng ngoại tệ. Theo khái niệm này thì ngoại hối bao
gồm hối phiếu, séc bằng ngoại tệ và số d có trên tài khoản tại Ngân hàng nớc
ngoài.
Hoạt động ngoại hối bao gồm các hoạt động đầu t, cho vay, bảo lãnh,
mua, bán và các giao dịch khác về ngoại hối. Nh vậy kinh doanh ngoại hối nằm
trong các hoạt động ngoại hối.
Kinh doanh ngoại hối theo nghĩa rộng bao gồm việc mua bán ngoại hối,
đảm bảo ổn định số d trên tài khoản kinh doanh ngoại hối tại nớc ngoài và tìm
những hoạt động đầu tiên và đang ngày càng đợc mở rộng và phát triển. Nó có
vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và đối với bản thân ngân hàng.
1.2.2.1. Đối với nền kinh tế.
+Kinh doanh ngoại tệ giúp cho các doanh nghiệp mua bán ngoại tệ dễ dàng,
nhằm bôi trơn cho các hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động dịch vụ có
liên quan đến ngoại tệ. Qua đó rút ngắn đợc qúa trình tích luỹ vốn làm tăng tốc
độ chu chuyển vốn dẫn đến nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và ổn định
5
các hoạt động khác trong nền kinh tế do các doanh nghiệp trong nền kinh tế có
quan hệ mạng lới với nhau.
+Tạo cho các doanh nghiệp khả năng tránh rủi ro trong thanh toán bằng ngoại
tệ. Các doanh nghiệp có thể lợi dụng chính các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ
của ngân hàng để phòng chống rủi ro do tỷ giá hối đoái biến động theo hớng
không có lợi từ lúc kí hợp đồng cho đến khi thanh toán. Đó là sử dụng các hợp
đồng trong kinh doanh ngoại tệ nh hợp đồng kì hạn, hợp đồng quyền chọn, hợp
đồng hoán đổi Swap.
+Kinh doanh ngoại tệ giúp cho các nhà đầu t chuyển đổi ngoại tệ để đầu t
phục vụ mục đích của họ.
1.2.2.2. Đối với bản thân ngân hàng.
+Đáp ứng nhu cầu của khách hàng: Đây là một loại hình dịch vụ do ngân
hàng cung cấp nhằm thoả mãn nhu cầu về ngoại tệ của khách hàng. Các nhu
cầu của khách hàng có thể là: đổi ngoại tệ để đi du lịch, mua bán ngoại tệ sau
các hợp đồng xuất nhập khẩu, mua ngoại tệ để kí quĩ trong thanh toán L/C
Nh vậy nếu một ngân hàng luôn đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho khách hàng,
tức là có thể cung ứng đầy đủ ngoại tệ khi khách hàng có nhu cầu mua hợp lí và
mua hết ngoại tệ nếu khách hàng có nhu cầu bán thì rõ ràng ngân hàng đó sẽ có
u thế hơn trong việc cung cấp dịch vụ so với các ngân hàng khác trong cạnh
tranh. Do đó hiệu quả của hoạt động kinh doanh ngoại tệ ảnh hởng lớn tới hiệu
quả hoạt động ngân hàng.
vị ngoại tệ. Giá của đồng ngoại tệ cha bộc lộ ra ngoài mà phải làm một phép
tính mới biết đợc. Ví dụ: 1 GBP=1.555 USD là yết giá gián tiếp tại Mỹ thì tỷ giá
trực tếp sẽ là: 1 USD=1/1.555 GBP=1.553 GBP.
Cả hai cách yết tỷ giá trên đều xét từ góc độ quốc gia còn trên thị trờng
ngoại hối quốc tế thì tất cả các đồng tiền đều đợc yết giá so với đồng USD trong
7
đó USD đều đóng vai trò là đồng tiền yết giá, trừ 5 đồng tiền sau đóng vai trò là
đồng tiền yết giá so với USD: EUR, GBP, SDR, AUD, IEP.
Các loại tỷ giá:
Tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra: tỷ giá mua vào là tỷ giá tại đó ngân hàng
yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá. Tỷ giá bán ra là tỷ giá tại đó ngân
hàng sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá.
Tỷ giá tiền mặt và tỷ giá chuyển khoản: tỷ giá tiền mặt áp dụng cho các
ngoại tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc du lịch, thẻ tín dụng. Tỷ giá chuyển khoản
áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là các khoản tiền gửi tại ngân hàng.
Thông thờng tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn và tỷ giá bán tiền mặt cao hơn tỷ giá
chuyển khoản.
Tỷ giá chéo:
Định nghĩa: tỷ giá giữa hai đồng tiền đợc xác định thông qua đồng tiền
thứ ba. Trên thực tế do vai trò của đồng USD rất lớn nên tỷ giá chéo đợc định
nghĩa là tỷ giá giữa hai đồng tiền không có sự tham gia của đồng USD. Hay nói
cách khác tỷ giá giữa hai đồng tiền bất kỳ đều đợc suy ra từ tỷ giá giữa chúng
với USD.
Ví dụ trên thị trờng có hai tỷ giá : GBP/USD, USD/JPY thì tỷ giá
GBP/JPY là tỷ giá chéo. Tỷ giá chéo tồn tại do có một số tỷ giá giữa hai ngoại
tệ không đợc ngân hàng niêm yết, để tính đợc tỷ giá giữa chúng phải thông qua
tỷ giá của chúng đợc niêm yết với USD.
Trạng thái ngoại tệ.
Trạng thái ngoại tệ của một tổ chức phản ánh hiện trạng hoạt động ngoại
một tài sản có của ngân hàng).
Khi vay ngoại tệ: tạo ra luồng tiền vào của ngoại tệ nhng không
ảnh hởng đến trạng thái ngoại tệ ròng vì sự tăng lên số d trên tài khỏan
NOSTRO bằng với sự tăng lên của nguồn vốn đi vay bên phía tài sản nợ.
1.2.4. Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng thơng mại .
Các nghiệp vụ trong kinh doanh ngoại tệ của một Ngân hàng thơng mại
đồng thời cũng là các loại giao dịch diễn ra trên thị trờng ngoại hối.
9
1.2.4.1. Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ giao ngay.(Spot)
Giao dịch hối đoái giao ngay là thoả thuận giữa hai bên về việc mua một
đồng tiền và bán một đồng tiền khác tại một tỷ giá xác định với ngày thanh
toán( hay ngày giá trị) thông thờng là hai ngày kể từ khi kí hợp đồng.
Nh vậy trong mật hợp đồng giao ngay sẽ có các chi tiết nh: ngày kí hợp
đồng hay ngày giao dịch, ngày giá trị của hợp đồng, tỷ giá giao dịch và khối l-
ợng giao dịch.
Giao dịch giao ngay là loại hình giao dịch phổ biến nhất trên thị trờng
ngoại hối. Tỷ giá trong giao dịch giao ngay có thể là tỷ giá đợc niêm yết sẵn
trên thị trờng còn đối với loại ngoại tệ không đợc niêm yết trực tiếp thì ngân
hàng phải xác định tỷ giá bằng phơng pháp tính chéo.
Hàng ngày các nhà kinh doanh ngoại tệ của một ngân hàng phải theo dõi
số d tài khoản kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng mình và lợng ngoại tệ mua
vào bán ra để đánh giá tình trạng số d tài khoản của từng loại ngoại tệ.
Trờng hợp số d của một ngoại tệ quá cao hay quá thấp thì phải điều chỉnh
ngay.
Một ví dụ về nghiệp vụ giao ngay:
Một khách hàng là nhà nhập khẩu muốn mua của ngân hàng A 10000
USD để thanh toán tiền hàng với một nhà xuất khẩu Mỹ đồng thời yêu cầu ngân
hàng A làm ngân hàng đại lí cho mình trong điều khoản của thanh toán quốc tế.
Giả sử khách hàng tại Mỹ lại có tài khoản tại ngân hàng N là một ngân hàng mà
Nghiệp vụ này thể hiện dới hai dạng là kinh doanh giản đơn và kinh
doanh phức tạp. Kinh doanh giản đơn là chỉ tiến hành giao dịch trên hai thị tr-
ờng còn kinh doanh phức tạp là tiến hành giao dịch trên ba thị trờng trở lên tại
cùng một thời điểm. Nghiệp vụ này đợc áp dụng chủ yếu giữa các ngân hàng
với nhau tuy nhiên trong thực tế các thành viên tham gia vào thị trờng ngoại đều
có thể kinh doanh, kể cả những nhà kinh tế có nguồn thu ngoại tệ cao, muốn
kiếm lời khi phát hiện ra thị trờng này có thể yêu cầu ngân hàng nơi họ có tài
khoản thực hiện nghiệp vụ acbit cho họ. Đây thờng là những ngời rất nhanh
11
nhạy với thị trờng. Ngân hàng khi đó sẽ thực hiện nghiệp vụ acbit với t cách là
thực hiện theo yêu cầu của khách hàng và thu phí.
Tuy nhiên việc mua bán ngoại tệ nh vậy có xu hớng làm bình quân tỷ giá
giữa các thị trờng khác nhau. Xét qua ví dụ sau:
Giả sử có các tỷ giá:
GBP/USD: 1,9809- 39 ở NY
USD/DEM: 1,6097- 17 ở Frankfurt
GBP/DEM: 3,1650 70 ở London.
Tất cả các tỷ giá đợc yết ở đây đều là tỷ giá giao ngay.
Để khai thác cơ hội kinh doanh thu lợi nhuận acbit, nhà kinh doanh lẽ
thực hiện các giao dịch sau:
Từ NY nhà kinh doanh bán ra một triệu USD đợc: 1609700 DEM ở
Frankfurt.
Dùng số DEM này để mua GBP ở London: 1609700/3,1670= 508272,81
GBP.
Bán GBP vừa mua đợc ở NY:508272,81*1,9809=1006837,61 USD.
Lợi nhụân do kinh doanh chênh lệch tỷ giá :
1006837,61-1000000=6837,81.
Lợi nhuận này là lợi nhuận phi rủi ro vì các giao dịch đợc diễn ra đồng
thời nên nó không tạo ra trạng thái ngoại tệ dơng hay âm. Nhng cơ hội này chỉ
thoả thuận một nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ có kì hạn với ngân hàng, cả ngời
xuất khẩu lẫn ngời nhập khẩu đêù có thể tính toán trớc đợc hiệu qủa kinh doanh
của mình. Việc đảm bảo chống lại rủi ro về tỷ giá đợc thể hiện ở chỗ những
khoản ngoại tệ trong tơng lai mới thu về hoặc mới cần đến không phải đợc tính
toán bằng tỷ giá giao ngay tại thời điểm đó đợc xác định ngay vào lúc nghiệp vụ
có kì hạn đợc thoả thuận. Với t cách là một công cụ phòng chống rủi ro, hợp
đồng kì hạn đợc dùng để cố định một khoản thu nhập hay chi trả trong tơng lai
13
theo một tỷ giá đã biết trớc bất kể sự biến động của thị trờng. Có nghĩa là khi
mua ngoại tệ có kì hạn, nhà nhập khẩu sẽ đợc bảo hiểm rủi ro trong trờng hợp tỷ
giá tăng, bằng cách dùng đồng bản tệ mua trớc một khoản ngoại tệ trong tơng
lai mà cha cần giao ngay số bản tệ. Ngựơc lại bán ngoại tệ có kì hạn cho phép
các nhà xuất khẩu bán trớc một khoản ngoại tệ mà họ sẽ nhận đợc nhằm loại trừ
rủi ro xảy ra khi tỷ giá ngoại tệ giảm giữa thời điểm ký hợp đồng và thời điểm
thanh toán hợp đồng.
Giao dịch ngoại tệ có kỳ hạn còn đợc sử dụng nhằm mục đích đầu cơ
của các ngân hàng. Hầu hết nó phát sinh khi ngời ta chờ đợi biến động về tỷ giá
giữa các đồng tiền trong thời gian sắp tới hoặc khi một loại tiền tệ bị mất giá
trầm trọng do khủng hoảng chính trị. Hậu quả là có sự dịch chuyển ồ ạt từ loại
tiền tệ yếu sang loại tiền tệ đợc xem là chắc chắn hơn và điều đó dẫn đến tỷ giá
kỳ hạn của ngoại tệ yếu giảm một cách mạnh mẽ so với bình thờng.
Tóm lại: Việc thoả thuận một nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ có kỳ
hạn đợc thực hiện hôm nay.
Việc hoàn tất nghiệp vụ này đợc thực hiện sau một thời gian
nhất định. Những thời hạn phổ biến là: 1, 2, 3, 6, 12 tháng.
1.2.4.3. Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ hoán đổi- SWAP.
Định nghĩa: nghiệp vụ SWAP là nghiệp vụ mua bán đồng thời một khoản
tiền nhất định theo tỷ giá giao ngay và tỷ giá kì hạn, do đó ngày giá trị của hai
giao dịch là khác nhau.
trong một số trờng hợp sau: một doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu và nhập
khẩu. Doanh nghiệp này vừa nhận đợc một khoản thu ngoại tệ từ xuất khẩu và
muốn đổi lợng ngoại tệ này ra nội tệ để tiếp tục đầu t vào sản xuất kinh doanh
và chi trả trong nớc. Đồng thời doanh nghiệp cũng có nhu cầu về ngoại tệ trong
thời gian tới để thanh toán lô hàng nhập khẩu. Thay vì kí kết hợp đồng để bán
ngoại tệ giao ngay và mua ngoại tệ bằng hợp đồng kì hạn, doanh nghiệp này sẽ
sử dụng hợp đồng Swap. Nh vậy doanh nghiệp sẽ vừa tránh đợc rủi ro tỷ giá vừa
giảm chi phí giao dịch phải trả cho ngân hàng khi chỉ dùng một hợp đồng Swap
thay cho hai hợp đồng riêng biệt.
15
Đối với Ngân hàng thơng mại, Swap là công cụ hữu hiệu tạo ra trạng thái
vốn của hai đồng tiền mà không làm ảnh hởng tới trạng thái ngoại hối. Vì vậy
giao dịch này thờng đợc các ngân hàng thực hiện với nhau nhằm thoả mãn nhu
cầu sử dụng một đồng tiền nhất định mà không phải đi vay trên thị trờng.
Nghiệp vụ Swap còn giúp các ngân hàng cân bằng đợc tình trạng mất cân đối về
hối đoái trong các nghiệp vụ nhận gửi và cho vay.
1.2.4.4. Nghiệp vụ quyền chọn
Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ bằng quyền chọn là một sự thoả thuận
bằng hợp đồng giữa ngời mua và ngời bán về quyền chọn mua( call- option)
hoặc quyền chọn bán( put-option) một loại ngoại tệ nhất định với một khối lợng
nhất định theo một tỷ giá cố định vào một thời điểm cụ thể trong tơng lai.
Ngời mua quyền có quyền chứ không phải là nghĩa vụ mua hay bán một
loại ngoại tệ nào đó. Do đó ngời mua quyền phải trả cho ngời bán quyền một l-
ợng tiền nhất định, đó là giá của quyền mua hoặc quyền bán. Từ đó sinh ra một
thị trờng thứ hai là thị trờng mua bán các quyền chọn mua và quyền chọn bán.
Ngời mua quyền chọn cũng có thể không thực hiện quyền của mình nếu thấy
bất lợi. Nếu huỷ hợp đồng ngời mua sẽ mất tiền đã bỏ ra để mua quyền nhng
nếu thực hiện thì họ còn bị mất một lợng lớn hơn rất nhiều tơng đơng với trị giá
hợp đồng. Ngời bán quyền chọn có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng nếu ngời mua
Các ngân hàng thờng là bên bán quyền chọn và họ là ngời đa ra các loại
phí cho quyền chọn bán và quyền chọn mua vừa đảm bảo sự có lợi cho ngân
hàng và tính cạnh tranh trên thị trờng
So với nghiệp vụ kì hạn và nghiệp vụ Swap thì nghiệp vụ quyền chọn có u
điểm hơn ở chỗ:
Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ có
kì hạn, Swap
Nghiệp vụ quyền chọn mua bán
ngoại tệ
Vào ngày đến hạn cả hai bên đều
phải thực hiện hợp đồng.
Vào ngày đến hạn ngời mua quyền
chọn có thể thực hiện hoặc huỷ bỏ
hợp đồng đã kí để tận dụng những cơ
hội thị trờng lúc đó.
Tỷ giá phụ thuộc vào sự tăng giảm
lãi suất của các loại ngoại tệ tham
Tỷ giá đợc xác định trớc, là sự thoả
thuận giữa ngân hàng và khách hàng.
17
gia.
Không phải trả phí. Luôn phải trả phí quyền chọn mua
hoặc quyền chọn bán cho ngời bán
quyền chọn .
Tóm lại nghiệp vụ quyền chọn về ngoại tệ không những phòng chống rủi ro
do sự biến động tỷ giá mà còn tận dụng đợc các cơ hội của thị trờng để kiếm lời
do đó rất phổ biến trên thị trờng ngoại hối quốc tế và đợc các ngân hàng sử
dụng ngày càng nhiều. Tuy nhiên để sử dụng nghiệp vụ này đòi hỏi một thị tr-
ờng phát triển tơng đối hoàn chỉnh, các chủ thể tham gia thị trờng có khả năng
chuyển giao ngoại tệ .
Ngoài ra hợp đồng giao sau còn có một đặc điểm nổi bật đó là tính thanh
khoản cao. Măc dù hợp đồng kì hạn rất linh hoạt về phơng diện thời hạn và loại
ngoại tệ, số tiền giao dịch nhng chúng hạn chế về mặt thanh khoản bởi vì các
bên tham gia hợp đồng không thể bán hợp đồng khi thấy có lời cũng không thể
xoá bỏ hợp đồng khi thấy bất lợi. Trong khi đó hợp đồng giao sau có tính thanh
khoản cao hơn vì ngời mua hợp đồng tơng lai có thể chuyển nhợng hợp đồng
vào bất cứ thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng. Ngời mua hợp
đồng tơng lai luôn phải có một khoản kí quỹ tại sở giao dịch. Tài khoản kí quĩ
đợc điều chỉnh hàng ngày theo mức lãi hay mức lỗ của hợp đồng. Nếu tỷ giá
giao ngay của ngày hôm nay lớn hơn tỷ giá thoả thuận thì ngời có hợp đồng t-
ơng lai đợc hởng một khoản lãi và đợc ghi tăng tài khoản kí quỹ còn nếu tỷ giá
thấp hơn tỷ giá trong hợp đồng thì tài khoản kí quĩ sẽ ghi giảm. Nếu tài khoản
kí quĩ giảm xuống dới mức qui định thì khách hàng có hợp đồng giao sau sẽ
phải nộp thêm tiền vào để tiếp tục duy trì hợp đồng.
Hợp đồng giao sau kà một công cụ dùng để đầu cơ và tránh đợc rủi ro tín
dụng nhờ biện pháp kí quĩ còn nó không thực sự có ý nghĩa trong việc phòng
chống rủi ro hối đoái.
1.2.5. Rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ là hoạt động phức tạp chứa đựng nhiều rủi
ro nên cần thiết phải xác định rõ các loại rủi ro có thể xảy ra và có biện pháp
quản lí rủi ro phù hợp để đảm bảo hoạt động đợc an toàn hiệu quả. Các rủi ro
thờng gặp trong kinh doanh ngoại tệ :
19
1.2.5.1. Rủi ro về giá.
Là rủi ro xảy ra khi giá cả biến động theo chiều bất lợi đối với trạng thái
ngoại tệ hoặc trạng thái luồng tiền. Rủi ro về giá bao gồm các loại rủi ro sau:
Rủi ro về giá do trạng thái ngoại hối :
Trạng thái ngoại hối là yếu tố chủ quan do ngân hàng quyết định duy trì
JPY, EUR sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng dự trữ nhiều loại ngoại
tệ, từ đó phân tán rủi ro,tránh gây tổn thất nặng nề cho ngân hàng khi tập
trung quá nhiều vào một loại ngoại tệ mà tỷ giá ngoại tệ đó đột nhiên
biến động mạnh. Với việc đa dạng hoá các lọai ngoại tệ trong kinh doanh
sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng đa dạng và phát triển các thêm các nghiệp
vụ kinh doanh ngoại tệ khác nhau nh qui đổi, điều chuyển vốn giữa các
ngoại tệ với nhau trên các tài khoản tiền gửi ngân hàng tại các ngân hàng
nớc ngoaì nhằm đảm bảo cho thanh toán xuất nhập khẩu, hởng chênh
lệch tỷ giá và lãi suất.
1.2.5.2. Rủi ro về khả năng thanh toán.
Là rủi ro xuất hiện khi phía đối tác trong các hợp đồng mua bán ngoại tệ
không có khả năng chi trả khi hợp đồng đến hạn. Đối với hợp đồng giao ngay
thì rủi ro này không có ảnh hởng vì việc hoàn tất giao dịch chỉ diễn ra sau khi kí
hợp đồng hai ngày. Tuy nhiên mức độ ảnh hởng khác nhau tuỳ thuộc vào việc
không chi trả này diễn ra trớc hoặc vào ngày giá trị của hợp đồng ngoại tệ. Nếu
phát hiện ra khả năng không chi trả đợc của đối tác trớc ngày giá trị của hợp
đồng thì mức độ thiệt hại sẽ ít nghiêm trọng hơn. Trong trờng hợp này ngân
hàng có thể huỷ bỏ hợp đồng để tránh rủi ro mất tiền. Rủi ro trong khả năng
thanh toán sẽ nghiêm trọng hơn khi phía đối tác bị phá sản vào ngày đến hạn
phải trả trong hợp đồng trong khi phía ngân hàng đã hoàn tất việc thanh toán
theo hợp đồng hoặc đã có kế hoạch cho số ngoại tệ sắp nhận đợc. Trong trờng
hợp này ngân hàng có thể bị mất 100% vốn.
21
1.2.6. Nhân tố ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Hoạt động của một ngân hàng ảnh hởng rất nhiều tới toàn bộ nền kinh tế
vì nó đáp ứng đợc nhu cầu cho nền tảng của mọi hoạt động đó là vốn. Trong đó
kinh doanh ngoại tệ cũng đóng một vai trò không nhỏ vì nó gắn bó chặt chẽ với
nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân. Nhng cũng chính từ nhu
cầu khác nhau của nền kinh tế thì hoạt động kinh doanh ngoại tệ mới có điều
lợi, an toàn trong kinh doanh và tăng sức mạnh trong cạnh tranh. Chiến lợc này
cũng nằm trong chiến lợc tổng hợp cua rmột ngân hàng, do đó có mối quan hệ
tác nghiệp với các chiến lợc hoạt động khác nh hoạt động tín dụng, thanh toán
quốc tế giúp cho các hoạt động ngân hàng phát triển đồng bộ và có hiệu quả.
Mạng lới khách hàng mà ngân hàng đang có quan hệ cũng nh các
quan hệ đại lý với các ngân hàng nớc ngoài càng phát triển thì càng thúc đẩy
hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
Rất nhiều nghiệp vụ khác của Ngân hàng thơng mại liên quan đến
ngoại tệ ngoài hoạt động kinh doanh ngoại tệ nh: huy động vốn bằng ngoại tệ,
cho vay ngoại tệ, thanh toán quốc tế Các nghiệp vụ này có mối quan hệ tác
động qua lại lẫn nhau, do đó phát triển nghiệp vụ này sẽ có điều kiện phát triển
và mở rộng nghiệp vụ khác. Trong đó hoạt động thanh toán quốc tế và cho vay
ngoại tệ có ảnh hởng nhiều đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
1.2.6.2. Chính sách quản lí ngoại hối quốc gia.
Chính sách quản lí ngoại hối là những quy định pháp lí, những thể lệ của
nhà nớc trong vấn đề quản lí ngoại tệ, quản lí vàng bạc đá quí, các chứng từ có
giá trị ngoại tệ cũng nh đối với việc trao đổi sử dụng mua bán trên thị trờng nội
địa và quan hệ thanh toán, tín dụng với nớc ngoài.
Nội dung chính sách quản lí ngoại hối là quản lí và kiểm soát các luồng
vận động của ngoại hối từ nớc ngoài vào trong nớc và ngợc lại. Đồng thời chính
sách quản lí ngoại hối cũng quản lí và kiểm soát sự lu thông và sử dụng ngoại
hối mà chủ yếu là vàng bạc đá quí và đặc biệt là ngoại tệ trong phạm vi mỗi
quốc gia. Với việc thực hiện nội dung này, chính sách ngoại hối không những
23
góp phần phát triển ngoại thơng, tạo sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế mà
còn có vai trò quan trọng trong việc ổn định giá trị tiền tệ quốc gia và ổn định
sự phát triển của nền kinh tế quóc dân.
Tuỳ theo đặc điểm, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia
mà quốc gia đó quản lí kinh doanh ngoại hối theo những chính sách riêng. Cho
chế độ quản lí ngoại hối chặt chẽ đến mức nào phụ thuộc vào điều kiện của từng
nớc. Một chính sách quản lí ngoại hối đúng đắn và phù hợp trong từng thời kì sẽ
đóng vai trò là đòn bẩy khuyến khích phát triển ngoại thơng, hợp tác kinh tế,
thu hút đầu t nớc ngoài, qua đó thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các
Ngân hàng thơng mại. Ngợc lại nếu chính sách quản lí ngoại hối quá cứng nhắc,
không hợp lí sẽ gây nhiều trở ngại, kìm hãm hoạt động kinh doanh ngoại tệ, cản
trở lự phát triển của thị trờng ngoại hối.
1.2.6.3. Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái.
Trong nền kinh tế mở mỗi chính phủ phải quyết định việc lựa chọn chế
độ tỷ giá là nh thế nào: cố định, thả nổi hoàn toàn hay thả nổi có điều tiết.
Trong mỗi quyết định về chế độ tỷ giá thì đòi hỏi phải có những chính sách
kinh tế phù hợp để đạt đợc những mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế. Tuy nhiên
những chính sách đó cũng có tác động rất lớn đến tỷ giá. Nói cách khác giữa tỷ
giá hối đoái và các biến số vĩ mô khác trong nền kinh tế có mối quan hệ tác
động nhiều chiều với nhau. Tỷ giá hối đoái đợc hình thành trên cơ sở cung cầu
về ngoại tệ. Một số yếu tố cơ bản tác động lên tỷ giá hối đoái là: lạm phát, trạng
thái cán cân thanh toán quốc tế, chênh lệch lãi suất giữa các nớc, cá cú sốc
chính trị, khủng hoảng kinh tế, thói quên nắm giữ tiền của ngời dân . Một biến
động nhỏ của tỷ giá cũng ảnh hởng lớn tới hoạt động của nền kinh tế nh: tỷ giá
tăng hay đồng nội tệ giảm giá so với đồng ngoại tệ sẽ làm tăng cạnh tranh trong
thơng mại quốc tế, thu hút đầu t nớc ngoài làm cho hoạt động kinh doanh ngoại
tệ phát triển, nhng đồng thời cũng có thể dẫn đến phá giá đồng nội tệ. Từ đó
chính phủ lại phải có biện pháp để nâng giá nội tệ lên bằng cách mua ngoại tệ
vào. Tất cả các nhân tố tác động lên tỷ giá hối đoái đều có tác động, chi phối
đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng thơng mại và của thị trờng
25