Phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam - Pdf 78

1
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
Mục lục
Trang
Danh mục chữ viết tắt………………………………………………...
4
Danh mục bảng biểu………………………………………………….
4
Lời nói đầu………………………………………………………..
5
Chương 1: Các vấn đề cơ bản về hoạt động kinh doanh ngoại tệ
của ngân hàng thương mại…………………………………………..
6
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại……………………….
6
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của ngân hàng thương mại………………… 6
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại………………….. 8
1.2 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại…...
10
1.2.1 Khái niệm…………………………………………………………… 10
1.2.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh ngoại tệ với NHTM…………….. 11
1.2.3 Các hình thức kinh doanh ngoại tệ cơ bản của NHTM…………….. 12
1.2.4 Phát triển hoạt động kinh doanh ngoai tệ của NHTM……………… 21
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển hoạt động kinh doanh
ngoại tệ của NHTM…………………………………………………..
23
1.3.1 Các nhân tố chủ quan………………………………………………. 23
1.3.2 Các nhân tố khách quan…………………………………………… 27
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh ngọai tệ tại ngân
hàng đầu tư và phát triển Việt Nam………………………………..
31

tệ…
58
3.2.5 Đa dạng hóa các loại ngoại tệ trong kinh doanh…………………….. 59
3.2.6 Đa dạng hóa các loại giao dịch ngoại tệ…………………………….. 60
3.2.7 Xây dựng một chính sách khách hàng đúng đắn và hiệu quả………. 61
3.2.8 Mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên thị trường quốc tế……. 64
3.3 Kiến nghị………………………………………………………………. 65
3.3.1 Kiến nghị với Chính Phủ……………………………………………. 65
Trang Quốc Hưng_Lớp ngân hàng 46B
3
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
3.3.2 Kiến nghị với ngân hàng nhà nước………………………………….. 66
Kết luận…………………………………………………………...
74
Danh mục tài liệu tham khảo………………………………………..
76
Danh mục chữ viết tắt
Trang Quốc Hưng_Lớp ngân hàng 46B
4
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
KDNT……………………….......... Kinh doanh ngoại tệ
KDTT…………………………….. Kinh doanh tiền tệ
TTNH…………………………….. Thị trường ngoại hối
NH………………………………... Ngân hàng
NHTƯ……………………………. Ngân hàng trung ương
TCTD…………………………….. Tổ chức tín dụng
NHNN……………………………. Ngân hàng nhà nước
NHTM……………………………. Ngân hàng thương mại
HSC………………………………. Hội sở chính
CN ……………………………….. Chi nhánh

Chương 1: Các vấn đề cơ bản về hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh ngọai tệ tại ngân hàng đầu tư và
phát triển Việt Nam
Chương 3: Một số giải phát và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động kinh doanh
ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triểnViệt Nam
Chương 1: Các vấn đề cơ bản về hoạt động kinh doanh
ngoại tệ của ngân hàng thương mại
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm
Trang Quốc Hưng_Lớp ngân hàng 46B
6
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng bậc nhất trong nền
kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng. Trong số đó NHTM chiếm tỷ
trọng lớn nhất về qui mô thị phần, số lượng cũng như về qui mô tài sản.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán
và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh
nào trong nền kinh tế
Theo luật các TCTD 1997 và sửa đổi bổ sung 2004 thì:” hoạt động ngân hàng là
hoạt động kinh doanh tiền tề và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là
nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh
toán”
1.1.1.2 Đặc điểm
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng của nền kinh tế.
Ngân hàng bao gồm nhiều lọai tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói
chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường

Thư nhất huy động từ nguồn vốn chủ sở hữu thông qua việc góp vốn của các cổ
đông
Trang Quốc Hưng_Lớp ngân hàng 46B
8
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
Thứ hai huy động từ nguồn vốn nợ gồm việc nhận tiền gửi của các tổ chức và
cá nhân và việc đi vay trên thị trường vốn thông qua phát hành các giấy nợ, vay
các TCTD hay vay NHTƯ
Ngoài ra nguồn vốn huy động của ngân hàng có thể có từ một số hoạt động
khác như nguồn vốn ủy thác….
1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng chính là việc ngân hàng thực hiện kinh
doanh nguồn vốn huy động được. Các hoạt động sử dụng vốn chính gồm có:
Thứ nhất là hoạt động cho vay với các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế.
Đây là hoạt động cơ bản nhất trong hoạt động sử dụng vốn của NHTM và mang lại
lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM
Thứ hai là hoạt động kinh doanh tiền tệ. Hoạt động này ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong hoạt động của ngân hàng và góp phần tăng thu nhập của ngân
hàng. Hoạt động kinh doanh tiền tệ có hai hoạt động chính là hoạt động kinh doanh
ngoại tệ và hoạt động đầu tư chứng khoán các loại: cổ phiếu, trái phiếu, các loại
hàng hóa phái sinh…
1.1.2.3 Các hoạt động khác
Ngoài 2 hoạt động chính trên thì ngân hàng còn thực hiện nhiều hoạt động dịch
vụ khác. Để đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế thì các hoạt động này của ngân
hàng ngày càng đa dạng ngoài 2 nghiệp vụ truyền thông trên như:
• Hoạt động bảo lãnh
• Hoạt động chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá
Trang Quốc Hưng_Lớp ngân hàng 46B
9
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính

dùng làm phương tiện cất giữ giá trị hay đầu cơ. Tuy nhiên, hoạt động này rất ít và
nó chỉ chiếm một số lượng rất nhỏ trong các giao dịch ngoại tệ và được thực hiện
chủ yếu bởi các cá nhân.
Thứ hai, là hoạt động KDNT gắn chặt với tỷ giá. Tỷ giá phản ánh biến động
của các loại ngoại tệ nên để thực hiện thành công hoạt động này cần theo sát các
biến động tỷ giá trên thị trường ngoại tệ quốc tế.
Thứ ba, hoạt động KDNT là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Một trong
những đặc trưng của họat động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động
KDNT nói riêng đó là có chứa đựng rất nhiều rủi ro. Các rủi ro chủ yếu mà hoạt
động KDNT phải đối mặt là rủi ro tỷ giá và rủi ro lãi suất. Ngoài ra còn mốt số rủi
ro khác nhưng có ít tác động đến hoạt động KDNT đó là rủi ro thanh khoản, rủi ro
đạo đức, rủi ro tín dụng…. Để phòng ngừa rủi ro thị trường các NHTM thường sử
dụng các công cụ thị trường phái sinh như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi lãi
Trang Quốc Hưng_Lớp ngân hàng 46B
11
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
suất, hơp đồng quyền chọn để làm cân bằng trạng thái luồng tiền và cố định các
mức tỷ giá và lãi suất giao dịch.
1.2.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh ngoại tệ với NHTM
Quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu diễn ra càng mạnh mẽ, sự cạnh tranh giữa
các ngân hàng ngày càng gay gắt thì vai trò của KDNT càng quan trọng với các
NHTM
Thứ nhất, nó đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. KDNT thông qua việc mua bán
để hưởng chênh lệch tỷ giá hay thông qua việc đầu cơ dựa trên những dự báo về
biến động lãi suất có thể đem lại những khoản lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng.
Thứ hai, nó mở rộng họat động của ngân hàng thông qua việc thúc đẩy và tài trợ
cho hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Rõ ràng rằng
nếu một ngân hàng không có đủ trạng thái ngoại tệ cần thiết hay không huy động
đủ lượng ngoại tệ cần thiết thì sẽ rất khó có thể giúp các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu thanh toán hay làm ngân hàng đại lý, ngân hàng chiết khấu trong phương

Giao dịch giao ngay là giao dịch mà việc chuyên giao giữa các đồng tiền được
thực hiện trong vòng 2 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng. Thị trường giao ngay
được biết đến như là một thị trường rất lớn và sôi động với khối lượng tiền cực lớn
luân chuyển qua thị trường.
Trang Quốc Hưng_Lớp ngân hàng 46B
13
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
Thị trường giao ngay bao gồm 2 thị trường là thị trường bán buôn và thị trường
bán lẻ. Thị trường bán buôn có doanh số lớn hơn rất nhiều so với thị trường bán lẻ
do đó thông thường người ta coi thị trường giao ngay là thị trường bán buôn. Ngòai
ra thị trường bán buôn này cũng được gọi là thị trường liên ngân hàng vì thị trường
này thực hiện giao dịch giữa các ngân hàng với nhau và mỗi một giao dịch với
khối lượng rất lớn. Còn với thị trường bán lẻ thì giao dịch thực hiện giữa ngân
hàng với các khách hàng lẻ. Tỷ giá được hình thành trên thị trường bán buôn hay
thị trường liên ngân hàng gọi là tỷ giá bán buôn hay tỷ giá liên ngân hàng do các
ngân hàng trực tiếp giao dịch với nhau và do mức cung cầu trên thị trường mà tạo
nên tỷ giá này. Dựa trên cơ sở tỷ giá này thì các ngân hàng sẽ qui dịnh tỷ giá bán lẻ
áp dụng cho khách hàng lẻ. So với tỷ giá bán buôn thì độ rộng (spread) của tỷ giá
bán lẻ rộng hơn (khoảng cách giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua của ngân hàng). Các
ngân hàng không nhất thiêt phải tham gia giao dịch liên ngân hàng thì mới có được
tỷ giá bán lẻ mà có thể cập nhập số liệu giao dịch trên thị trường liên ngân hàng
thông qua một mạng máy tính nối mạng với nhau để có thể đưa ra tỷ giá bán lẻ của
ngân hàng
Ở Mỹ cũng như ở nhiều nước phát triển khác, thị trường ngoại hối giao ngay
có hai cấp. Cấp thứ nhất đó là thị trường liên ngân hàng trực tiếp giữa các ngân
hàng, đây là thị trường tập trung, liên tuc, đấu giá mở và giao dịch hai chiều. Cấp
thứ hai là thị trường liên ngân hàng gián tiếp thông qua môi giới, đây là thị trường
bán tập trung, liên tục đặt lệnh có giới hạn thông qua phương thức đấu giá một
chiều.
Đối với các giao dịch giao ngay, lãi và lỗ được xác định trên cơ sở tính giá trị

Dấu + khi dự đoán các yếu tố tác động làm cho FM > SR gọi là premium
Dấu – khi dự đoán các yếu tố tác động làm cho FM < SR goi là discount
Điểm kỳ hạn FM được tính toán dựa trên chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền theo
công thức sau:
FM =
Tỷ giá giao ngay * số ngày kỳ hạn * chênh lệch lãi suất 2 đồng tiền
360 + số ngày kỳ hạn * lãi suất của đồng tiền đi vay
Ngoài ra FM còn được gọi là điểm SWAP.
Như vậy căn cứ vào mức lãi suất của các đồng tiền ta sẽ biết được đồng tiền nào
lên giá và đồng tiền nào giảm giá kỳ hạn
Các yếu tố tác động đến tỷ giá kỳ hạn
• Chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền: theo công thức tính FM ở trên thì
chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền tác động đến FM
• Làm phát cũng là yếu tố tác động đến tỷ giá kỳ hạn: giả sử tỷ giá giữa 2
đồng tiền 1A = 1B. Nếu tiền của nước B bị lạm phát 10% còn nước A thì
không bị lạm phát. Vậy tiền nước B giảm giá trị 10% tức là tỷ giá kỳ hạn sau
một năm sẽ có thêm 10% với đồng tiền bị mất giá, lúc này 1A=1,1B
• Sự kỳ vọng (Expectation): sự kỳ vọng với biến chuyển tương lai của 1 đồng
tiền cũng làm thay đổi tỷ giá giữa 2 đồng tiền dù yếu tố này mang tính chủ
quan
Các giao dịch kỳ hạn được áp dụng khá phổ biến trong các ngân hàng. NHTM
có thể thực hiện giao dịch kỳ hạn nhằm làm dịch vụ cho khách hàng là các công ty
xuất nhập khẩu để họ có thể bảo hiểm cho các khoản thu nhập hoặc các khoản chi
Trang Quốc Hưng_Lớp ngân hàng 46B
16
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
nhập khẩu của họ. Trên thị trường kỳ hạn các NHTM còn là những nhà kinh doanh
chênh lệch giá với mục đích tạo lợi nhuận nhưng không chịu rủi ro trên cơ sở sự
chênh lệch về lãi suất và điểm kỳ hạn
Kết quả kinh doanh ngoại tệ kỳ hạn cũng được xác định vào cuối ngày giao

Tỷ giá hoán đổi = tỷ giá giao ngay – tỷ giá kỳ hạn
Trong một cặp tỷ giá hoán đổi, nếu tỷ giá hoán đổi đứng trước lớn hơn tỷ giá
hoán đổi đứng sau thì có nghĩa là ngân hàng sẵn sàng mua kỳ hạn tại mức giá giao
ngay trừ đi tỷ giá hoán đổi đứng trước và sẵn sàng bán kỳ hạn tỷ giá hoán đổi đứng
trước mà nhỏ hơn tỷ gía hoán đổi đứng sau. Ngược lại, nếu tỷ giá hoán đổi đứng
trước mà nhỏ hơn tỷ giá hoán đổi đứng sau thì ngân hàng sẵn sàng mua kỳ hạn tại
mức tỷ giá giao ngay cộng với tỷ giá hoán đổi và sẵn sàng bán kỳ hạn tại mức tỷ
giá giao ngay cộng với tỷ giá hoán đổi đứng sau.
Giao dịch hoán đổi ngoại tệ không chỉ được ứng dụng trong KDNT để kiếm lời
mà còn được ứng dụng rộng rãi trong bảo hiểm rủi ro tỷ giá và tín dụng quốc tế.
Thí dụ về một giao dịch hoán đổi ngoại tệ:
Ngày 20/08/2004 sau khi đã phân tích kỹ thông tin tài chính liên quan đến USD
và JPY, một nhà kinh doanh đoán rằng USD sẽ bị giảm giá và USD/JPY: 109 thì
người này đã thực hiện giao dịch giao ngay 1.000.000 USD để đổi lấy 109.000.000
JPY. Đến ngày thanh tóan là ngày 22/08 giá thị trường thanh toán không giảm mà
Trang Quốc Hưng_Lớp ngân hàng 46B
18
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
tỷ giá USD/JPY lại tăng lên 109,5, trái với dự đoán của nhà kinh doanh. Tuy nhiên,
do phân tích kỹ nên nhà kinh doanh tỷ giá USD chỉ tăng trong thời gian ngắn và
nhất định sẽ giảm xuống tiếp bằng cách mua ngay 1.000.000 USD với tỷ giá ngày
22/8 là 109,5 JPY, cùng lúc đấy anh ta ký hợp đồng mua bán kỳ hạn USD, sẽ giao
sau một tháng tức là có ngày giá trị là 22/9 với tỷ giá USD/JPY là 109,2
Như vậy, trong giao dịch thứ nhất vào ngày 22/8 mua 1.000.000 USD với tỷ giá
109,5 tức là phải trả 109.500.000 JPY tức là chịu lỗ 500.000 JPY để duy trì dự trữ
ngoại tệ không thay đổi đồng thời bán kỳ hạn một tháng vào ngày 22/9 giao
1.000.000 USD để nhận 109.200.000 JPY. Đến ngày 21/09 USD giảm giá đúng
như nhà kinh doanh đã dự đoán, tỷ giá giao ngay vào ngày này chẳng hạn là
USD/JPY = 108,6. Nhà kinh doanh đã mua laị 1.000.000 USD và trả 108.600.000
JPY. Như vậy trong nghiệp vụ trên nhà kinh doanh đã lãi:

nhưng người mua sẽ phải mất phí để mua quyền. Còn đối với người bán, anh ta
không có bất cứ sự lựa chòn nào khác ngòai việc sẵn sàng tiến hành giao dịch theo
ý định của người mua và sẽ thu phí mở quyền từ người bán. Ý nghĩa trên chỉ áp
dụng cho trường hợp người mua hợp đồng quyền chọn đầu tiên (cũng là người yêu
cầu mở hợp đồng) nắm giữ hợp đồng đến khi đáo hạn mà không bán hay chuyển
nhượng hợp đồng cho người khác.
Giống như bất cứ một hợp đồng kinh tế nào, bào giờ cũng có một bên mua và
một bên bán nên sẽ có ngừơi bán hợp đồng và người mua hợp đồng. Vì hợp đồng
này luôn có quyền chọn bán và quyền chọn mua nên sẽ có người bán hợp đồng
Trang Quốc Hưng_Lớp ngân hàng 46B
20
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
chọn mua hoặc hợp đồng chọn bán và người mua hợp đồng chọn mua hoặc hợp
đồng chọn bán.
Có 2 loại quyền chọn cơ bản là quyền chọn kiểu Châu Âu và quyền chọn kiểu
Mỹ. Quyền chọn kiểu Châu Âu thì việc thực hiện quyền chỉ có thể khi hợp đồng
đến hạn. Còn quyền chọn kiểu Mỹ có thể thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào trong
thời gian hợp đồng còn hiệu lức đến lúc đáo hạn
Việc thanh lý hợp đồng quyền chon được gọi là thực hiện quyền chọn. Tỷ giá
áp dụng khi thực hiện quyền là tỷ giá quyền chọn. Tỷ giá này không chỉ phụ thuộc
vào cung cầu trên thị trường mà còn phụ thuộc vào mức phí của quyền chọn là cao
hay thấp. Mức phí của hợp đồng quyền chọn phải là một mức phí phù hợp sao cho
đủ bù đắp rủi ro vể tỷ giá xét từ góc độ của người bán và phải phù hợp không quá
đắt xét từ góc độ của người mua. Nếu khi hợp đồng đáo hạn mà giao dịch không
xảy ra thì chỉ có một khoản phí được thực hiện.
Các hợp đồng quyền chọn cũng thường được sử dụng để phòng ngừa rủi ro tỷ
giá, vì cũng giống như các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi hay tương lai hợp đồng
quyền chọn cho phép thực hiện việc mua bán tại mức giá đã thỏa thuận trước nên
các bên tham gia có thể tránh được tổn thất do sự biến động của tỷ giá
Ngoài ra giao dịch quyền chọn cũng được sử dụng nhằm mục đích đầu cơ.

Trang Quốc Hưng_Lớp ngân hàng 46B
22
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
• Tính kịp thời của các giao dịch ngoại tệ
• Tính nhanh chóng của các giao dịch ngoại tệ
Các tiêu chí này mang tính chủ quan của người viết do đó trong suốt chuyên đề
này việc đánh giá thực trạng phát triển hoạt động KDNT của BIDV và tìm ra giải
pháp sẽ được kết hợp với các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển hoạt động kinh doanh ngoại
tệ của NHTM
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan là các nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng hay nói cách
khác đây là các nhân tố nội tại tồn tại trong ngân hàng có tác động đến sự phát
triển của ngân hàng nói chung và hoạt động KDNT nói riêng.
1.3.1.1 Nguồn nhân lực
Trong bất kỳ một hoạt động nào con người luôn đóng vai trò quan trọng nhất
bởi vì con người tổ chức nên những hoạt động đó đồng thời cũng thực hiện việc
quản lý duy trì cho hoạt động tồn tại và phát triển. Trong hoạt động ngân hàng nói
riêng và hoạt động KDNT nói riêng yếu tố con người cũng vậy luôn giữ vị trí quan
trọng hàng đầu. Tuy nhiên với hoạt động KDNT nói riêng đòi hỏi con người hay
đòi hỏi một đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Trang Quốc Hưng_Lớp ngân hàng 46B
23
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
KDNT trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Không chỉ vậy hoạt động
này còn rất phức tạp do đối mặt với nhiều rủi ro đặc biệt là rủi ro tỷ giá. Tỷ giá trên
TTNH luôn biến động từng giờ do đó đòi hỏi cán bộ KDNT phải luôn theo dõi thị
trường. Nhưng chỉ theo dõi thị trường không thôi chưa đủ vì những cán bộ KDNT
còn phải đưa ra những nhận xét phân tích về xu thế của tỷ giá trong trong tương lai
thì mới có thể thực hiện KDNT mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó cán bộ

hỏi ngân hàng phải trang bị đầy đủ hệ thống công nghệ thông tin để có thể thực
hiện thành công các giao dịch chẳng hạn như để thực hiện giao dịch liên ngân hàng
cần có hệ thống máy tính nối mạng với các ngân hàng khác hay như để thực hiện
giao dịch từ xa với các khách hàng cần có hệ thống điện thoại….
Nói tóm lại, yếu tố về cơ sở vật chất cũng là một trong những yếu tố không thể
thiếu để ngân hàng có thể phát triển hoạt động KDNT.
1.3.1.3 Qui trình thủ tục
Một yếu tố hết sức quan trọng khác mà là một trong 3 yếu tố để có thể phát
triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng đó là qui trình thủ tục.
Qui trình thủ tục ở đây chính là những qui định của bản thân ngân hàng về họat
động KDNT bên cạnh các qui định pháp luật của nhà nước.
Các qui định do chính ngân hàng qui định về hoạt động KDNT giúp hoạt động
này được thực hiện và có thể phát triển. Qui định cần phải thông thoáng và phù
hợp với điều kiện của từng ngân hàng và từng giai đoạn của thị trường ngoại hối.
Nếu qui trình thủ tục ngân hàng đưa ra là qua phát triển chỉ phù hợp với các ngân
hàng hiện đại trên thế giới mà không phù hợp với thị trường Việt Nam thì hoạt
Trang Quốc Hưng_Lớp ngân hàng 46B
25
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
động KDNT của ngân hàng đó sẽ không thể phát triển được còn nếu qui định quá
cứng nhắc không phù hợp với sự phát triển của thị trường ngoại hối thì hoạt động
KDNT của ngân hàng cũng không thể phát trỉên được. Hay trên thị trường ngoại
hối có những cơ hội kinh doanh kiếm lời mà ngân hàng lại không qui định về việc
thực hiện hoạt động kinh doanh đó do nó có nhiều rủi ro thì làm sao cán bộ kinh
doanh ngoại tệ có thể thực hiện hoạt động đó, trong khi có thể cả thị trường người
ta đã thực hiện hoạt động đó. Như vậy thì ngân hàng hoạt động KDNT cũng sẽ
không phát triển.
Qui trình thủ tục trong bất kỳ một hoạt động nào cũng như hoạt động KDNT
cần qui định rõ ràng và phù hợp với sự phát triển của thị trường ngoại tệ thì hoạt
động KDNT của ngân hàng mới có thể phát triển thành công.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status