hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh nam hà nội - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài:
Hiện nay, khi mà xu thế toàn cầu hóa được rộng mở trên toàn thế giới, trở
thành đặc điểm cơ bản chi phối thời đại, thì các hoạt động chính trị, kinh tế, xã
hội không còn bị giới hạn trong phạm vi một quốc gia riêng lẻ mà được rộng mở
trên toàn thế giới. Khi tiến hành kinh doanh với các doanh nghiệp thuộc các
nước khác nhau cũng có nghĩa là chúng ta đang tham gia vào quá trình toàn cầu
hóa. Và cầu nối quan trọng để các doanh nghiệp có thể kinh doanh thành công
trong bối cảnh hiện tại và cả tương lai là hệ thống ngân hàng. Trong điều kiện
hiện tại khi mà các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đang trên đà phát triển
mạnh mẽ, các hoạt động đầu tư tín dụng, đầu tư quốc tế đang ngày càng rộng
mở, thì nhu cầu về trao đổi ngoại tệ cũng không ngừng gia tăng. Kinh doanh
quốc tế đem lại nhiều cơ hội nhưng đồng thời kèm theo nó là các rủi ro, đặc biệt
những rủi ro liên quan đến tiền tệ sẽ đưa đến những hậu quả khó lường. Vì thế
nếu như một quốc gia có một nền tài chính ổn định mà cụ thể là có thị trường
ngoại hối phát triển bền vững thì sẽ thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động
ngoại thương vàa là nhân tố tích cực kích thích sự luân chuyển các dòng vốn đầu
tư được thuận lợi. Việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sau khi gia
nhập WTO cũng giúp hệ thống tài chính tiền tệ trong đó có hệ thống các Ngân
hàng mở rộng hoạt động kinh doanh của mình trở nên đa dạng và chuyên nghiệp
hơn, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối. Mở rộng kinh doanh sang lĩnh
vực ngoại hối không chỉ giúp Ngân hàng tăng thêm lợi nhuận mà nó còn giúp
các doanh nghiệp cũng như các Ngân hàng phòng ngừa được rủi ro ngoại tệ và
các diễn biến xấu của thị trường tài chính quốc tế. Trong bối cảnh nền kinh tế
thế giới hiện nay, khi mà khủng hoảng kinh tế vẫn còn đang diễn biến trên quy
mô toàn cầu, các quốc gia vẫn chưa thể đưa ra được những giải pháp tối ưu để
thoát ra khỏi vũng bùn lầy của cuộc khủng hoảng và Việt Nam cũng không thể
tránh khỏi những tác động xấu từ cuộc khủng hoảng cộng thêm tình hình lạm
phát vẫn chưa được kiểm soát rõ ràng đã tạo ra những thách thức lớn cho bộ
phận kinh doanh tiền tệ. Để chống chọi với những thách thức đó không phải chỉ
có những chính sách đối phó rủi ro từ phía Ngân hàng Trung ương (NHTW) mà

4. Phương pháp nghiên cứu:
Kết hợp những kiến thức đã tích lũy trong quá trình học tập với những
quan sát đã thu thập trong thực tế, kết hợp tổng hợp tài liệu từ phía BIDV, sách
báo với việc đi sâu phân tích tình hình thực tế của BIDV nhằm tìm ra hướng đi
hợp lý nhất để giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề tài
5. Kết cấu đề tài:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính
của đề án gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về ngoại hối và kinh doanh ngoại hối cảu Ngân hàng
Chương 2: Hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam chi nhánh Nam Hà Nội
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam Nam chi nhánh Nam Hà Nội

2
CHƯƠNG 1: CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ NGOẠI HỐI VÀ KINH
DOANH NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG
1.1 NGOẠI HỐI VÀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
a. Khái niệm vê ngoại hối:
Ngoại hối (foreign exchange) bao gồm các phương tiện tiền tệ được sử
dụng rong thanh toán quốc tế. Trong đó xét trên phương diện một quốc gia
ngoại hối bao gồm: ngoại tệ (là đồng tiền nước ngoài, tính cả đến đồng tiền
chung của các nước khác và quyền rút vốn đặc bệt SDR), có thể là tiền xu, tiền
giấy, tiền trên tài khoản, séc du lịch, tiền điện tử và các phương tiện khác được
xem như là tiền; các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ như séc thương mại, chấp
phiếu ngân hàng, kỳ phiếu, hối phiếu, trái phiếu, cổ phiếu và các giấy tờ có giá
khác, vàng, đồng tiền quốc gia do người không cư trú nắm giữ.
Để có thể trở thành ngoại tệ giao dịch trên thị trường ngoại hối, thì các

các quan hệ tài chính quốc tế, việc thanh toán chu chuyển giữa các pháp nhân và
thể nhân ở các quốc gia khác nhau đều làm phát sinh nhu cầu mua bán ngoại tệ,
từ đó dần hình thành nên thị trường kinh doanh trao đổi ngoại tệ (THE
FOREIGN EXCHANGE MARKET hay FOREX-FX). Như vậy có thể nói thị
trường ngoại hối là nơi là bất cứ đâu diễn ra việc mua bán trao đổi các đồng tiền
khác nhau thông qua những biến động cung cầu về ngoại tệ. Tại đó, việc mua
hoặc bán các loại ngoại tệ được diễn ra thông qua các ngân hàng hoặc các nhà
môi giới. Trên thực tế, việc mua bán tiền tệ chủ yếu xảy ra giữa các ngân hàng
nên có thể hiểu thị trường ngoại hối là nơi mua bán cá đồng tiền khác nhau giữa
các NH (thị trường liên NH- Interbank).
Thị trường ngoại hối là một thị trường lớn nhất trong nền kinh tế toàn cầu.
Với tổng số lượng giao dịch trên toàn thế giới lên đến trên 4 ngàn tỉ đô la Mỹ
mỗi ngày thị trường ngoại hối được sử dụng để thanh toán những hoạt động mậu
dịch giữa các quốc gia, luân chuyển nguồn vốn qua các biên giới, thanh toán và
hoán đổi đồng tiền giữa các chính phủ, các tổ chức tài chính và phi tài chính và
các thành phần kinh tế khác trên toàn thế giới. Số lượng giao dịch này ngày càng
tăng do sự phát triển mậu dịch và tiến trình toàn cầu hóa.
1.1.2 Đặc điêm, chức năng của thị trường ngoại hối
a. Đặc điểm của thị trường ngoại hối
Thị trường ngoại hối còn được gọi là thị trường không gian, bất kỳ đâu
diễn ra hoạt động mua bán các loại tiền tệ mà không phải tập trung tại một vị trí
địa lý hữu hình nhất định thì đều có thể được gọi là thị trường ngoại hối. Ngoài
ra, thị trường này còn được coi là thị trường không ngủ, một thị trường toàn cầu
với thời lượng giao dịch 24/24, do các khu vực trên thế giới có sự chênh lệch lẫn
nhau về múi giờ, nên khi thị trường này đóng cửa thì thị trường kia lại bắt đầu
một phiên giao dich mới, diễn ra suốt ngày đêm tạo nên một chu trình khép kín
hoạt động không ngừng nghỉ. Các thành viên của thị trường thường không gặp
gỡ trao đổi tực tiếp với nhau mà thường duy trì quan hệ thông qua điện thoại,
internetm, telex và fax một cách liên tục. Tỷ giá được niêm yết trên các thị
trường là khác nhau nhưng vẫn có sự thống nhất và độ chênh lệch là không đáng

với rủi ro cũng cao hơn).
b. Chức năng của thị trường ngoại hối
Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối đó là nhằm cung cấp các dịch
vụ cho khách hàng thực hiện các giao dich thương mại quốc tế. Bởi vì sự hình
thành của thị trường ngoại hối xuất phát từ nhu cầu mua bán trao đổi các đồng
tiền khác nhau phục vụ cho các mục đích thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, tín
dụng quốc tế, du lịch… các giao dịch ngoại hối là một trong những dịch vụ nà
các NHTM luôn sẵn sàng cung cấp cho khách hàng và luôn nhận được sự mong
đợi từ phía khách hàng. Các hoạt động kinh tế có tính chất quốc tế ngày càng
phát triển thì càng nâng cao vai trò của thị trường ngoại hối, giúp việc thực hiện
các hoạt động này trở nên dễ dàng, thuận lợi, là mạch thông và luân chuyển tiền
tệ, đẩy nhanh hoạt động thanh toán từ đó làm gia tăng các lĩnh vực mậu dịch và
phi mậu dịch khiến cho nền kinh tế toàn cầu vận hành một cách nhịp nhàng
thống nhất.

5
Ngoài chức năng như trên thị trường ngoại hối còn có một số chức năng
khác như: giúp luân chuyển các khoản đầu tư, tín dụng quốc tế, các giao dịch tài
chính quốc tế khác cũng như các giao lưu giữa các quốc gia. Chúng tạo ra các
kênh va các công cụ huy động vốn cho đầu tư phát triển mà được huy động từ
tất cả các bộ phận trong nền kinh tế, cũng như từ các nguồn nước ngoài, cung
cấp các cơ hội đầu tư đa dạng về hình thức cũng như dồi dào về lượng vốn, đồng
thời cũng nâng cao tính thanh khoản của các công cụ tài chính
Thêm vào đó thông qua hoạt động của thị trường ngoại của tiền tệ được
xác định một cách khách quan theo quy luật cung cầu của thị trường hay nói
cách khác, đây chính là nơi hình thành tỷ giá giữa các loại tiền tệ. Thị trường
này cũng là nơi kinh doanh và cung cấp các công cụ phòng ngừa rủi ro rỷ giá
thông qua các hợp đồng thực hiện các nghiệp vụ như giao ngay, quyền chọn,
tương lai, hoán đổi, kỳ hạn. Thị trường ngoại hối cũng là nơi để NHTW đưa ra
các chính sách nhăm can thiệp đến những biến động của tỷ giá theo chiều hướng

hiện giao dịch. Một số Ngân hàng lớn cũng có thể là nhà chấp nhận giá khi họ
có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ mà họ ít giao dịch.
d. Nhà cung cấp dịch vụ tư vấn (Advisory services): có nhiều tổ chức tham
gia dịch vụ tư vấn cho các khách hàng về việc mua, bán đồng tiền nào, ở thời
điểm nào là có lợi nhất hoặc thực hiện tư vấn chiến lược khách hàng. Các nhà tư
vấn có nhiều kinh nghiệm và năng lực về chuyên môn, khoa học kỹ thuật, công
nghệ thông tin. Họ cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng dưới nhiều hình thức:
cung cấp các thông tin cập nhật trên mạng, gửi các bản tin định kỳ, gặp gỡ trực
tiếp khách hàng, v.v Các nhà tư vấn này được thu một khoản lệ phí nhất định.
Các Ngân hàng lớn, các nhà kinh doanh chuyên nghiệp cũng tham gia tư vấn
ngoại hối cho khách hàng nhưng hầu hết các dịch vụ tư vấn này là miễn phí.
e. Nhà môi giới (Brokers): những nhà tạo thị trường có thể giao dịch trực
tiếp với nhau thông qua các phương tiện thông tin hoặc có thể thông qua nhà
môi giới để thực hiện mua bán ngoại hối. Như vậy, nhà môi giới không phải là
nhà tạo thị trường, họ không mua bán ngoại tệ cho chính mình mà đóng vai trò
trung gian giữa người mua và người bán, góp phần tích cực vào họat động của
thị trường bằng cách làm cho cung và cầu sớm tiếp cận nhau. Nhà môi giới chỉ
là người cung cấp dịch vụ trên thị trường liên Ngân hàng, không chịu trách
nhiệm về tiến trình giao dịch giữa các Ngân hàng.
f. Nhà đầu cơ (Speculators): những nghiệp vụ giao dịch trên thị trường
ngoại hối rất phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro. Nhà đầu cơ chấp nhận những
rủi ro và hy vọng thu được lợi nhuận. Có nhiều thành phần tham gia đầu cơ trên
thị trường ngoại hối: những nhà tạo thị trường, các công ty XNK, các cá nhân
tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu bằng ngoại tệ nhưng không tiến hành bảo
hiểm rủi ro ngoại hối, Chính phủ của các nước đi vay hoặc cho vay bằng ngoại
tệ nhưng chậm trễ bảo hiểm hoặc không bảo hiểm cho đến khi hợp đồng tìn
dụng đến hạn thanh toán. Như vậy các nhà đầu cơ tham gia vào thị trường ngoại
hối có thể thu được lợi nhuận hoặc phải chịu rủi ro, thua lỗ về ngoại hối khi tỷ
giá hối đoái biến động theo chiều bất lợi.
g. Ngân hàng Trung ương: NHTW của các nước có chức năng độc quyền

mua bán, Ngân hàng thu được các khoản phí dịch vụ dựa trên chênh lệch giữa tỷ
giá mua và tỷ giá bán và các khoản phí khác
Ngoài ra các Ngân hàng Thương mại còn có thể kiếm lời thông qua những
biến động về tỷ giá trên thị trường tạo ra trạng thái ngoại hối lam thay đổi bảng
cân đối nội bảng phân theo từng loại tiền.
Ngân hàng có thể tiến hanh giao dịch ngoại hối theo hai cách đó là giao
dịch trực tiếp giữa các Ngân hàng và giữa Ngân hàng với khách hàng hoặc có
thể thông qua các nhà môi giới để giao dịch trên thị trường.
c. Nhà môi giới ngoại hối (foreign exchange brokers)
Hiện nay việc giao dịch ngoại hối thông qua nhà môi giới đang ngày càng
phát triển hơn bên cạnh hình thức mua bán ngoại hối trực tiếp qua các ngân
hàng. Phương thức này làm cho việc cung cấp tỷ giá đối với cả bên mua và bên
bán được diễn ra một cách nhanh chóng và rộng khắp với giá tay trong (inside
rate) do nhà môi giới nắm trong tay được các nguồn cung và các nguồn cầu từ
những ngân hàng khác nhau. Tuy vậy, khoản phí (brokerage fee) mà các ngân
hàng phải trả cũng không phải là nhỏ.

8
Để có thể hành nghề môi giới thì phải được cấp giấy phép, tại các trung
tâm tài chính quốc tế, cũng giống như các thị trường giao dịch hàng hóa khác có
các nhà môi giới nhất định để giúp khách hàng khớp lệnh mua và bán, các nhà
môi giới thu được phí cung cấp dịch vụ chứ không nhằm mục đích kinh doanh
ngọai hối.
d. Các Ngân hàng Trung ương (Central Banks)
Tuy hiện nay các quốc gia đều đưa ra chính sách tiền tệ nới lỏng hơn với
việc thả nổi tỷ giá nhưng trên thực tế, các NHTW vẫn thường xuyên can thiệp
vào thị trường bằng cách mua vao bán ra nội tệ nhằm có những can thiệp và điều
chỉnh nhất định đối với tỷ giá theo hướng được cho là có lợi đối với thị trường
và chính sách kinh tế của mỗi quốc gia. Để giữa cho tỷ giá cố định trong một
biên độ có lợi nhất, NHTW tiến hành mua vào nội tệ khi cung lớn hơn cầu và

Nghiệp vụ ngoại hối kỳ hạn (forward) là cam kết của hai hên với nhau về
việc mua bán một lượng ngoại tệ nhất định theo một tỷ giá xác định vào một
thời điểm được định trước trong tương lai (giao dịch ngoại hối có ngày xa hơn
ngày giá trị giao ngay). Trong đó tỷ giá kỳ hạn được thỏa thuận ngày hôm nay
để làm cơ sở cho việc trao đổi tiền tệ tại một thời điểm xác định trong tương lai.
Tỷ giá kỳ hạn là một số cố định không phụ thuộc vào sự biến động của tỷ giá
trên thị trường, chênh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay được gọi là
điểm kỳ hạn.
Lý do để xuất hiện lạo giao dịch này là để cung cấp phương tiện phòng
ngừa rủi ro về hối đoái, với tư cách là công cụ phòng ngừa rủi ro, hợp đồng có
kỳ hạn được sử dụng để cố định khoản thu nhập hay chi trả theo một tỷ giá cố
định đã biết trước bất chấp sự biến động tỷ giá trên thị trường. Tham gia vào
giao dịch kỳ hạn chủ yếu là các NHTM , các công ty đa quốc gia,các nhà đầu tư
trên thị trường tài chính quốc tế, các nhà XNK, những người mà hoạt dộng của
họ thường xuyên chịu ảnh hưởng một cách đáng kể bởi sự biến động của tỷ giá.
Khi có nhu cầu giao dịch ngoại tệ, hai bên ngân hàng và khách hàng thỏa thuận
giao dịch và ký kết hợp đồng kỳ hạn và thị trường hối đoái kỳ hạn chính là thị
trường thực hiện giao dịch này. Thị trường kỳ hạn là nơi hoạt động tích cực của
những nhà đầu cơ nhằm kiếm tìm lợi nhuận.
1.1.4.3 Nghiệp vụ hoán đổi:
Cũng là một trong những nghiệp vụ phái sinh nhằm ngăn ngừa những rủi
ro về tỷ giá. Bao gồm hai loại swap là swap tiền tệ và lãi suất. Trong đó, swap
tiền tệ là giao dịch đồng thời mua và bán cùng một lượng ngoại tệ (chỉ có hai
đông tiền được sử dụng trong giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai
giao dịch là khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký
kết hợp đồng. Còn swap lãi suất là hoán đổi hay đổi chéo lãi suất, tức là hai
beent ham gia trao đổi với nhau chi phí tài chính về các khoản nợ tương ứng của
mỗi bên. Hoặc giao dịch hoán đổi có thể là hoán đổi giao ngay - kỳ hạn và hoán
đổi kỳ hạn - kỳ hạn. Các giao dịch hoán đổi chỉ thực sự hiệu quả trong ngắn hạn
do trong dài hạn khó lòng có thể xác định được mức tỷ giá kỳ hạn một cách hợp

Hợp đồng giao dịch quyền chọn là một giao dịch giữa bên mua quyền và
bên bán quyền, mang lại cho người sở hữu nó có quyền mua hoặc quyền bán
nhưng bên mua quyền có quyền chứ không có nghĩa vụ mua hoặc bán một
lượng ngoại tệ xác địnhbởi một mức tỷ giá nhất định trong một khoảng thời
gian thỏa thuận trước.Nếu bên mua quyền thực hiện quyền của mình thì bên bán
quyền có nghĩa vụ phải bán hoặc mua lượng ngoại tệ đã được thỏa thuận trong
hợp đồng theo tỷ giá đã thỏa thuận trước. Hợp đồng quyền chọn bao gồm quyền
chọn mua và quyền chọn bán. Trong đó, hợp đồng quyền chọn bán là hợp đồng
mà người mua có quyền bán một đồng tiền nhất định, còn hợp đồng quyền chọn
mua tiền tệ thì người mua hợp đòng có quyền mua một đồng tiền nhất định. Có
thể thực hiện quyền chọn vào bất cứ thời điểm nào đến khi hợp đồng đáo hạn
hoặc chỉ được chọn quyền vào ngày đáo hạn của hợp đồng.
Nghiệp vụ giao dịch quyền chọn cũng là một trong các công cụ phòng
ngừa để giảm thiểu rủi ro về tỷ giá và cân đối về tài chính cho doanh nghiệp.
Ngoài các nghiệp vụ ngoại hối cơ bản ở trên thì nghiệp vụ chuyển hối là
nghiệp vụ mà có thể kết hợp được với các nghiệp vụ ở trên tạo thuận lợi cho
việc kinh doanh ngoại hối trở nên thuận lợi hơn.

11
1.1.4.6 Nghiệp vụ chuyển hối
Arbitrage là một kỹ thuật nghiệp vụ rút ra từ nghiệp vụ hối đoái giao
ngay. Kỹ thuật này nhằm giao dịch trực tiếp ngoại tệ với ngoại tệ mà không
thông qua bản tệ. Để tiến hành nghiệp vụ này người kinh doanh cần phải xác
định rõ: Những tỷ giá chéo cần được xác định? Trị giá khoản tiền cần được áp
dụng là bao nhiêu? Nếu còn dư thì giải quyết theo tỷ giá nào? Có lợi hơn so với
việc xác định tỷ giá thông qua bản ngoại tệ không ?
Thực chất của kỹ thuật Arbitrage là tận dụng sự chênh lệch giữa tỷ giá của
các ngoại tệ là khác nhau để tiến hành giao dịch trực tiếp ngoại tệ với nhau. Người
ta chỉ giao dịch qua bản tệ đối với bộ phận ngoại tệ dư (hoặc thiếu) mà thôi.
Có 2 loại Arbitrage

cho mục tiêu phát triển kinh tế, bảo đảm an toàn, tránh những rủi ro tiềm tàng
của thị trường. Ngoài ra, nó cũng là để cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, đảm
bảo rằng Việt Nam luôn ở trong trạng thái sẵn sàng thanh toán cho các khoản nợ
đến hạn và giải quyết được vấn đề tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn.
Trong hoạt động mua bán ngoại hối, NHTW tham gia với tư cách là
người mua, người bán cuối cùng, và cũng chính là bên can thiệp, giám sát và
điều tiết, thông qua đó mà có thể thực hiện được mục tiêu của chính sách tiền tệ
vafc ó những biện pháp xử lý kịp thời khi có những biến động của tỷ giá.
NHTW mua bán ngoại tệ trên thi trường trong nước với tư cách là người mua
bán cuối cùng và chỉ mua bán với các NHTM tại hội sở chính của các NHTM
mà không trực tiếp mua bán với các công ty XNK, NHTW công bố tỷ giá hối
đoái, mua bán ngoại tệ để từ đó kiểm soát việc cung ứng tiền tệ hoặc rút bớt
lượng tiền trong lưu thồn từ đó mà tỷ giá hối đoái được ổn định. Mua bán trên
thị trường ngoại hối nhằm mục đích phát triển nguồn dự trữ quốc gia đồng thời
cũng để đạt được tỷ giá mong muốn.
Hiện nay Chính phủ đã ban hành các chính sách nhằm quản lý ngoại hối
theo hướng minh bạch hóa, xác định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh
nghiệp, tạo hành lang thông thoáng cho các đối tượng liên quan áp dụng. Tuy
nhiên chính sách quản lý ngoại hối chung vẫn là thắt chặt nhằm đảm bảo tăng
thu, giảm chi và tăng dự trữ ngoại hối cho đấy nước. Có một số điều kiện liên
quan đã và đang được thay đổi sao cho phù hợp với tình hình chung của thế giới
như việc giảm tỷ lệ kết hối (xuống còn 0%), biên độ tỷ giá được mở rộng, phân
cấp ủy quyền quản lý ngoại hối cho chi nhánh NHNN các tỉnh, thành phố. Hiện
nay hầu hết các giao dịch vãng lai đã được tự do hóa và mở rộng các giao dịch
vốn có sự nới lỏng phù hợp với thông lệ quốc tế, nhữn quy định về trạng thái
ngoại tệ làm tăng tốc độ chu chuyển của ngoại tệ. Chính sách tỷ giá thả nổi theo
cơ chế thị trường nhưng vẫn có sự điều tiết của nhà nước khi cần thiết theo cơ
chế tỷ giá chính thức và giới hạn biên độ giao động là một công cụ đắc lực giúp
NHTW vận hành việc quản lý ngoại hối được tốt hơn và giảm thiểu được những
rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

có thỏa thuận khác thì thường là ngày làm việc thứ hai)
4. Tỷ giá kỳ hạn – Forward rate: là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay
nhưng việc thanh toán xảy ra sau đó từ ba ngày làm việc trở nên
5. Tỷ giá mở cửa – Opening rate: là tỷ giá được áp dụng cho giao dịch
đầu tiên trong ngày
6. Tỷ giá đóng cửa – Closing rate: là tỷ giá được áp dụng cho hợp đồng
giao dịch cuối cùng trong ngày. Thông thường ngân hàng không công bố tỷ giá
của tất cả các hợp đồng đã ký kết trong ngày mà chỉ công bố tỷ giá đóng cửa. Tỷ
giá đóng cửa là một chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động tỷ giá trong ngày.
Cần chú ý là tỷ giá đóng cửa hôm nay không nhất thiết phải là tỷ giá mở cửa
ngày mai.
7. Tỷ giá chéo – Crosed rate: là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ
đồng tiền thứ ba( còn gọi là đồng tiền trung gian)
8. Tỷ giá chuyển khoản – Transfer rate: tỷ giá chuyển khoản áp dụng cho
các giao dịch mau bán ngoại tệ là các khoản tiền gửi tại các ngân hàng.
9. Tỷ giá tiền mặt – note rate: tỷ giá tiền mặt áp dụng cho các ngoại tệ
kim loại, tiền giấy, séc du lịch và thẻ tín dụng. Thông thường tỷ giá mua tiền
mặt thấp hơn và tỷ giá bán tiền mặt cao hơn so với tỷ giá chuyển khoản.

14
10. Tỷ giá điện hối: là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện. ngày nay, do
ngoại hối được chuyển chủ yếu bằng điện nên tỷ giá được niêm yết tại các ngân
hàng là tỷ giá điện hối.
11.Tỷ giá thư hối: là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư
12.Tỷ giá đối ứng (Reciprocal Rates): là tỷ giá nghịch đảo với tỷ giá ban đầu.
 Căn cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá:
1. Tỷ giá chính thức (ở VN là tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng):
là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức giá trị đối ngoại của đồng
nội tệ. Tỷ giá chính thức được áp dụng để tính giá trị XNK và một số hoạt động
khác liên quan đến tỷ giá chính thức. Ngoài ra ở VN tỷ giá chính thức còn là cơ


15
Xét dưới giác độ một quốc gia thì những biến động tỷ giá sẽ có tác động
trực tiếp lên dự trữ quốc gia, đặc biệt là đối với các quốc gia mà có đồng nội tệ
phụ thuộc cao vào đồng ngoại tệ. Trong cơ chế tỷ giá linh hoạt, các quốc gia
không được phép can dự trực tiếp đến tỷ giá, mà phải sự dụng các công cụ ,biện
pháp nghiệp vụ thị trường mở để giữ tỷ giá ổn định. Ví dụ như ở Việt Nam: nếu
cung lớn hơn cầu, NHNN chỉ cần tung VND ra mua ngoại tệ, làm tăng nguồn dự
trữ ngoại tệ của NHNN, Nhưng ngược lại, khi nhu cầu ngoại tệ lại cao hơn cung
ngoại tệ thì để giữtỷ giá, NHNN buộc phải tung ngoại tệ ra bán. Tuy nhiên để có
thể làm tố điều đó thì quốc gia đó phải có nguồn dự trữ ngoại tệ đủ mạnh nếu
không sẽ tạo điều kiện cho giới đầu cơ kinh doanh bất hợp pháp, từ đó mà gây
tác động ngược trở lại đến thị trường ngoại hối, gây lũng đoạn thị trường ngoại
hối và cứ như thế là một vòng tuần hoàn tác động ngược trở lại đối với tỷ giá.
Xét đến tác động của tỷ giá đến tình hình kinh doanh ngoại hối của ngân
hàng: tỷ giá có xu hướng tăng (đồng ngoại tệ lên giá) thì cung ngoại tệ sẽ nhỏ
hơn cầu ngoại tệ. Như thế có nghĩa là ai cũng muốn mua được ngoai tệ sớm tuy
nhiên người có ngoại tệ lại không muốn bán sớm, gây nên sự tắc nghẽn và hoạt
động mua bán ngoại tệ trở nên khó khăn hơn. Còn khi tỷ giá có xu hướng giảm
xuống (đồng ngoại tệ xuống giá) thì hoạt động mua ngoại tệ của Ngân hàng sẽ
trở nên dễ dàng, tuy nhiên bán ngoại tệ trở nên khó khăn hơn.
Tương tự như vậy đối với các chủ thể khác trên thị trường ngoại hối thì tỷ
giá chính là dẫn cứ dẫn đến những hành động của họ trên thị trường ngoại hối,
qua đó gây nên những ảnh hưởng trực tiếp đến diễn biến thị trường.
1.3 TỔNG QUAN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN HÀ NỘI
1.3.1 Sơ lược về ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong bốn ngân
hàng thương mại quốc doanh lớn nhất Việt Nam, theo quyết định số 177/TTg
của thủ tướng chính phủ, ngân hàng được thanh lập lấy vào ngày 26/04/1957 lấy
tên là ngân hàng kiến thiếtViệt Nam, qua 2 lần đổi tên thì vào năm 1991, ngân

hàng đầu cung cấp đầy đủ các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại và tiện ích,
đó là Bảo hiểm, cung cấp các sản phẩm Bảo hiểm phi nhân thọ được thiết kế phù
hợp trong tổng thể các sản phẩm trọn gói của BIDV tới khách hàng, đó là Chứng
khoán, cung cấp đa dạng các dịch vụ môi giới, đầu tư và tư vấn đầu tư cùng khả
năng phát triển nhanh chóng hệ thống các đại lý nhận lệnh trên toàn quốc và
mảng hoạt động kinh doanh cuối cùng của BIDV đó là đầu tư tài chính bao gồm

17
góp vốn thành lập doanh nghiệp để đầu tư các dự án, trong đó nổi bật là vai trò
chủ trì điều phối các dự án trọng điểm của đất nước như: Công ty Cổ phần Cho
thuê Máy bay Việt Nam (VALC), Công ty phát triển đường cao tốc (BEDC),
đầu tư sân bay quốc tế Long Thành…
BIDV cũng được cộng đồng trong nước và quốc tế biết đến và ghi nhận là
1 trong 4 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam theo Chương trình Phát triển Liên
hợp quốc (UNDP) đánh giá; 4 giải thưởng về Tài trợ phát triển trong các lĩnh
vực: giảm nghèo, hỗ trợ kinh tế địa phương, hỗ trợ doanh nghiệp NVV, phát
triển thương mại của hiệp hội các định chế tài chính phát triển Châu Á – Thái
Bình Dương (ADFIAP), 3 năm liên tiếp được Tạp chí Tài chính Châu Á – Asia
Money – Bình chọn là ngân hàng nội địa cung ứng dịch vụ kinh doanh ngoại tệ
tốt nhất Việt Nam và nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế khác…
BIDV đã và đang nỗ lực để “Trở thành ngân hàng đa sở hữu, kinh doanh
đa lĩnh vực hoạt động theo thông lệ quốc tế với sản phẩm và dịch vụ chất lượng
ngang tầm với các ngân hàng tiến tiến trong khu vực Đông Nam Á”.
Sơ đồ 1.2: Cơ cấu tổ chức của BIDV

18
Ban kế
hoạch phát
triển
Ban nguồn

Ban dịch vụ
Trung tâm
thẻ
Ban kinh
doanh đối
ngoại
Ban kế toán
Trung tâm
thanh toán
Ban tổ chức
cán bộ
Ban quản lý
tài sản
Văn phòng
Ban pháp
chế
Ban công
nghệ
Hội đồng quản trị
Hội đồng
quản lý tài
sản nợ có
Hội đồng
tín dụng
Hội đồng
khoa học
1.4. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA NHTM
1.4.1 Khái niệm
Hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM bao gồm việc mua bán ngoại
hối, đảm bảo sự ổn định số dư tài khoản kinh doanh ngoại hối tại nước ngoài và


19
1.4.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối
của NHTM
 Tỷ giá hối đoái và khối lượng giao dịch ngoại hối
Khối lượng giao dịch là số lượng mua bán ngoại hối của ngân hàng diễn
ra hàng ngày, quý hay năm.
Trong rổ tiền tệ thì USD được dùng làm đồng tiền chuẩn trong giao dịch
và USD cũng là đồng ngoại tệ được giao dịch nhiều nhất trên thị trường tiền tệ.
Khi thị trường tiền tệ có sự biến động về tỷ giá hối thì sẽ ảnh hưởng đến khối
lượng giao dịch trên thị trường. Điều này cũng ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh ngoại hối của ngân hàng và của khách hàng vì khó lường trước được biến
động tỷ giá nên sẽ khó dự báo được giao dịch trên thị trường sẽ xảy ra theo
chiều hướng nào. Nếu tỷ giá hối đoái trên thị trường cao hơn giá trần của Ngân
hàng Nhà nước đưa ra sẽ làm cho khối lượng giao dịch hối đoái trong ngân hàng
ít lại, vì ngân hàng sẽ không dám mua vượt qua giới hạn giá mà Ngân hàng Nhà
nước quy định. Nguồn vốn của ngân hàng sẽ chậm thanh khoản gây khó khăn
trong hoạt động kinh doanh. Trường hợp nếu tỷ giá của loại ngoại tệ này (USD)
tăng lên cao sẽ dẫn đến khối lượng giao dịch về USD tăng lên gây khó khăn cho
ngân hàng vì thiếu nguồn USD bán cho khách hàng.
 Doanh thu và lợi nhuận từ việc mua bán ngoại hối
Doanh thu ngoại hối là luồng tiền có được khi ngân hàng mua bán ngoại
tệ trên thị trường.
Lợi nhuận là số tiền có được từ doanh thu sau khi trừ đi chi phí, tính toán
lãi lỗ từ việc kinh doanh ngoại hối.
Khi doanh thu ngoại tệ của ngân hàng cao hơn số lượng bán ngoại tệ
chứng tỏ ngân hàng đang hoạt động có lãi và ngược lại khi doanh thu ngoại hối
thấp hơn thì ngân hàng kinh doanh có thể đang bị lỗ.
Sau khi tổng kết giao dịch theo quý, kết quả lợi nhuận cao hay thấp sẽ
đánh giá được hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng.


21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI
2.1 QUẢN LÝ NGOẠI HỐI TẠI VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
2.1.1 Cơ chế và các công cụ quản lý ngoại hối được thực hiện tại Việt
Nam trong thời gian qua
Những biến động về kinh tế trong những năm vừa qua tạo điều kiện khách
quan để chính phủ thay đổi các chinh sách quản lý đối với các lĩnh vực trong
nền kinh tế quốc dân, trong đó có lĩnh vực về quản lý ngoại hối và thị trường
ngoại hối được đổi mới triệt để về tư duy lẫn điều hành, chính sách nới lỏng
quản lý ngoại hối đã dần dần thay thế chính sách độc quyền kiểm soát và kinh
doanh ngoại hối nhà nước. Cơ chế điều hành tỷ giá cũng được chuyển từ chế độ
tỷ giá cố định sang chế độ tỷ giá thả nổi có sự kiểm soát (hay chính xác hơn là
chế độ tỷ giá chính thức có biên độ dao động). Các công cụ quản lý ngoại hối
mới đang dần cho thấy những ưu điểm của mình.
2.1.1.1 Quản lý ngoại hối của Việt Nam trước năm 1991:
Trong thời kỳ này, với một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, và chủ yếu
giao lưu kinh tế với các nước xã hội chủ nghĩa nên việc quản lý ngoại hối cũng
chỉ bó gọn trong một só lĩnh vực kinh doanh và với cơ chế quản lý thắt chặt và
độc quyền.
Trong đó thông qua NHNN Việt Nam, nhà nước thực hiện quản lý thống
nhất về ngoại hối. Ngân hàng Ngoại thương VN là ngân hàng được phép kinh
doanh ngoại hối. Ngoài ra còn có các ngân hàng chuyên doanh khác, các ngân
hàng liên doanh, các ngân hàng nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam. Ngoại tệ
được quản lý theo kế hoạch, các ngành, các địa phương có thu chi ngoại tệ phải
lập kế hoạch và được tổng kết trong bảng kế hoạch thu chi ngoại tệ của quốc gia
để xem xét và phê duyệt. Ngân hàng được ủy quyền để thực hiện là ngân hàng
ngoại thương Việt Nam.

khung pháp lý cho các hoạt động giao dịch đầu tư ra nước ngoài, quy định về
vay trả nợ nước ngoài cũng trở nên thông thoáng hơn về đối tượng vay và mức
độ quản lý. Quy định về tự do hóa các giao dịch vãng lai phù hượp với tình hình
thực tiễn của nền kinh tế. ngoài ra còn có những quy định về hạn chế sử dụng
ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam, đươn giản hóa thủ tục cấp giấy phép hoạt động
cung ứng dịch vụ ngoại hối của các TCTD, đồng thời cũng có một số hành động
trong việc xây dựng cơ chế trong điều hành và quản lý dự trữ ngoại hối.
Sang năm 2008, khủng hảng kinh tế toàn cầu diễn ra, để đảm bảo đạt
được mục tiêu như an toàn dự trữ, đảm bảo khả năng can thiệp bình ổn thị
trường trong nước mà vẫn đáp ứng được các nhu cầu ngoại hối cấp bách của nhà
nước và duy trì ổn định quy mô DTNHNN theo nguyên tắc an toàn đặt lên hàng
đầu, và dùng DTNHNN để can thiệp nhằm bình ổn thị trường. khung pháp lý
cho hoạt động giao dịch vốn và các giao dịch vãng lai tiếp tục được mở rộng và
hoàn thiện.ngoài ra lại đưa thêm các quy định chát chẽ trong quản lý các đại lý
thu đổi ngoại tệ nhằm hạn chế tình trạng đầu cơ và mua bán ngoại tệ bất hợp
pháp trên thị trường tự do.
Năm 2009, NHNN đã thực hiện tốt chính sách quản lý ngoại hối liên qua
đến điều hành tỷ giá, giám sát thị trường ngoại tệ, quản lý dự trữ ngoại hối nhà
nước, quản lý các giao dịch vãng lai và các giao dịch vốn. cụ thể là điều hành tỷ

23
giá theo hướng linh hoạtvà có sự phối hợp, can thiệp thị trường một cách hợp lý,
tăng cường kiểm tra giám sát hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các TCTD,
chấn chỉnh các TCTD mua bán ngoại tệ theo đúng quy đinh, chống buôn bán
trên thị trường chợ đen, đối với quản lý dự trữ ngoại hối, NHNN đã phân tích thị
trường nhằm xây dựng cơ cấu, tiêu chuẩn, hạn mức đầu tư dự trữ ngoại hối phù
hợp trong từng thời kỳ, tích cực đàm phán, ký kết, giải ngân các khoản vay từ
các chương trình, dự án vay vốn, viện trợ nước ngoài hămg mua thêm ngoại tệ
tăng dự trữ ngoại hối, đồng thời yêu cầu các tập đoàn tổng công ty nhà nước bán
ngoại tệ cho các tổ chức tín dụng và các nguồn thu vãng lai cho các TCTD.

- Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về việc ban
hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng
- Quyết định 09/2008/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về cho vay
bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay là người cư trú
- Thông tư 03/2008/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về
hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của tổ chức tín dụng
- Quyết định 21/2008/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về việc ban
hành Quy chế đại lý đổi ngoại tệ
- Nghị định 53/2009/NĐ-CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu quốc tế

- Quyết định 88/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban
hành Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh
nghiệp Việt Nam
- Thông tư 16/2009/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ
chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày
24/03/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế phát
hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng
- Thông tư 19/2009/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với các giao dịch trái phiếu Chính phủ bằng
ngoại tệ phát hành theo Quyết định số 211/QĐ-TTg ngày 13/02/2009 của Thủ
tướng Chính phủ
- Thông tư số 15/2011/TT-NHNN quy định việc mang ngoại tệ tiền mặt,
đồng Việt Nam tiền mặt của cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh
- Thông tư số 19/2011/TT-NHNN Hướng dẫn về việc quản lý ngoại hối
đối với việc phát hành trái phiếu quốc tế của doanh nghiệp không được Chính
phủ bảo lãnh.
- Thông tư số 20/2011/TT-NHNN Quy định về việc mua, bán ngoại tệ
tiền mặt của cá nhân với tổ chức tín dụng được phép.
- Thông tư số 32/2011/TT-NHNN ngày 6/10/2011 Sửa đổi, bổ sung một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status