MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa
ATM Máy rút tiền tự động
(Automatic Teller Machine)
Luận văn tốt nghiệp Lê Đăng Khoa
1
BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
(Bank for Investment and Development of Vietnam)
BTT Bao thanh toán
CAD Giao chứng từ trả tiền ngay
(Cash Against Document)
D/A Bộ chứng từ nhờ thu trả chậm
(Document against Acceptance)
D/P Bộ chứng từ nhờ thu trả ngay
(Document against Payment)
FCI Hiệp hội Bao thanh toán quốc tế
(Factors Chain International)
L/C Thư tín dụng
(Letter of Credit)
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NK Xuất khẩu
ODA Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(Official Development Assistance)
SWIFT Hệ thống thanh toán toàn cầu
(Society for Worldwide Interbank and Finacial
Telecommunication)
TTQT Thanh toán Quốc tế
đối ngoại đòi hỏi và thúc đẩy nghiệp vụ TTQT qua hệ thống ngân hàng phát triển theo.
Đặc biệt những sự kiện quan trọng gần đây như Việt Nam chính thức trở thành thành viên
của WTO, Quốc hội Mỹ chính thức phê chuẩn Quy chế bình thường hoá quan hệ thương
mại vĩnh viễn với Việt Nam… vị trí và vai trò của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên
Luận văn tốt nghiệp Lê Đăng Khoa
3
trường quốc tế. Nhờ vậy, hoạt động XNK của các doanh nghiệp Việt Nam sôi động hơn
bao giờ hết.
Với quá trình hội nhập mạnh mẽ này, thì hoạt động XNK của các doanh nghiệp sản
xuất trong nước cũng phát triển vượt bậc. Do đó, hoạt động TTQT ở các ngân hàng thương
mại trong nước nói chung, và của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) nói
riêng cũng đã có nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, hoạt động TTQT tại Việt Nam còn là
một hoạt động còn mới mẻ, do vậy các ngân hàng thương mại còn chưa có nhiều kinh
nghiệm, trình độ, cơ sở vật chất cũng như chưa hoàn thiện hết tất cả các dịch vụ về TTQT,
do đó nghiệp vụ này chưa phát huy được hết tiềm năng vốn có, cũng như còn nhiều khó
khăn và dễ phát sinh các rủi ro. Nhận biết được thực tiễn này, đề tài “Giải pháp mở dịch
vụ Bao thanh toán và hoàn thiện hoạt động Thanh toán Quốc tế tại ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam” đã được tác giả chọn và nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đã hệ thống lại các vấn đề lý luận về nghiệp vụ TTQT. Đánh giá hoạt động
TTQT của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, cũng như phân tích, đánh giá đến
nhu cầu phát triển các loại hình dịch vụ TTQT của các doanh nghiệp XNK trong nước, từ
đó đề xuất mở thêm sản phẩm BTT và các giải pháp nhằm hoàn thiện nghiệp vụ TTQT tại
ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài phân tích những thành tựu cũng như những hạn chế về hoạt động TTQT
trong những năm qua tại Việt Nam, phân tích về những cơ hội, thách thức và tiềm năng
phát triển hoạt động này tại các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung, và của BIDV
nói riêng, nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ TTQT tại BIDV.
Cơ sở để hình thành hoạt động TTQT của ngân hàng thương mại là hoạt động ngoại
thương. Nếu TTQT được thực hiện tốt thì giá trị của hàng NK mới được thực hiện tốt, góp
phần không nhỏ vào việc thúc đẩy ngoại thương phát triển. TTQT là yếu tố quan trọng để
đánh giá hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại của một quốc gia.
Một quốc gia muốn phát triển không thể chỉ dựa vào sản xuất trong nước mà còn
phải quan hệ với các nước khác. Do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên
nhiên, nếu chỉ dựa vào nền sản xuất trong nước sẽ không thể cung cấp đầy đủ những hàng
hóa dịch vụ đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế mà còn phải nhập những mặt hàng cần thiết
như nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị, hàng tiêu dùng trong nước không sản xuất ra
được hoặc sản xuất ra với giá thành cao hơn. Trên cơ sở khai thác những tiềm năng và
những lợi thế kinh tế vốn có của nền kinh tế, ngoài việc phục vụ nhu cầu trong nước còn có
thể tạo ra những thặng dư có thể XK sang những nước khác, góp phần tăng ngoại tệ cho
đất nước để NK các thứ còn thiếu và để trả nợ. Như vậy do nhu cầu phát triển kinh tế mà
phát sinh sự trao đổi giao dịch hàng hóa giữa các nước với nhau để khai thác tiềm năng và
thế mạnh của một nước với một nước khác một cách có lợi nhất. Hoạt động XNK là yêu
cầu khách quan của nền kinh tế. Trong hoạt động XNK, TTQT là khâu cuối cùng và nó có
điểm khác biệt so với thanh toán trong nước.
Khi buôn bán quốc tế ở thời kỳ sơ khai, các thương nhân trực tiếp chở hàng hóa đến
bán ở các nước khác và thu tiền. Những khó khăn do sự khác biệt về tiền tệ được giải
quyết bởi sự tham gia của ngân hàng với vai trò là trung gian đổi tiền. Nhưng khi mà quan
hệ buôn bán quốc tế ngày càng mở rộng về phạm vi và quy mô, kéo theo sự gia tăng của
khối lượng tiền tệ được thanh toán. Các thương nhân vì lý do an toàn nên không thu tiền
trực tiếp mà thông qua ngân hàng với vai trò trung gian thanh toán.
Luận văn tốt nghiệp Lê Đăng Khoa
6
Tuy nhiên, khi hoạt động TTQT ngày càng phát triển thì việc thanh toán ngày càng
phức tạp do ảnh hưởng của yếu tố kinh tế, chính trị xã hội và theo đó rủi ro ngày càng tăng.
Các bên tham gia XNK ngày càng bộc lộ những mâu thuẫn sâu sắc, vì thế mà các phương
thức, phương tiện TTQT lần lượt ra đời và ngày càng hoàn thiện nhằm giải quyết các mâu
Quy định một đồng tiền dùng trong thanh toán và tính toán xác định tỉ giá giữa đồng
tiền đó với một đồng tiền mạnh. Khi thanh toán nếu tỉ giá thay đổi thì điều chỉnh lại giá cả
hợp đồng.
Bảo đảm theo số tiền tệ: các bên thống nhất sự lựa chọn khối lượng ngoại tệ đưa
vào sổ cũng như phải thống nhất cách tính giá hối đoái của số so với đồng tiền được đảm
bảo lúc kí kết và thanh toán. Mục đích chính là san bằng các biến động khác nhau của các
đồng tiền tạo ra sự ổn định tương đối.
1.2.2. Điều kiện địa điểm thanh toán
Điều kiện về địa điểm thanh toán thường do hai bên thỏa thuận. Thường thì nếu
thanh toán bằng đồng tiền của nước nào thì địa điểm thanh toán ở luôn nước đó. Việc xác
định địa điểm thanh toán thường do sự so sánh lực lượng giữa hai bên quyến định. Địa
điểm thanh toán có thể là ở nước NK, XK hoặc một nước thứ ba nào đó mà hai bên lựa
chọn.
Trong giai đoạn hiện nay, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và hệ
thống ngân hàng trên toàn thế giới. Việc chuyển tiền từ người thanh toán cho đến người
nhận trên quy mô toàn thế giới trở nên rất đơn giản, nhanh chóng, an toàn và chi phí hợp
lý. Vì vậy điều kiện về địa điểm thanh toán cũng không bị ràng buộc như trước và thanh
toán tại khu vực của mình đã trở thành điều kiện thông thường của giao dịch ngoại thương.
1.2.3. Điều kiện thời gian thanh toán
Điều kiện về thời gian thanh toán mang tính chất bắt buộc đối với các giao dịch
quốc tế. Điều kiện này quy định cụ thể thời điểm thỏa thuận mà bên phải trả tiền cần thực
hiện thanh toán cho bên nhận tiền thường là:
Luận văn tốt nghiệp Lê Đăng Khoa
8
Trả trước: trong điều kiện này, người mua sẽ cấp một phần hoặc toàn bộ vốn cho
người bán. Đây là cách được áp dụng khi hai bên có quan hệ rất tín nhiệm, hoặc quan hệ
chi nhánh, đại lý với nhau. Việc trả tiền trước với mục đích người bán thiếu vốn phải vay
của người mua, thì người mua đã cấp tín dụng thương mại cho người bán.
Trả ngay: đây là hình thức mua bán mà ngay khi nhận được hàng hóa, người mua
dụng thư tín dụng với tổng giá trị hơn 1.000 tỷ USD mỗi năm.
Về mặt lịch sử, các bên tham gia thương mại, đặc biệt là các ngân hàng, đã phát
triển các kỹ thuật nghiệp vụ và các phương pháp sử dụng thư tín dụng trong tài chính-
thương mại quốc tế. Các thông lệ này đã được Phòng thương mại quốc tế (ICC) tiêu chuẩn
hóa thông qua việc xuất bản UCP năm 1933 và tiếp theo đó là cập nhật nó qua các năm.
ICC đã phát triển và đưa vào khuôn khổ UCP bằng các bản sửa đổi thường xuyên, bản
trước đây là UCP500. Kết quả là nỗ lực quốc tế thành công nhất trong việc thống nhất các
quy định từ trước đến nay, khi UCP đã có hiệu lực thực tế trên toàn thế giới. Bản sửa đổi
mới nhất đã được Ủy ban Ngân hàng của ICC phê chuẩn tại cuộc họp ở Paris vào ngày 25
tháng 10 năm 2006. Bản sửa đổi mới này, gọi là UCP600, đã chính thức bắt đầu hiệu lực từ
ngày 1 tháng 7 năm 2007.
1.3.2. URC 522 – The uniform Rules for collection, ICC Pub No 522, 1995 Revision
URC có nghĩa là “Quy tắc thống nhất về nghiệp vụ nhờ thu”, có hiệu lực từ
1/1/1996.
URC gồm có 26 điều khoản, được chia làm 7 phần:
1) Những điều khoản và định nghĩa chung (Điều 1 – 3).
2) Hình thức và nội dung nhờ thu (Điều 4).
3) Hình thức xuất trình (Điều 5 – 8 ).
4) Nghĩa vụ và trách nhiệm (Điều 9 – 15).
5) Thanh toán (Điều 16 – 19).
6) Lãi suất và chi phí phát sinh (Điều 20 – 21).
7) Các quy định khác (Điều 22 – 26).
Luận văn tốt nghiệp Lê Đăng Khoa
10
1.3.3. URR 525 – The Uniform Rules For Bank - to - Bank Reimbursemant under
Documentary Credit, ICC Pub No 525, 1995 Revision
URR 525 có nghĩa là “Quy tắc thống nhất hoàn trả liên hàng theo tín dụng chứng
từ”, có hiệu lực từ 1/7/1996.
URR gồm có 17 điều, được chia làm 3 phần:
Chú thích:
Bước 1: Người XK thực hiện việc cung ứng hàng hóa dịch vụ, đồng thời chuyển
giao toàn bộ chứng từ vận đơn, chứng từ về hàng hóa và chứng từ có liên quan cho người
NK.
Bước 2: Nhà NK sau khi kiểm tra chứng từ, hóa đơn, nếu phù hợp thì viết lệnh
chuyển tiền gửi đến Ngân hàng phục vụ mình.
Bước 3: Sau khi kiểm tra, nếu hợp lệ và đủ khả năng thanh toán Ngân hàng nhận
chuyển tiền lập thủ tục chuyển tiền qua ngân hàng đại lý (hoặc ngân hàng chi nhánh) nhận
trả tiền.
Bước 4: Ngân hàng đại lý chuyển trả cho người nhận tiền.
1.4.1.3. Hình thức chuyển tiền
Việc chuyển tiền có thể thực hiện bằng hai hình thức chủ yếu sau đây:
Luận văn tốt nghiệp Lê Đăng Khoa
Người thụ hưởng
(Người bán)
Ngân hàng
trả tiền
Ngân hàng
chuyển tiền
2
3
4
Người yêu cầu
chuyển tiền
(Người mua)
1
12
Chuyển tiền bằng điện báo (Telegraphic transfer - T/T): tức là Ngân hàng thực hiện
việc chuyển tiền bằng cách điện ra lệnh cho Ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho
+ Ngân hàng xuất trình.
1.4.2.2. Quy trình thanh toán
Quy trình thanh toán được thể hiện thông qua hình 1.2 sau:
Sơ đồ 1.2: Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu
Chú thích:
1) Người bán giao hàng và bộ chứng từ cho người mua.
2) Người bán kí hối phiếu đòi tiền người mua, uỷ nhiệm ngân hàng phục vụ mình
thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu đó.
3) Ngân hàng bên bán chuyển hối phiếu cho ngân hàng bên mua và nhờ thu hộ tiền
ở người mua.
4) Ngân hàng bên mua chuyển hối phiếu cho người mua yêu cầu trả tiền hoặc yêu
cầu ký chấp nhận hối phiếu đó.
5) Người mua trả tiền hoặc từ chối trả tiền.
Luận văn tốt nghiệp Lê Đăng Khoa
Người mua Người bán
NH xuất trình
NH thu hộ
NH nhận uỷ
thác thu
5 4
6
2 7
14
1
3
6) Ngân hàng bên mua chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho
ngân hàng phục vụ người bán.
7) Ngân hàng bên bán chuyển tiền hoặc hoàn lại toàn bộ hối phiếu bị từ chối trả tiền
thông qua ngân hàng khống chế quyền định đoạt hàng hóa đối với người mua, do đó quyền
lợi của người bán được đảm bảo hơn. Mặt khác quyền lợi của người mua cũng được đảm
bảo vì họ chỉ phải thanh toán hoặc chấp nhận khi đã được nhận hàng.
Tuy nhiên, nhược điểm là người bán thông qua ngân hàng mới khống chế được
quyền định đoạt hàng hóa của người mua chứ chưa khống chế được vịêc trả tiền của người
mua vì ngân hàng chỉ đóng vai trò là trung gian thanh toán hộ chứ không có trách nhiệm
đến việc trả tiền của người mua. Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa
chứng từ hoặc có thể từ chối thanh toán, không nhận hàng khi tình hình thị trường có bất
lợi với họ. Ngoài ra thời gian thanh toán thường kéo dài, gây ứ đọng vốn cho người bán và
không theo sát giá cả thị trường.
Người ta thường áp dụng phương thức này trong ngoại thương vì ngoài việc ủy thác
cho ngân hàng thu hộ tiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ vận tải đối với người
mua.
1.4.3. Tín dụng thư (L/C: Letter of Credit)
1.4.3.1. Khái niệm
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận trong đó một ngân hàng theo
yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định
cho người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do
người thứ ba kí phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba này xuất trình cho ngân
hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng và
thư tín dụng này phải lập theo các thể lệ về thủ tục và thực hành thống về tín dụng chứng
từ.
Luận văn tốt nghiệp Lê Đăng Khoa
16
Các bên tham gia trong phương thức thanh toán này gòm có:
Người yêu cầu mở thư tín dụng - người NK (người mua hàng).
Người hưởng lợi thư tín dụng - người XK (người bán hàng).
Ngân hàng mở L/C - ngân hàng phát hành L/C: là ngân hàng trực tiếp phục
vụ phục vụ người NK. Thông thường thì ngân hàng này là ngân hàng trực tiếp trả
1) Người NK viết đơn xin mở L/C gửi đến ngân hàng phục vụ mình yêu cầu ngân
hàng mở L/C cho người XK hưởng.
2) Căn cứ vào đơn xin mở L/C, ngân hàng phục vụ người NK mở một L/C cho
người XK hưởng.
3) Ngân hàng XK xác nhận L/C bằng văn bản và gửi bản chính L/c cho người XK.
4) Căn cứ vào các nội dung của L/C, người XK tiến hành giao hàng cho người NK.
5) Sau khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng, người XK phải hoàn chỉnh ngay bộ chứng
từ hàng hóa và thanh toán và gửi về ngân hàng nước mình, yêu cầu ngân hàng trả tiền cho
bộ chứng từ đó.
6) Ngân hàng thông báo nhận được bộ chứng từ phải kiểm tra kỹ các chứng từ nhận
được nếu thấy phù hợp thì ngân hàng thực hiện thanh toán (hoặc chấp nhận, chiết khấu)
theo những điều kiện đã ghi trong L/C.
7) Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng phục vụ người NK.
8) Ngân hàng phục vụ người NK (ngân hàng mở L/C) sau khi nhận được bộ chứng
từ hàng hóa, tiến hành kiểm tra kỹ các chứng từ đó, nếu thấy chúng đáp ứng các yêu cầu
của L/C thì chuyển tiền trả cho ngân hàng thông báo.
9) Ngân hàng mở L/C thông báo cho người NK biết việc trả tiền cho người XK theo
L/C, đồng thời yêu cầu người NK hoàn lại số tiền đó rồi trao cho người NK bộ chứng từ để
làm căn cứ nhận hàng.
Các loại thư tín dụng thương mại:
Thư tín dụng có thể hủy bỏ: Là loại L/C mà ngân hàng mở L/C và người NK
có thể sửa đổi bổ hoặc hủy bỏ L/C bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người
hưởng lợi. Loại L/C này nói chung ít được sử dụng vì nó không đảm bảo quyền lợi
cho người XK.
Luận văn tốt nghiệp Lê Đăng Khoa
18
Thư tín dụng không thể hủy bỏ: Là loại thư tín dụng sau khi đã được mở ra
và người XK thừa nhận thì ngân hàng mở L/C không được sửa đổi, bổ sung hoặc hủy
bỏ trong thời gian hiệu lực của nó, trừ khi có sự thỏa thuận khác của các bên tham gia
hoặc trong trường hợp tự do chiết khấu, NH ủy quyền ghi rõ trong L/C là NH
chuyển nhượng, chuyển nhượng cho một hay nhiều người khác sử dụng toàn bộ hay
một phần giá trị của L/C.Thường L/C này phải có điều khoản chấp nhận chứng từ
do bên thứ ba lập ra.
Tín dụng thư giáp lưng: L/C được mở khi tiến hành mua bán qua trung gian.
Sau khi nhận được L/C do người NK mở cho mình, người XK dùng L/C này để mở
một L/C với nội dung gần giống L/C ban đầu, chỉ khác số tiền thư tín dụng sau gọi
là L/C giáp lưng.
Tín dụng thư đối ứng: L/C này thường được dùng trong phương thức thanh
mua, bán quốc tế hàng đổi hàng hoặc trong gia công. Thư tín dụng đối ứng chỉ bắt
đầu hiệu lực khi một thư tín dụng đối ứng với nó đã được mở.
Đối với bất cứ một phương thức thanh toán nào cũng đều có những ưu nhược điểm
của nó. Mặc dù là phương thức được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, nhưng phương thức
tín dụng thư cũng có những ứu nhược điểm của nó, cụ thể là:
Đối với ngân hàng: Tín dụng chứng từ là sự thu xếp của các ngân
hàng để giải quyết các giao dịch thương mại quốc tế. Nó đưa ra một hình thức đảm bảo
cho các bên tham gia, đảm bảo thanh toán với điều kiện các điều khoản của L/C đã được
thực hiện và phù hợp. Thông qua phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng thu được
các khoản phí và lãi nếu khách hàng vay, qua đó tạo điều kiện mở rộng các hoạt động
liên quan khác như bảo lãnh, tín dụng, kinh doanh ngoại tệ… song cũng bị ràng buộc
trách nhiệm vào hoạt động kinh doanh của các bên đối tác với tư cách là một thành viên
Luận văn tốt nghiệp Lê Đăng Khoa
20
tham gia vào hoạt động thanh toán. Khi người NK không đủ khả năng thanh toán hoặc
không muốn thanh toán khi đến hạn thì ngân hàng phải gánh chịu rủi ro.
Đối với người NK: Đảm bảo chắc chắn rằng mình trả tiền thì sẽ nhận
được hàng và việc thanh toán chỉ được thực hiện khi bộ chứng từ là phù hợp. Ngoài ra họ
còn được ngân hàng tài trợ vốn tín dụng khi thanh toán bằng phương thức này. Tuy nhiên
cũng có những bất lợi cho người mua vì thanh toán bằng L/C là giao dịch trên cơ sở chứng
thanh toán các khoản nợ này được thực hiện trong thời kỳ nhất định (hàng tháng, quý).
1.4.4.2. Quy trình thực hiện
Phương thức thực hiện qua các bước sau:
Sơ đồ 1.4: quy trình thanh toán theo phương thức mở tài khoản
Chú thích:
1) Người bán giao hàng và gửi chứng từ cho người mua.
2) Người bán báo nợ trực tiếp cho người mua.
3) Đến kì hạn người mua chuyển tiền thanh toán cho người bán.
Đối với phương thức này, nó có các ưu nhược điểm như sau:
Luận văn tốt nghiệp Lê Đăng Khoa
NH bán NH mua
Người bán Người mua
3
2
22
1
Ưu điểm: Tạo điều kiện thuận lợi cho người mua hàng hóa khi chưa có sẵn
nguồn để thanh toán.
Nhược điểm: Không có sự đảm bảo đầy đủ cho người bán thu kịp tiền hàng,
vòng quay luân chuyển vốn chậm, không ổn định. Đòi hỏi quan hệ giữa người XK và
người NK phải có sự tín nhiệm cao.
Phương thức này chỉ có lợi cho bên mua, nên không kích thích sản xuất. Hơn nữa
nó không sát giá hiện tại trong khi giá cả hiện tại trên thị trường biến động từng ngày, từng
giờ. Thanh toán mở tài khoản ít được sử dụng trong TTQT vì nó không đảm bảo cho người
XK kịp thời thu tiền hàng.
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC
TẾ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
(BIDV)
đồng (theo giá năm 1995) cho kiến thiết cơ bản, góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh,
khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, tạo đà bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Những công trình hoàn thành vào thời kỳ này như: hệ thống đê điều, công trình Đại
thuỷ nông Bắc Hưng Hải - công trình đại thuỷ nông đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà sau chiến tranh chống Pháp; các mỏ than ở Quảng Ninh, Bắc Thái; các nhà máy
điện Yên Phụ, Uông Bí, Vinh; Nhà máy Xi măng Hải phòng; Đài phát thanh Mễ Trì;
Trường Đại học Bách khoa, Đại học Kinh tế - Kế hoạch (nay là Đại học Kinh tế quốc dân),
Đại học Thuỷ lợi... có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện sự chăm lo của Đảng, của Nhà
nước củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ mới.
Ngày 19/11/1960, Chính phủ đã có Nghị định số 64 ban hành Quy chế quản lý đầu
tư xây dựng cơ bản do BIDV chuẩn bị. Đây là quy chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản đầu
tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chấm dứt thời kỳ quản lý vốn theo chế độ thực
Luận văn tốt nghiệp Lê Đăng Khoa
24
thanh thực chi sang đầu tư có trình tự, thanh toán khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành
theo thiết kế được duyệt. Thời kỳ này, BIDV đã cung ứng vốn 3.267 tỷ đồng (theo giá
1964) tương đương 22.000 tỷ đồng (theo giá năm 1995) và mang lại thu nhập quốc dân
toàn xã hội là 19,7 tỷ đồng (tương đương 197.000 tỷ đồng theo giá năm 1995); hiệu quả
thu nhập quốc dân mang lại trên 1 đồng vốn đầu tư đạt 0,49 đồng, có những năm đạt 0,55
đồng. BIDV đã góp phần đưa hàng trăm công trình hoàn thành vào sử dụng như: khu công
nghiệp Cao Xà Lá Thượng đình - Hà nội, khu công nghiệp Việt Trì, khu gang thép Thái
Nguyên - đứa con đầu lòng của nền công nghiệp luyện kim Việt Nam, Đường dây điện cao
thế 110 KV Việt Trì - Đông Anh, đường dây điện cao thế 110 KV Đông Anh - Thái
nguyên, Nhà máy thuỷ điện Bản Thạch - Thanh hoá, Nhà máy đường Vạn Điểm - Hà đông,
Nhà máy điện Uông Bí, Đài phát thanh tiếng nói dân tộc khu tự trị Việt Bắc, Nhà máy
Supe phốt phát Lâm Thao, Nhà máy phân lân Văn Điển, công trình thuỷ lợi và thuỷ điện
Khuôi Sao (huyện Tràng Định Tỉnh Lạng Sơn), Cầu Hàm Rồng và đoạn đường sắt Hàm
Rồng - Vinh, hệ thống thuỷ nông Nam Hà gồm 6 trạm bơm lớn: Cổ Đam, Cốc Thành, Hữu