Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư là một lĩnh vực có từ rất lâu nhưng thực sự để nó mang lại hiệu
quả cao thì đó là vấn đề mà tất cả các quốc gia quan tâm. Không chỉ riêng
đối với các nước phát triển mà cả những nước dang phát triển đầu tư là nhân
tố quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế . Đồng thời
là đầu tư tác động đến việc chuyển dịch cơ câu của mỗi quốc gia . vì vậy
Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí là một trong những vấn đề hết sức quan
trọng trong vấn chiến lược phát triển của mỗi quốc gia . điều này còn có ý
nghĩa to lớn đối với VIỆT NAM chung ta . Trong bối cảnh toàn cầu hóa như
hiện nay , xu thế hội nhập vào khu vực và thế giới là tất yếu. Mỗi quốc gia
đều phải tự chủ động tìm lợi thế của mình trong quá trình hợp tác phát triển .
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ năm 1986 tới nay, rõ nhất là
từ năm 1990, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng
các ngành công ngiệp và dịch vụ trong GDP của toàn nền kinh tế nước ta đã
và của các vùng tăng nhanh chiếm tỷ trọng lớn, tỷ trọng của nông ngiệp có
xu hướng giảm dần, cơ cấu các thành phần kinh tế có xu hướng thay đổi theo
hướng hợp lí hơn. Những chuyển biến đó đã góp phần tạo đà cho nền kinh tế
đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định.
Tuy nhiên, những tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng mới chỉ
là bước đầu, và nhìn chung sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Cho
đến nay, nước ta vẫn là nước nông nghiệp, dân cư sống ở nông thôn và lao
động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Để đạt được mục tiêu đến năm
2020, “ đưa nước ta cơ bản trở thàn một nước công nghiệp có cơ sở vật chất
kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,…” mà Đại hội VIII của Đảng đề ra,
thì còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cức và có giải pháp sát thực.
Kinh tế đầu tư 49A Nhóm 7
Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Để có một cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý như hiện nay không thể không
kể đến vai trò của đầu tư. Đầu tư được coi như một công cụ hữu hiệu, lá bài
quan trọng nhất trong tay các nhà quản lý nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển
đối với toàn bộ nền kinh tế. Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà
cả nền kinh tế cũng được thụ hưởng.
Trong thực tế có rât nhiều hình thái biểu hiện cụ thể của đầu tư. Tùy từng
góc độ tiếp cận với những tiêu thức khác nhau mà người ta cũng có thể có
Kinh tế đầu tư 49A Nhóm 7
Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
những hình thức phân chia khác nhau. Một trong những hinh thức thường
được sử dụng đó là tiêu thức quan hệ quản lý của chủ đầu tư. Theo tiêu thức
này đầu tư được chia làm đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp.
•
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực
tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện vận hành kết quả đầu tư.
Chẳng hạn nhà đầu tư khi bỏ vốn của minh ra mua cổ phiếu hoặc trái phiếu
của một công ty hay một tổ chức nào đó, trong trường hợp này mặc dù chủ
đầu tư không trực tiếp tham gia vào hoạt động của công ty, tổ chức hay nói
cách khác là chủ đầu tư không trực tiếp quản lý vốn mà mình đã bỏ ra nhưng
vẫn có thể được hưởng lợi ích từ nguồn vốn đó như lợi ích vật chất (cổ tức,
tiền lãi trái phiếu), lợi ích phi vật chất (quyền biểu quyết, quyền tiên mãi).
•
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp
tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện vận hành kết quả đầu tư.
Chẳng hạn nhà đầu tư bỏ vốn của mình ra mở một công ty tư nhân, trong
trường hợp này chủ đầu tư trực tiếp tham gia vào quá trình điều hành hoạt
động của công ty, lợi ích của công ty đi liền với lợi ích của chính chủ đầu tư.
Đầu tư trực tiếp lại bao gồm đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển. Trong
đó, đầu tư dịch chuyển là một hình thức đầu tư trực tiếp mà việc bỏ vốn là
nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị của tài sản. Chẳng hạn nhà đầu tư
mua một số lượng cổ phiếu với mức khống chế để có thể tham gia hội đồng
Kinh tế đầu tư 49A Nhóm 7
Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm khác biệt với các loại
hình đầu tư khác, gồm những đặc điểm chủ yếu sau:
+ Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi quy mô vốn, vật tư, lao động thường
là rất lớn. Khi đi vào vận hành kết quả đầu tư, thì vốn đầu tư là yếu tố nằm
đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện. Nó đòi hỏi người chủ đầu tư phải có
những biện pháp, chính sách, quy hoạch, kế hoạch hợp lý để quản lý vốn
một cách chặt chẽ để hoạt động đầu tư có hiệu quả sử dụng vốn cao, tránh
thất thoát vốn.
+ Thời gian thực hiện đầu tư kéo dài. Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công
thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công
trình đầu tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm. Do vốn
lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao
hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn
lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt
chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn
đầu tư xây dựng cơ bản.
+ Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài. Thời gian vận hành các kết
quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời gian
sử dụng và đào thải công trình. Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác dụng
lâu dài, có thể tồn tại vĩnh viễn. Trong suốt quá trình vận hành, các kết quả
đầu tư chịu sự tác động hai mặt, cả tích cực và tiêu cực của nhiều yếu tố tự
nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội…
+ Nếu sản phẩm của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng thì
thường phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng nên do đó quá
Kinh tế đầu tư 49A Nhóm 7
Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trình thực hiện đầu tư và đi vào vận hành kết quả đầu tư sẽ chịu ảnh hưởng
của điều kiện thời tiết, khí hậu, điều kiện thuỷ văn của địa điểm đó.
×
Y
K∆
=
ICOR
1
×
Y
1
Từ đó có thể suy ra:
Y∆
=
ICOR
1
×
I
Trong đó:
∆
Y: là mức gia tăng sản lượng
∆
K: là mức gia tăng vốn đầu tư
Kinh tế đầu tư 49A Nhóm 7
thường chiếm từ 24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế
giới. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn. Xét
theo mô hình kinh tế vĩ mô, đầu tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
cầu. Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu
(AD) tăng (nếu các yếu tố khác không thay đổi.
AD=C+ I + G + X – M
Trong đó:
C: tiêu dùng
I: đầu tư
G: tiêu dùng của chính phủ
X: xuất khẩu
M: nhập khẩu
+ Tác động tới tổng cung: Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính
là cung trong nước và cung từ nước ngoài. Bộ phận chủ yếu, cung trong
nước là một hàm của các yếu tố sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, công
nghệ…, thể hiện qua phương trình sau:
Kinh tế đầu tư 49A Nhóm 7
Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Q= F (K, L, T, R…)
Trong đó:
K: vốn đầu tư
L: lao động
T: công nghệ
R: nguồn tài nguyên
Như vậy tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng
cung của nền kinh tế, nếu các yếu tố khác không đổi. Mặt khác nếu tác động
của vốn đầu tư còn được thực hiện thông qua các hoạt động đầu tư nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ…Do đó đầu tư gián tiếp làm
tăng tổng cung của nền kinh tế.
chuyên môn, năng suất cao và sản phẩm làm ra có chất lượng tốt nhất.
2.1.6. Đầu tư với việc tăng cường năng lực khoa học cộng nghệ của đất
nước.
Đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát
triển khoa học, công nghê của môt doang nghiệp và quốc gia. Đầu tư và đặc
Kinh tế đầu tư 49A Nhóm 7
Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
biệt đầu tư phát triển trực tiếp tạo mới và cải tạo năng lực sản xuất, phục vụ
của nền kinh tế và của các vùng kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và đồng thời ảnh
hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế.
Trong giai đoạn phát triển, xu hướng đầu tư mạnh vốn thiết bị và gia
tăng hàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối. Tuy nhiên, qua trình chuyển
từ giai đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ ba cũng là quá chuyển từ đầu tư ít
sang đầu tư lớn ,thay đổi cơ cấu đầu tư. Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ
không đảm bảo sự thành công của quá trình chuyển đổi và sự phát triển của
khoa học và công nghệ. Mỗi doanh nghiệp mỗi nước khác nhau cần phải có
bước đi phù hợp để lựa chọn công nghệ thích hợp. Trên cơ sở đó, đầu tư có
hiệu quả để phát huy lợi thế so sánh của tưng đơn vị cũng như toàn nền kinh
tế.
II. CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ.
1. Cơ cấu kinh tế.
1.1. Khái niệm cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan
hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.
Nội dung chủ yếu của cơ cấu kinh tế là:
- Tổng thể của các bộ phận (thành phần ) hợp thành.
- Các mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định theo một tương quan hay tỉ
lệ nhất định.
Cụ thể:
hợp với mỗi giai đoạn phát triển, với quy luật và chiến lược phát triển của
mỗi quốc gia trong từng thời kì tạo ra sự cân đối mới giữa các ngành vùng
nhằm phát huy nội lực kinh tế.
Nền kinh tế có sự phân công lao động có các ngành, lĩnh vực, bộ phận
kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất nhất định sẽ hình thành một
cơ cấu kinh tế với tỉ lệ cân đối tương ứng với các bộ phận, tỉ lệ đó được thay
đổi thường xuyên và tự giác theo quá trình diễn biến khách quan của nhu cầu
xã hội và khả năng đáp ứng nhu cầu đó. Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt,
cô đọng nội dung chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của từng giai đoạn
phát triển nhất định. Nhưng không vì thế mà áp đặt chủ quan, tự đặt cho các
ngành những tỉ lệ và vị trí trái ngược với yêu cầu và xu thế phát triển của xã
hội. Mọi sự áp đặt chủ quan, nóng vộinhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế theo ý
muốn, thường dẫn đến tai hoạ không nhỏ, bởi sai lầm về cơ cấu kinh tế là sai
lầm chiến lược, khó khắc phục, hậu quả lâu dài.
1.2.2. Cơ cấu kinh tế luôn biến chuyển theo hướng ngày càng hoàn thiện.
Sự biến đổi cơ cấu chịu tác động thường xuyên của những quy luật kinh
tế - xã hội, do quá trình phát triển không ngừng của xã hội loài người. Sự
biến đổi đó gắn liền với sự biến đổi không ngừng của khoa học kỹ thuật,
công nghệ thông tin cũng như các yếu tố kinh tế, các quá trình vận động và
phát triển của các yếu tố kinh tế đó trong tổng thể nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế đầu tư 49A Nhóm 7
Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tương ứng với mỗi thời kì lịch sử là một cơ cấu kinh tế phù hợp với tri
thức và nhu cầu của con người. Các cơ cấu cũ dần dịch chuyển và hình
thành cơ cấu mới, theo hướng tiến bộ và phát triển hơn. Sự dịch chuyển của
cơ cấu là một quá trình vận động không ngừng từ đơn giản đến phức tạp, từ
ít hoàn thiện cho đến hoàn thiện đồng thời cùng với sự đi lên của tri thức và
nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú của nhân loại.
1.2.3. Cơ cấu kinh tế là một quá trình mang tính kế thừa và phát triển của
lịch sử.
càng được đào tạo mới, chuyên sâu dễ học hỏi và tiếp thu khoa học tiến bộ.
Đây là một lợi thế cần được khai thác trong đầu tư phát triển.
Các nguồn lực và lợi thế so sánh của đất nước là cơ sở để hình thành và
chuyên dịch cơ cấu kinh tế một cách bền vững và có hiệu quả. Nhà nước và
các doanh nghiệp cần có chiến lược đầu tư phát triển nhằm phát huy các
nguồn lực sẵn có, tận dụng lợi thế so sánh để đầu tư hướng về xuất khẩu
những sản phẩm có lợi thế, tạo đà hội nhập và tham gia có hiệu quả vào
phân công lao động và hợp tác quốc tế.
1.3.3. Quan hệ đối ngoại và phân công lao động quốc tế.
Kinh tế đầu tư 49A Nhóm 7
Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Phân công lao động giữa các quốc gia trên phạm vi thế giới, được hình
thành khi sự phân công lao động xã hội vượt ra ngoài biên giới một quốc gia
do sự phát triển của lực lượng sản xuất. PCLĐQT ngày càng phát triển và
bao trùm toàn bộ nền kinh tế thế giới. Điều kiện để phát triển PCLĐQT bao
gồm:
1) Sự khác biệt giữa các quốc gia về điều kiện tự nhiên, do đó, các quốc
gia phải dựa vào những ưu thế về tài nguyên thiên nhiên để chuyên môn hoá
sản xuất, phát huy lợi thế so sánh và điều kiện địa lí của mình.
2) Sự khác biệt giữa các quốc gia về trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, trình độ phát triển của khoa học - kĩ thuật và công nghệ, về truyền
thống sản xuất, lực lượng sản xuất.
3) Trong một phạm vi nhất định, chịu ảnh hưởng và sự tác động của chế
độ kinh tế - xã hội của đất nước.
Quan hệ đối ngoại và phân công lao động quốc tế là nhân tố bên ngoài
tác động mạnh mẽ tới sự hình thành cơ cấu nền kinh tế. Chính vì thế quan hệ
kinh tế đối ngoại tốt sẽ là điều kiện để tăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài
vào trong nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Kinh tế đầu tư 49A Nhóm 7
Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chiến lược phát triển và cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước là nhân tố
quyết định sự hình thành cơ cấu kinh tế. Trong chính sách kinh tế của mỗi
nước đều có hai mặt cơ bản, đó là chính sách cơ cấu và cơ chế quản lý kinh
tế. Cơ cấu kinh tế hình thành và phát triển trong sự điều chỉnh, chuyển dịch
để hoàn thiện, giai đoạn ở mức độ sau cao hơn giai đoạn trước vừa mang lại
tăng trưởng kinh tế, vừa phù hợp với sự biến động chung của thị trường thế
giới trong thời kì mở cửa.
1.4. Phân loại cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu nền kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân bao gồm ba bộ phận
cơ bản hợp thành: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu
lãnh thổ.
1.4.1. Cơ cấu ngành kinh tế.
+ Khái niệm: Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành hợp thành các tương
quan tỉ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân.
Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh được phần nào trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất và phân công lao động của một quốc gia.
+ Bao gồm các ngành:
- Nông- lâm- ngư nghiệp
- Công nghiệp và xây dựng
- Dịch vụ.
1.4.2. Cơ cấu thành phần kinh tế.
Kinh tế đầu tư 49A Nhóm 7
Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
+ Khái niệm: Cơ cấu thành phần kinh tế biểu hiện hệ thống tổ chức kinh tế
với các chế độ sở hữu khác nhau có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực
lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội. Nó cũng là một nhân tố
tác động đến cơ cấu ngành kinh tế, và cơ cấu lãnh thổ trong quá trình phát
triển.
3 bộ phận này:
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ
2.2. Sự cần thiết khách quan của chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Việt Nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất
kĩ thuật, trình độ lực lượng sản xuất chưa phát triển hoàn thiện.
Kinh tế đầu tư 49A Nhóm 7
Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự phân công lao động, cơ sở vật chất kĩ thuật ở các ngành then chốt
như: Công nghiệp, nông nghiệp, công nghiệp- dịch vụ chưa hợp lý và vẫn
lạc hậu. Hệ thống kết cấu hạ tầng và dịch vụ cho đời sống còn thấp kém so
với các nước trong khu vực và thế giới. Nhiều ngành, lĩnh vực còn thấp kém
làm cho nền kinh tế chưa vững chắc, tài nguyên nhiều, lực lượng lao động
dồi dào chưa có khả năng và khai thác có hiệu quả, giải pháp duy nhất để
khắc phục là tiến hành CNH- HĐH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mở đương
cho sản xuất phát triển.
Vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung hay cơ cấu ngành kinh tế
nói riêng theo hướng CNH- HĐH nhằm huy động và sử dụng hiệu quả mọi
nguồn lực để không ngừng tăng năng suất lao động làm cho nền kinh tế tăng
trưởng nhanh, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân. Từ đó
thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh
thái.
2.3. Một số nhân tố tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong quá trình phát triển kinh tế của một đất nước các chủ thể kinh tế
luôn hành động theo hiệu quả kinh tế thiết thực. Ở một chừng mực nhất định
quy hoạch phát triển của Nhà nước có tác động đến cơ cấu đầu tư, nhưng kết
quả cuối cùng lại được thể hiện bằng cơ cấu trên các phương diện của nó.
Cơ cấu kinh tế luôn thay đổi theo chiều hướng hợp lý hơn, sự thay đổi đó
chính là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nhìn chung chuyển dịch cơ cấu kinh
một cách khách quan và từng bước tạo ra sự cân đối hợp lý hơn, có khả năn
khai thác nguồn lực trong nước và nước ngoài.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình
thành cơ cấu kinh tế. Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng, nên cơ cấu
kinh tế luôn luôn thay đổi, song sự biến đổi của cơ cấu kinh tế diễn ra chậm
chạp, không mang tính đột biến như chính sách, cơ chế quản lý.
Nhóm nhân tố tác động bên ngoài:
- Xu hướng chính trị, kinh tế, xã hội của khu vực và thế giới. Sự biến động
của chính trị, kinh tế, xã hội của một nước, hay một số nước, nhất là các
nước lớn sẽ tác động mạnh mẽ đến dòng hàng hóa trao đổi, từ đó ảnh hưởng
đến nguồn thu hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ... buộc các quốc gia
phải điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế của mình nhằm
bảo đảm lợi ích quốc gia và sự phát triển trong động thái chung của thị
trường thế giới.
- Xu thế toàn cầu hóa kinh tế quốc tế hiện nay có tác động rất mạnh mẽ đến
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng nước, vì chính sự phân công lao
động diễn ra trên phạm vi quốc tế ngày càng sâu sắc và cơ hội thị trường
rộng lớn được mở ra trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, cho phép
các nước có khả năng khai thác những thế mạnh của nhau để trao đổi các
nguồn lực, vốn, kỹ thuật, hàng hóa và dịch vụ một cách hiệu quả... Quá trình
đó vừa bắt buộc, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các nước thực hiện chuyển
dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với sự phân công lao động trên quy mô toàn thế
giới.
Kinh tế đầu tư 49A Nhóm 7
Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Những thành tựu của cách mạng khoa học, kỹ thuật, đặc biệt sự bùng nổ
công nghệ thông tin tạo nên những bước nhảy vọt trong mọi lĩnh vực sản
xuất góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước
vì thông tin nhanh chóng làm cho sản xuất, kinh doanh được điều chỉnh
nhanh nhạy, hợp lý hơn, dẫn đến cơ cấu sản xuất được thay đổi phù hợp hơn