Tìm hiểu hoạt động của một số trung gian tài chính ở việt nam - Pdf 12

CHỦ ĐỀ 2. Tìm hiểu hoạt động của một số trung gian tài chính ở Việt
Nam (Ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm )
Các tổ chức tài chính trung gian là các tổ chức tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn từ
người có vốn tới người cần vốn. Tuy nhiên không như dạng tài chính trực tiếp người cần
vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau ở thị trường tài chính, các trung gian tài
chính thực hiện sự dẫn vốn thông qua một cầu nối. Nghĩa là người cần vốn muốn có được
vốn phải thông qua người thứ ba, đó chính là các tổ chức tài chính gián tiếp hay các tổ chức
tài chính trung gian.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê thì hiện Việt nam có: 5 Ngân hàng thương mại lớn (Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Công Thương, Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Ngân hàng Xuất nhập khẩu), Ngân hàng chính sách, Ngân hàng phát triển; 6 Ngân hàng liên doanh; 36 Ngân hàng thương mại cổ phần; 46 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài; 10 Công ty tài chính; 13 Công ty cho thuê tài chính; 998 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
Các tổ chức tài chính trung gian có thể là các ngân hàng, các công ty chứng khoán, các hiệp hội
cho vay, các liên hiệp tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính
Tại Việt Nam, hiện có đầy đủ các loại hình tổ chức tài chính trung gian bao gồm:
• Ngân hàng thương mại
• Công ty chứng khoán
• Công ty tài chính
• Công ty bảo hiểm
• Quỹ đầu tư
a. Loại hình: Ngân hàng thương mại
Ở Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23/5/1990 của hội đồng Nhà nước Việt Nam xác định:
"Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là
nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực
hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán".
Theo số liệu của Tổng cục thống kê thì hiện Việt nam có: 5 Ngân hàng thương mại lớn (Ngân
hàng Ngoại thương, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Công Thương, Ngân hàng Đầu tư Phát
triển, Ngân hàng Xuất nhập khẩu), Ngân hàng chính sách, Ngân hàng phát triển; 6 Ngân hàng
liên doanh; 36 Ngân hàng thương mại cổ phần; 46 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài; 10 Công ty
tài chính; 13 Công ty cho thuê tài chính; 998 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Các đơn vị trên đều
có chức năng cho vay, là chức năng chính của ngân hàng.
Dân số nước ta hiện nay ước khoảng 86 triệu người, GDP khoảng 65 tỷ USD, số lượng các ngân
hàng này hiện này được xem là đông đảo với một thị trường tài chính nhỏ như Việt Nam. Hệ
thống ngân hàng Việt Nam đã có sự tăng trưởng rất nhanh trong những năm qua với tốc độ tăng

chính Than khoáng sản Việt nam, công ty tài chính Cổ phần Dầu khí…
Các công ty tài chính với ưu thế về nguồn vốn lớn từ các tập đoàn rót xuống đã liên tục đầu tư dài
hạn, tài trợ các dự án như: Dự án đóng tàu, dự án thủy điện, đầu tư tài chính
Ưu điểm của các công ty tài chính là mang lại một nguồn vốn lớn dài hạn, cung ứng cho nhiều dự
án lớn trọng điểm. Tuy nhiên ở Việt Nam, các công ty tài chính lại trực thuộc các tập đoàn mà
các tập đoàn này về bản chất là sử dụng vốn của Nhà nước.
Năm 2008 khi các Tập đoàn công bố báo cáo tài chính thì hầu hết các ngành nghề chính đều thua
lỗ trong khi phần thu lãi lại xuất phát từ đầu tư tài chính. Trong khi đó, các Tổng công ty tập
đoàn có vốn nhà nước thường xuyên “kêu” thiếu vốn đầu tư cho các dự án thì vẫn thành lập ra
hàng loạt các công ty tài chính để nhằm mục đích đầu tư tài chính.
So sánh với NHTM:
Trong khi ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng thì công ty tài
chính huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty. Vì thế, rủi ro xảy ra đối với các
công ty tài chính chủ yếu là do nội bộ tập đoàn hay nhóm công ty gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới
cộng đồng. Khi các quan hệ kinh tế trong tập đoàn là minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì
khả năng xảy ra rủi ro là không lớn.
Một trong những hạn chế của các công ty tài chính so với các tổ chức ngân hàng là không được
làm dịch vụ thanh toán và nhận tiền gửi dưới 1 năm. Tuy vậy, các công ty tài chính hiện nay đã
khắc phục bằng việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới như dịch vụ nhận ủy thác vốn,
nhận ủy thác đầu tư bao thanh toán, thu xếp vốn, v.v. cho cả ngắn hạn, trung và dài hạn. Những
dịch vụ này đã giúp công ty tài chính thực hiện được các dịch vụ khác tương tự như một ngân
hàng thương mại.
d. Loại hình: các Công ty Bảo hiểm
Dẫn lời một quan chức trong ngành Bảo hiểm thì Việt Nam vẫn là một thị trường bảo hiểm năng
động và tiềm năng. Sự ra đời và xuất hiện các công ty bảo hiểm trên thị trường đem lại cho người
tiêu dùng nhiều lợi ích từ việc bảo hiểm những rủi ro trong cuộc sống hàng ngày.
Các công ty bảo hiểm với rất nhiều sản phẩm bảo hiểm hầu như đã đáp ứng được những nhu cầu
bảo hiểm phong phú từ khách hàng. Hiện các công ty bảo hiểm đang quản lý một lượng lớn
nguồn vốn. Nguồn vốn này các Công ty bảo hiểm có nhu cầu đầu tư dài hạn, đầu tư vào các dự án
có mức độ mạo hiểm nhằm thu lợi nhuận.

3. Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ (money market fund)
4. Một số Quỹ khác
- Quỹ đầu tư danh mục linh hoạt (flexible portfolio fund)
- Quỹ đầu tư cân đối (balanced fund)
Phân loại theo cơ cấu huy động vốn
Quỹ đầu tư dạng đóng (closed-end fund) Không mua lại các chứng chỉ mà Quỹ đã phát hành,
Quỹ đóng huy động vốn thông qua phát hành chứng chỉ từng lần một. Nhà đầu tư không mua
được chứng chỉ Quỹ ở các lần phát hành tập trung thì chỉ có thể mua lại ở thị trường chứng
khoán thứ cấp từ những cổ đông hiện tại giống như giao dịch các cổ phiếu. Quỹ không có liên
quan gì tới những giao dịch này. Vì vậy, Quỹ đóng còn có tên là Quỹ giao dịch công cộng
(publicly-traded fund). Chứng chỉ Quỹ đóng có thể được niêm yết trên Sở giao dịch chứng
khoán hoặc chỉ được giao dịch trên thị trường chứng khoán phi tập trung OTC (Over The
Counter ) và được giao dịch giống như cổ phiếu thường.
Quỹ đóng có cơ cấu vốn ổn định nên có lợi thế trong việc đầu tư vào các dự án dài hạn và các
chứng khoán có tính thanh khoản thấp. Tuy vậy, chứng chỉ Qũy đóng không có tính thanh
khoản cao nên thị giá thường thấp và thời gian thu hồi vốn lâu.
Quỹ đầu tư dạng mở (open-end fund): Phát hành chứng chỉ liên tục để huy động vốn và sẵn
sàng mua lại chứng chỉ mà Quỹ đã phát hành theo giá trị tài sản ròng. Việc mua bán chứng chỉ
Quỹ có thể thực hiện trực tiếp giữa người đầu tư và công ty quản lý Quỹ, không phải thông
qua thị trường chứng khoán với giá mua = giá trị tài sản ròng của Quỹ + phí bán. Phương pháp
tính giá mua sẽ được nêu ở phần Hoạt động của Quỹ đầu tư.
Do cơ cấu vốn không ổn định vì người đầu tư có thể rút vốn bất kỳ lúc nào nên Quỹ mở phải
đầu tư vào rất nhiều loại chứng khoán khác nhau. Vì vậy, góp vốn vào Quỹ mở, người đầu tư
có thể nắm giữ một danh mục đầu tư hết sức đa dạng. Người đầu tư có thể nhận cổ tức hoặc
tái đầu tư vào Quỹ bằng cách yêu cầu được mua thêm chứng chỉ mới. Quỹ mở thường được
gọi phổ biến là Quỹ hỗ tương (mutual fund).
Ngoài ra còn có một số dạng khác xuất phát từ hai hình thái trên:
- Quỹ bán mở
- Quỹ tín thác đơn vị UIT (unit investment trust)
Ra đời năm 2000, tính tới nay thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã trải qua rất nhiều

Hoàng Hải, Tổng Thư ký Hiệp hội Các NĐT tài chính Việt Nam (VAFI) khẳng định trong 3
năm qua, không một công ty quản lý quỹ trong nước nào có khả năng huy động được vốn để
thành lập quỹ đầu tư. Hơn nữa, đa số các quỹ hoạt động ở Việt Nam đều có thời hạn từ 5-10
năm. Như vậy, kể từ năm 2011 trở đi, các quỹ đầu tư sẽ chịu áp lực thoái vốn rất lớn (do đã
hết hạn hoạt động). Nếu như điều kiện vĩ mô tốt lên, tỉ giá ổn định, TTCK không được cải
thiện, chắc chắn áp lực thoái vốn sẽ nhiều hơn.
Dự báo, động thái trên của Bộ Tài chính và lộ trình tái cấu trúc TTCK cho thấy tới đây, cơ
quan này sẽ có nhiều biện pháp tạo thuận lợi và tạo hấp lực hơn để các quỹ đầu tư nhiều hơn
vào Việt Nam
Sự tác động của các trung gian tới sự phát triển kinh tế Việt Nam
Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 1997 bắt nguồn từ Thái Lan đã có những tác động
đến thị trường tài chính Việt Nam. Tuy nhiên mức độ tác động là chưa lớn vì lúc này thị trường
tài chính Việt Nam chưa hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.
Kể từ khi Việt Nam tham gia hội nhập mở cửa và trở thành thành viên của tổ chức thương mại
quốc tế WTO từ 11/01/2007, thị trường tài chính Việt Nam có những sự phát triển nhanh chóng
rõ rệt.
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tư
nhân phát triển các ngành nghề. Cùng với sự phát triển thì nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh,
cho nhu cầu xuất nhập khẩu ngày càng tăng cao:
Năm 2000 đánh dấu sự ra đời của thị trường Chứng khoán Việt Nam. Các doanh nghiệp và các tổ
chức tài chính sẽ có nhiều lựa chọn hơn trong việc huy động vốn và sử dụng đồng vốn của mình.
Nếu từ trong giai đoạn năm 1998 đến thời điểm trước năm 2005, quy mô vốn của các trung gian
tài chính trên thị trường Việt Nam là rất nhỏ bé thì sau năm 2005 các mô hình, loại hình thị
trường có sự phát triển mau lẹ, rõ rệt.
Ta luôn được chứng kiến có sự cạnh tranh mạnh mẽ nhất và sôi động nhất giữa các tổ chức trung
gian tài chính trong việc thu hút tiền nhàn rỗi trong dân cư.
Trong thời gian gần đây, các Tổ chức tín dụng đưa ra các hình thức sau:
- Cạnh tranh khuyến khích khách hàng mở tài khoản cá nhân, tài khoản sử dụng thẻ Tính đến
nay trong cả nước đã mở được khoảng trên 1.300.000 tài khoản cá nhân, trong đó có khoảng trên
750.000 tài khoản của các chủ thể.

bán vốn trên thị trường. Cùng với đó các tập đoàn cũng trích từ nguồn vốn của mình một lượng
vốn lớn để đổ vào thị trường tài chính: hiện trạng trên khiến thị trường tài chính Việt Nam trong
giai đoạn năm 2007 phát triển nhanh và rất nóng.
Khi thị trường tài chính Việt Nam phát triển, kéo theo sự tăng điểm hàng ngày của thị trường
chứng khoán. Đã có thời điểm thị trường chứng khoán Việt Nam “cán đích” trên 1100 điểm. Số
lượng các tài khoản được mở tại các Công ty chứng khoán luôn ở mức ấn tượng. Lúc này các
doanh nghiệp niêm yết rất dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn giá rẻ qua các cuộc phát hành thêm
cổ phiếu.
Nhận thấy những bất cập trên và dự đoán được những tác động tai hại nếu để thị trường chứng
khoán phát triên quá nóng, bộ tài chính quyết định dùng một chính sách nhằm điều tiết thị trường.
Ngày 17/03/2008, Bộ Tài chính ban hành một nghị quyết mà theo đó các Ngân hàng thương mại
buộc phải mua 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc. Chính điều này đã một lúc “ép” các ngân hàng
thiếu vốn khả dụng, buộc họ phải tìm mọi cách thu hút lượng tiền gửi từ dân cư.
Hành động của Bộ Tài chính có tác dụng thắt chặt tiền tệ, kiểm soát lạm phát. Việc ban hành
quyết định phát hành tín phiếu đã hút khỏi thị trường một lượng vốn khồng lồ. Hành động này
Nhà nước kỳ vọng sẽ kiểm soát được tình trạng phát triển quá nóng của thị trường tài chính.
Song kịch bản thị trường đã có nhiều điểm thăng trầm! Do hành động quá mạnh tay, nhiều ngân
hàng rơi vào tình trạng thiếu hụt nguồn vốn khả dụng nghiêm trọng. Và khi đó diễn ra cuộc cạnh
tranh khốc liệt trên thị trường vốn giữa các Ngân hàng. Các Ngân hàng liên tục hút người gửi tiền
bằng hình thức chạy đua lãi suất huy động. Có nhiều ngân hàng thương mại thậm chí đã đẩy mức
lãi suất huy động lên tới hơn 20%/năm.
Điều này ngay lập tức tác động lớn đến tâm lý của công chúng đầu tư. Một lượng vốn lớn bị rút
khỏi thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán bị down liên tục, phá vỡ tất cả các ngưỡng
hỗ trợ mặc cho Bộ Tài chính liên tục có những sự động viên. Các công ty chứng khoán, quỹ đầu
tư rơi vào tình trạng heo hắt khi mà giao dịch cực thấp, lượng nhà đầu tư đóng băng tài khoản rất
lớn.
Sự ngừng hoạt động (giải thể) hoặc rút bớt nghiệp vụ của các công ty chứng khoán là một tất yếu
được dự báo trước. Một hệ quả tất yếu nữa là các doanh nghiệp càng ngày càng gặp khó khăn qua
các phương án tăng vốn bằng hình thức phát hành cổ phiếu. Mà việc tiếp cận với nguồn vốn ngân
hàng thì rất khó khăn bởi lãi suất giải ngân rất lớn. Nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu đã bị mất

phát cho Việt Nam trong tương lai gần. Sự kiềm chế lạm phát của chính phủ trong những tháng
vừa qua sẽ là vô nghĩa nếu như để hiện tượng lạm phát quay trở lại.
Trong các buổi hội thảo, tọa đàm, Chính phủ luôn đề cao vai trò của các trung gian tài chính,
trong đó chủ chốt là ngành Ngân hàng trong việc điều tiết lượng cung cầu vốn trên thị trường.
Vai trò của các trung gian tài chính rất to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Nó đảm bảo
được sự thanh khoản trong nền kinh tế cũng như có tác động tốt tới việc cung ứng vốn, điều tiết
vốn. Tin rằng trong thời gian tới, thị trường tài chính sẽ có sự phát triển mạnh mẽ hơn, góp phần
thúc đẩy sự phát triển đi lên của nền kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status