TIỂU LUẬN: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam - Pdf 12

TIỂU LUẬN:

Một số giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động của khu công
nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam Lời nói đầu

Để thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới,


Nội dung của đề tài này được chia thành ba phần chính:
Phần I: Tầm quan trọng của việc phát triển các khu công nghiệp,
khu chế xuất ở Việt Nam.
Phần II: Tình hình phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở
Việt Nam và những vấn đề còn tồn tại.
Phần III: Giải pháp để phát triển hiệu quả hoạt động của
khu công nghiệp, khu chế xuất.


nghiệp luôn gắn liền phát triển công nghiệp với xây dựng kết cấu hạ tầng và
hình thành mạng lưới đô thị, phân bố dân cư hợp lý. Do đó việc phân bố công
nghiệp phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Có khả năng xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi, có hiệu quả, có đất để
mở rộng và nếu có thể liên kết thành các cụm công nghiệp. Quy mô khu công
nghiệp và quy mô xí nghiệp công nghiệp phải phù hợp với đặc điểm công
nghệ chính gắn với điêù kiện kết cấu hạ tầng
- Có khả năng cung cấp nguyên vật liệu trong nước hoặc nhập khẩu
tương đối thuận lợi, có cự ly vận chuyển thích hợp
- Có nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm
- Có khả năng đáp ứng nhu cầu lao động cả về số lượng và chất lượng
với chi phí tiền lương thích hợp
- Tiết kiệm tối đa đất nông nghiệp, đặc biệt đất trồng lúa, nhằm giữ
được an toàn lương thực cho quốc gia trong chiến lược dài hạn
- Kết hợp chặt chẽ việc phát triển các khu công nghiệp với quy hoạch
đô thị, phân bố dân cư
- Phát triển công nghiệp gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng
Do vậy việc lựa chọn vị trí để xây dựng các khu công nghiệp là rất quan
trọng vì nó vừa đảm bảo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế trong giai đoạn
trước mắt, đồng thời làm cơ sở xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng cần thiết
nhằm phát triển mạnh và có hiệu quả các khu công nghiệp cho giai đoạn sau.
Việc xây dựng các khu công nghiệp đòi hỏi phải phát huy được thế mạnh, tiềm
năng kinh tế của từng vùng.
Còn đối với khu chế xuất mặc dù quy chế khu chế xuất ở từng nước có
quy định cụ thể khác nhau. Song những đặc trưng sau đây được coi là đặc
điểm của một khu chế xuất điển hình.
- Nhập khẩu tự do nguyên vật liệu và không hạn chế về số lượng. Đây

đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng nêu lên chỉ có thể đạt được bằng con
đường phát triển và dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó việc phát triển khu công nghiệp, khu chế
xuất có ý nghĩa vô cùng quan trọng
1, Việc phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam sẽ góp
phần thu hút đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu góp phần thục hiện mục tiêu
tăng trưởng.
Trong cuộc đua tranh phát triển kinh tế hiện nay, vấn đề tăng trưởng
nhanh và lâu bền đang đặt ra gay gắt đối với các quốc gia, đặt biệt là đối với
nước ta. Nếu không thực hiện được mục tiêu này thì nước ta sẽ tụt hậu rất xa
so với các nước phát triển. Việc sử dụng vốn nước ngoài để phát triển là sự
cần thiết, là cách thông minh để rút ngắn thời gian tích luỹ. Khu công nghiệp,
khu chế xuất góp phần quan trọng cho việc tăng thu ngoại tệ và tăng trưởng
kinh tế của đất nước.
Khu công nghiệp, khu chế xuất với những ưu đãi đặc biệt so với sản xuất
trong nước đã trở thành môi trường hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, từ đó
giúp cho nước chủ nhà có thêm vốn đầu tư, tiếp cận kĩ thuật và công nghệ
mới. Theo Ngân hàng Thế giới, các dự án thực hiện trong khu chế xuất hầu hết
do các nhà đầu tư nước ngoài hoặc do các liên doanh với nước ngoài thực hiện
(khoảng 43% các dự án do đầu tư trong nước thực hiện, 24% do liên doanh
với nước ngoài và 33% do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện). Do vậy khu
công nghiệp, khu chế xuất đã đóng góp đáng kể trong việc thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI)
Ví dụ: ở Đài Loan và Malaixia, trong những năm đầu phát triển, khu
công nghiệp, khu chế xuất đã thu hút khoảng 60% số vốn FDI.
Khu công nghiệp, khu chế xuất góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu
ngoại tệ do việc phát triển sản xuất hàng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Ví

khi chúng ta phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất. Bởi vì Việt Nam là một
đất nước phong phú về lao động và tài nguyên rừng, biển, khoáng sản đó là
một tiềm năng để cung cấp nguyên liệu cho các khu công nghiệp, khu chế
xuất.
ở một số nước tỉ lệ vật liệu trong nước cung cấp cho khu công nghiệp,
khu chế xuất khá cao. ở Hàn quốc tỉ lệ này tăng từ 3% năm 1971 lên 34% năm
1979 và duy trì từ đó đến nay. Thông qua dịch vụ lắp ráp và chế biến sản
phẩm cho khu công nghiệp, khu chế xuất số lao động tăng đáng kể. ở Hàn
Quốc, năm 1985, số lao động này chiếm tới 25,7% trong đó đặc biệt là dịch vụ
dệt, may số lao động chiếm tới 61% trong tổng số lao động của ngành.
Và một yếu tố quan trọng là thông qua phát triển khu công nghiệp, khu
chế xuất chúng ta hi vọng sẽ tiếp xúc với khoa học kĩ thuật hiện đại, học hỏi
phương thức quản lý tiên tiến, nâng cao trình độ lành nghề của công nhân. khu
công nghiệp, khu chế xuất còn cho phép khắc phục dược những yếu kém và
kết cấu cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội trên những vùng rộng lớn của đất nước.
Mặc dù chúng ta đang có chương trình triển khai trên quy mô lớn việc xây
dựng kết cấu hạ tầng này nhưng việc triển khai nó trong thực tế đòi hỏi chúng
ta những nguồn vốn hết sức lớn, cần thời gian dài và một quá trình tổ chức
phức tạp. Khu công nghiệp, khu chế xuất là một địa bàn nhỏ hẹp có thể tập
trung mọi điều kiện cần thiết để nâng cấp cơ sở hạ tầng của nó nhanh chóng
đạt đến trình độ cao mà các doanh nghiệp thường đòi hỏi.
Việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất sẽ đưa các doanh
nghiệp trong nước tập trung thành những trung tâm để dễ bề quản lý. Đồng
thời trong các khu công nghiệp việc phân nhóm các nhà máy được tiến hành
một cách có hệ thống do đó việc đảm bảo môi trường được đảm bảo.
Khu công nghiệp, khu chế xuất nếu được xây dựng thành công sẽ trở
thành một mô hình kinh tế năng động có hiệu quả cao. Nơi đây sẽ đào tạo các

tin liên lạc, thoát nước và xử lý nước thải.
Khi xem xét cơ sở hạ tầng khu công nghiệp cần tính toán đầy đủ khả
năng cung cấp từ bên ngoài, các đầu mối kĩ thuật, nhu cầu đầu tư và khả năng
thực hiện, Trong khu công nghiệp, yếu tố này thường bị bỏ qua hoặc xem xét
sơ sài trong khi nó đóng vai trò hết sức quan trọng, nhiều khi là quyết dịnh
đảm bảo cơ sở hạ tầng tối thiểu cho hoạt động của khu công nghiệp.
Trong điều kiện cơ sở hạ tầng xã hội còn nghèo nàn như tình trạng chung
hiên nay, khi quyết định thành lập khu công nghiệp có nghĩa là sẽ tập trung
hàng vạn, thậm chí hàng chục vạn lao động vào một địa bàn chật hẹp nên việc
giải quyết toàn diện, đồng bộ các yếu tố liên quan đến đời sống của số lao
động này cùng với gia đình họ là yếu tố hết sức quan trọng bao gồm nhà ở với
các điều kiện và phương thức thực hiện hợp lý hệ thống thương nghiệp đi lại
Bao trùm lên toàn bộ vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng khu công nghiệp
phải xác định được nhu cầu tổng vốn đầu tư và phương thức tổ chức thực hiện.
Doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, dù đó
là doanh nghiệp Việt Nam hay doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, phải
đóng vai trò chủ đạo trong việc khâu nối đồng bộ hoá các khâu có liên quan để
đảm bảo vận hành khu công nghiệp có hiệu quả.
3, Yếu tố cực kỳ quan trọng, quyết định nhất khi xem xét thành lập các
khu công nghiệp là kế hoạch vận động các nhà đầu tư trong và ngoài nước
vào khu công nghiệp.
Trong số các khu công nghiệp được quyết định thành lập, một số khu
công nghiệp kể cả liên doanh với nước ngoài đã xây dựng cơ sở hạ tầng tương
đối hoàn chỉnh đồng bộ và tương đối hiện đại song vẫn chưa thu hút được
nhiều nhà đầu tư vào. Điều này, ngoài các yếu tố chung của môi đầu tư của đất
nước, còn có phần do chủ quan của doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh cơ
sở hạ tầng và nếu kéo dài tình trạng không thu hút được các nhà đầu tư thì sẽ

1.2. Vị trí kinh tế xã hội:
Các trung tâm đô thị vừa là trung tâm kinh tế, vừa là trung tâm chính trị.
Do đó sẽ là nơi tập trung nhiều ngành sản xuất, cơ sở vật chất kĩ thuật tốt, đội
ngũ lao động có trình độ cao, chuyên môn giỏi. Do vậy hiện nay ở nước ta các
khu công nghiệp, khu chế xuất chủ yếu tập chung ở các thành phố lớn để tận
dụng các diều kiện sẵn có, giảm rủi ro cho các nhà đầu tư, tạo sức hấp dẫn các
nhà đầu tư.
1.3. Kết cấu hạ tầng:
Đây là yếu tố (xuất phát điểm) có ảnh hưởng rất lớn đến việc thu hút vốn
đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất.
Với các nhà đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng mối quan tâm là vị trí thì với
các nhà đầu tư sản xuất kinh doanh lại là kết cấu hạ tầng. Kết cấu hạ tầng:
điện, nước, công trình công cộng khác đường xá, cầu cống Tác động trực
tiếp đến giá thuê đất, ảnh hưởng đến tâm lý đầu tư.
1.4. Khả năng vốn đầu tư.
ở các nước trên thế giới vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thường chủ
yếu là vốn nhà nước. Những năm ngần đây ở nước ta đã huy động được nguồn
vốn liên doanh khá lớn chủ yếu do phương thức BOT, BTO, BT vốn nước
ngoài. thường chiếm 70% vốn pháp định , bên Việt Nam góp 30% thường là
giá trị sử dụng đất.
Khuyến khích phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất trong những
năm gần đây nhà nước đã áp dụng nhiều chính sách vĩ mô và có hỗ trợ trong
việc vay tín dụng, tạo các quỹ hỗ trợ đầu tư
1.5. Thị trường trong nước.
Đối với các công ty nước ngoài, mục tiêu đầu tư vào các khu công
nghiệp, khu chế xuất là tận dụng thị trường nước chủ nhà, đưa nguồn vốn và
hoạt động sinh lợi tránh tình trạng ứ đọng vốn, đồng thời có thể tận dụng được
V . Quy chế quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất:

1. Những quy định chung.
Nghị định 36/CP của Chính phủ về thành lập quản lý các khu công
nghiệp, khu chế xuất.
Điều 1 có ghi " Nhà nước bảo hộ, khuyến khích, đối xử bình đẳng, tạo
điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh tế, cá nhân, các tổ chức nghiên cứu
khoa học, đào tạo trong nước và nước ngoài đầu tư vào các khu công nghiệp,
Vị
trí
địa

Vị

tố
chính
trị
Thị
trườn
g
nước
ngoài
Các yếu tố cơ
b
ản

Yếu tố bên
ngoài

Yếu tố bên
trong

khu chế xuất, khu công nghệ cao(gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường
hợp có quy định riêng cho từng loại khu).
Điều 3 " Đối tượng áp dụng của luật khu công nghiệp bao gồm:
Nhà đầu tư trong nước.
Nhà đầu tư ngoài nước.
Doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Nhà đầu tư là người Việt Nam định cư ở nước ngoài và là người nước
ngoài thường trú ở Việt Nam.

2. Quản lý nhà nước về khu công nghiệp.
Điều 54 ghi "Nội dung quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu công nghệ cao bao gồm:
1, _ Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển.
2, _ Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật.
3, _ Hướng dẫn các ngành, các địa phương trong việc thực hiện các hoạt
động khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.
4, _ Cấp, thu hồi giấy phép, giấy đăng kí các loại.
5, _ Tổ chức bộ máy, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ.
6, _ Quy định việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong
việc quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.
7, _ Thúc đẩy, kiểm tra, thanh tra, giám sát các hoạt động khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.
Điều 55 " Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khu công nghiệp,
khu chế xuất, khu công nghệ cao.
Giúp Chính phủ quản lý nhà nước các khu công nghiệp bao gồm cơ quan
quản lý nhà nước về khu công nghiệp.
Cơ quan quản lý khu công nghiệp cấp trung ương.
Cơ quan quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh.
Cơ quan quản lý khu công nghệ cao.
Điều 57: Chính phủ quy định cụ thể quan hệ công tác trong quản lý nhà
nước về khu công nghiệp giữa các bộ, ngành, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh với cơ
quan quản lý khu công nghiệp cấp trung ương và cơ quan quản lý khu công
nghiệp cấp tỉnh, cơ quan quản lý khu công nghệ cao.
Điều 58: Cơ quan quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh là cơ quan quản lý
trực tiếp các khu công nghiệp trong phạm vi địa lý hành chính của một tỉnh do
Thủ tướng Chính phủ thành lập, có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn sau:

chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn như cơ quan quản lý khu công nghiệp cấp
tỉnh quy định tại điều 58 luật này và các quy định như sau:
1. Được nhà nước giao đất để phát triển khu công nghệ cao và thống
nhất quản lý trong khu công nghệ cao.
2. Giải quyết những vấn đề liên quan đến quy hoạch và đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng, nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ, đào tạo và bồi dưỡng
nhân lực, quản lý các loại dịch vụ liên quan đến hoạt động khu công nghệ cao.
3.Phối hợp với uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc quy hoạch, hỗ trợ
vốn đầu tư xây dựng khu dân cư, các cơ sở khácphục vụ đời sống người lao
động làm việc trong khu công nghệ cao và quản lý các cơ sở này, đến khi có
đủ điều kiện giao cho cơ quan quản lý hành chính địa phương quản lý theo
quy định hiện hành.

VI. Kinh nghiệm đầu tư phát triển và quản lý
khu công nghiệp, khu chế xuất ở một số nước Đông á.

* Khu công nghiệp, khu chế xuất được hình thành ở Châu Âu,
Châu Mỹ, Châu Phi và một số tiểu khu vực khác. Trong phần này ,
xin chỉ đề cập đến khu công nghiệp, khu chế xuất ở một số nước
Đông á.

1. Từ những thành tựu của các nước đi trước:
1.1- Đài Loan.
Trong hơn ba thập kỷ qua, thế giới đã chứng kiến và theo dõi sự xuất
hiện và phát triển với tốc độ cao đến chóng mặt của "các con rồng Châu á"
trong đó Đài Loan được coi là hiện tượng đặc thù.
Đài Loan thuộc loại hình kinh tế hải đảo đất chật người đông, tài nguyên
nghèo nàn (Diện tích khoảng 3600km2, chủ yếu là đồi núi, dân số 21,5 triệu
làm cho 40 lao động. Như vậy 192,3 ha trồng mía đã tạo ra 269,22 triệu USD/
năm và tạo ra việc làm cho 7500-8000 lao động.
- Khi chuyển 192,3 ha khu chế xuất, hiệu quả sử dụng đất tăng vọt chỉ
tính trong 3 quí đầu năm 1995, ba KCX đã đạt tổng kim ngạch xuất khẩu
61,136 tỷ USD, nhập khẩu 32,363 tỷ USD, xuất siêu 28,773 tỷ USD, thu hút
95000 lao động. Đại bộ phận giá trị hàng xuất khẩu là được sản xuất trong các
khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao.
Trong 30 năm qua, hoạt động của các khu công nghiệp, khu chế xuất và
khu công nghệ cao đã đóng vai trò rất quan trọng đối với tiến trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế Đài Loan, phân bố
rộng khắp hầu như huyện nào cũng có khu công nghiệp. Mỗi khu công nghiệp
là hạt nhân thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh trong vùng.
Trong đó đặc biệt là khu công nghệ cao Hsinchu, khu công nghệ cao này
đã đạt được những kết quả rất đa dạng, góp phần nâng cao năng lực công nghệ
nội sinh và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao của Đài Loan.
Đây là một mẫu hình gần gũi với những quan điểm xây dựng khu công nghệ
cao Hoà Lạc của ta.
Khu công nghệ cao Hsinchu được bắt đầu xây dựng vào năm 1980 theo
quyết định của Chính Phủ Đài Loan, do Uỷ ban khoa học nhà nước Đài Loan
chuẩn bị tổ chức triển khai. Khu nằm cách Đài Bắc 80 km về phía Tây Bắc,
trên diện tích quy hoạch là 2.100 ha, cách sân bay quốc tế Đài Bắc gần 80 km
đường bộ, có 2 đường cao tốc dẫn tới khu. Khu được xây dựng phát triển theo
3 giai đoạn: giai đoạn 1 trên diện tích 270 ha, giai đoạn 2 mở thêm 110 ha,
hiện nay đang triển khai phát triển giai đoạn 3 trên diện tích 170 ha.
Từ lúc chỉ có 59 công ty tham gia đầu tư vào năm 1986, sau 10 năm
(đến cuối năm 1995) số công ty gia nhập khu đạt 180. Trong 5 năm 1991-1995
tốc độ các công ty gia nhập khu tăng trung bình hàng năm là 8,33%. Đến cuối

kinh tế của Đài Loan nói chung.
Về chuyển giao sáng tạo công nghệ, ở khu các sáng chế được đưa vào áp
dụng với quy mô lớn. Chỉ tính riêng 3 năm 1991-1993 có 673 sáng chế của
các công ty nước ngoài được đưa vào áp dụng. Đặc biệt tỉ trọng các sáng chế
thuộc lĩnh vực mạch tích hợp và thiết bị ngoại vi máy tính đã được đưa vào áp
dụng rất cao, tương ứng là 82% và 97%.
Do đầu tư có trọng điểm vào lĩnh vực công nghệ hiện đại, khu đã dẫn
đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin và giúp Đài Loan vươn nhanh trên thị
trường thế giới.
1.4- Thái Lan:
ý tưởng xây dựng các khu công nghiệp ở Thái Lan được hình thành từ 40
năm trước. Đến nay ở Thái Lan đã có khoảng 440 khu công nghiệp đang hoạt
động, tất cả các khu công nghiệp này đều được phân chia theo các vùng khác
nhau nhưng tựu chung đều nằm dưới sự quản lý của Cục công nghiệp Thái
Lan (gọi tắt là IEAT).
Về tổ chức quản lý: Trước đây các nhà đầu tư vào Thái Lan tự mua đất
để xây dựng nhà máy, tuy nhiên điều này khiến cho nhà nước không thể trực
tiếp quản lý được, nhất là về mặt bảo vệ môi trường. Năm 1972 IEAT được
thành lập với các chức năng chính sau:
- Điều tra xây dựng kế hoạch, thiếp lập và xây dựng các khu công
nghiệp.
- Cấp giấy phép đầu tư.
- Quy định ngành nghề và quy mô của cơ sở công nghiệp sẽ được cấp
giấy phép đầu tư vào khu công nghiệp
- Quản lý các nhà đầu tư trong khu công nghiệp (bao gồm các hoạt động
sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, dịch vụ ) quản lý sử dụng đất và tuân
thủ các quy định (bao gồm cả công việc liên quan đến vệ sinh, y tế, ảnh hưởng

là đảm bảo môi trường trong sạch. Thái Lan đưa ra nguyên tắc cân bằng-
người gây ô nhiễm môi phải đền bù thiệt hại. Do vậy khi thành lập khu công
nghiệp phải có dự án thiết kế xây dựng một hệ thống xử lý nước thải và được
cơ quan có thẩm quyền về môi trường xem xét và phê duyệt. Mọi chất thải
phải được xử lý và giải phóng một cách triệt để, nhà đầu tư phải tự chi trả chi
phí xử lý nước thải, nước thải qua xử lý để làm lạnh nhà máy điện và tưới cây
trong KCN. Vì vậy khu công nghiệp Thái Lan luôn được đánh giá là khu công
nghiệp xanh và sạch đẹp.
1.5- Malaixia:
Khi giành được độc lập năm 1963, Liên bang Malaixia là một quốc gia
xuất khẩu hàng tiêu dùng thành đạt với mức thuế từ thấp đến vừa phải, hầu
như không có hạn chế về số lượng, và có những người lãnh đạo tin tưởng vào
thương mại tự do và cạnh tranh, Nền kinh tế được xây dựng trên một diện tích
rộng lớn quanh các cảng tự do Singapore và Penang và đã trở thành cơ sở hạ
tầng tuyệt vời. Singapore trở nên một gia đình công nghiệp hùng mạnh và tách
ra khỏi Malaixia năm 1965. Trong khi đó thể chế cảng tự do của Penang
nhanh chóng mất hiệu lực do hậu quả của chính sách bảo hộ ban đầu rất nhu
nhược của liên bang dành cho các ngành công nghiệp mới. Chứng kiến sự
thành công của công nghiệp chế biến ở Singapore và Hồng Công và ở các khu
chế xuất ở Đài Loan(Trung Quốc), và mong muốn được chia sẻ sự thịnh
vượng trong xuất khẩu và công ăn việc làm, các nhà lãnh đạo Penang đã cố
gắng rất nhiều để thành lập các EPZ (Expoet Proccessing Zone) ở Malaixia.
Năm 1971, liên bang đã ban hành luật về khu thương mại tự do kêu gọi các c
Tuy nhiên, trong 15 năm đầu tiên (từ 1972-1987), Malaixia tách riêng
các khu chế xuất khỏi phần còn lại của nền kinh tế và bỏ qua các mối liên hệ
giữa khu chế xuất và kinh tế trong cả nước. Nhà nước trở nên tích cực hơn
trong việc phát triển các ngành công nghiệp mới, tăng cường bảo hộ bằng thuế

kinh tế của Trung Quốc là việc phát triển kinh tế và công nghệ trong đó khu
phát triển kinh tế, các khu khai thác phát triển kinh tế và công nghệ. Trong đó
khu phát triển kinh tế và công nghệ Quảng Châu- GETDD (Viết tắt của Guang
Zhou Economic and Technologycal Development Distric) là một trong những
khu khai thác cấp nhà nước đầu tiên được phê chuẩn ở Trung Quốc.
Ngày 28/12/1984 GETDD được khởi công xây dựng, đây là khu kinh tế
có mô hình "hướng ngoại" theo phương châm "lấy công nghiệp hiện đại thu
hút vốn nước ngoài,và thu hút ngoại tệ làm chính, tất cả nhằm phát triển công
nghệ mới và công nghệ cao.
Nằm ở trung tâm phát triển Quảng Châu- Hồng Công- Ma Cao cách
trung tâm thành phố Quảng Châu 32 km, cách Thẩm Quyến 120 km, cách sân
bay quốc tế Bạch Vân 35 phút đi bằng ô tô và theo đường biển, cách Hồng
Công 60 hải lý GETDD có các đường cao tốc tiêu chuẩn quốc tế chạy kề bên
đường cao tốc Quảng Châu- Thẩm Quyến. Các cảng trong khu có khả năng
tiếp nhận những tàu có tải trọng lớn trong đó cảng Container Hoàng Phố là
cảng lớn nhất vùng Hoa Nam.
GETDD được quy hoạch xây dựng trên diện tích 30 km2 chia làm 4 khu
vực. Tính đến năm 1995 GETDD đã hoàn thành giai đoạn I trên diện tích 6,6
km2 với hệ thống hạ tầng và tiện ích công cộng chất lượng cao. Hệ thống giao
thông hoàn chỉnh khả năng cung cấp điện trên 125 triệu kwh/ năm cấp nước
70 nghìn m3/ngày, hệ thống xử lý nước thải có công suất 30 nghìn m3/ngày,
tổng đài viễn thông 16 nghìn số.
GETDD có môi trường sạch và đẹp 30% diện tích toàn khu là các thảm
cây xanh, có cỏ và hoa trong khu đó có trường học hiện đại, nhà trẻ, bệnh viện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status