một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của nghiệp bảo hiểm vật chất xe ô tô tại công ty bảo việt hà nội - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời mở đầu
Ngành giao thông vận tải đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát
triển của mỗi quốc gia “ Giao thông vận tải là huyết mạch của nền kinh tế” .
Đặc biệt cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tạo điều kiện thúc đẩy
ngành giao thông vận tải phát trỉên với sự ra đời của những loại phương tiện
giao thông khác nhau. Điều đó đã khíên cho sự ngăn cách về địa lý trở nên nhỏ
hẹp hơn. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của các loại phương tiện giao
thông vận tải trong khi cơ sở hạ tầng lại chưa được xây dựng để đáp ứng với
quy mô gia tăng đó. Trong khi đặc điểm của các phương tiện giao thông là có
tốc độ cao dẫn đến các tai nạn xảy ra ngày một nhiều với quy mô và mức độ
nguy hiểm cao hơn. Bằng chứng thực tế cho thấy là sự gia tăng về số vụ tai nạn
giao thông là có tốc độ cao dẫn đến các tai nạn xảy ra ngày một nhiều với quy
mô và mức độ nguy hiểm cao hơn.Bằng chứng thực tế cho thấy là sự gia tăng
về số vụ tai nạn giao thông gây thiệt hại lớn về người và tài sản cho các chủ
phương tiện. Khi tai nạn giao thông xảy ra thường chủ xe cơ giới phải gánh
chịu phần thiệt hại đối với người thứ ba ( trách nhiệm dân sự ) và phần thiệt hại
vật chất thân xe của mình. Đối với người thứ ba đã có bảo hiểm trách nhiệm
dân sự ( bảo hiểm bắt buộc) đứng ra bồi thường còn thiệt hại vật chất thân xe,
chủ xe phải gánh chịu, nếu tính bình quân thiệt hại về tài sản của mỗi vụ tai nạn
thường lên đến hàng chục, hàng trăm triệu đồng, đây là con số không nhỏ đối
với chủ phương tiện.Mức độ thiệt hại các chủ xe phải chi trả đôi khi là gánh
nặng với họ, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sản xuất kinh doanh và gây
khó khăn về mặt tài chính cho các chủ xe.
Chính vì vậy các nghịêp vụ bảo hiểm vật chấ, phương tiện giao thông
vận tải ra đời. Đây là một biện pháp hữu hiệu nhất, là loại hình bảo hiểm tài sản
nhằm bù đắp những thiệt hại tài chính cho những chủ phương tiện khi phương
tiện của họ trong quá trình lưu hành gặp tai nạn, rủi ro dẫn đến gây thiệt hại cho
chính phương tiện giao thông vận tải đó. Ý thức được tầm quan trọng của
nghiệp vụ này, hiện nay tất cả các công ty bảo hiểm phi nhân thọ của Việt Nam
đều triển khai.Khi tham gia bảo hiểm các chủ xe phải đóng góp một phần tài

1. Sự cần thiết của Bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.1. §Æc ®iÓm cña xe c¬ giíi.
Xe cơ giới có thể hiểu là tất cả các loại xe tham gia giao thông trên
đường bộ bằng động cơ của chính chiếc xe đó, bao gồm ô tô, mô tô và xe máy.
Xe cơ giới không chỉ là phương tiện vận chuyển mà còn là loại tài sản có giá trị
tương đối lớn của cá nhân, tổ chức, doanh nghịêp.Vận chuyển bằng xe cơ giới
là hình thức chủ yếu phổ biến, được sử dụng rộng rãi do xe có tính động cơ cao
và linh hoạt, tốc độ vận chuyển nhanh và chi phí thấp, hoạt động được trong
phạm vi rộng kể cả địa hình phức tạp.
Số lượng đầu xe tham gia ngày càng nhiều đặc biệt ở các nước đang
phát triển và chậm phát triển có thời kỳ tăng lên đột biến Cùng với sự gia tăng
của lượng xe cơ giới, ở Việt Nam số lượng xe ô tô tham gia giao thông đường
bộ tăng lên rất nhanh, năm 2004 có khoảng 700.000 chiếc, năm 2005 có
khoảng 800.000 chiếc .Lượng xe cơ giới lưu hành quá dày là một nguyen nhân
làm tăng số vụ tai nạn giao thông khắp cả nước, trong khi đường xá ngày càng
xuống cấp và không được đầu tư, tu sửa kịp thời nên tai nạn giao thông xảy ra
ngày càng nghiêm trọng.Có thể thống kê tình hình tai nạn giao thông trong
những năm qua như sau:
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 1 : Tình hình tai nạn giao thông đường bộ (2002- 2006)
Chỉ tiêu
Năm
Số người
bị chết
( người)
Số người
bị thương
( người )

chữa theo kiểu chắp vá thiếu đồng bộ. Thêm vào đó tình trạng vi phạm nghiêm
trọng luật lệ an toàn giao thông đường bộ của chủ điều khiển các phương tiện ô
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tô, xe máy : Chở quá tải, phóng nhanh vượt ẩu, lái xe trong tình trạng say rượu
không làm chủ được tốc độ gây tai nạn đây là nguyên nhân gây ra nhiều vụ
tai nạn nhất (chiếm khoảng 80% nguyên nhân gây ra tai nạn )
3. Do tính cơ động cao, vượt giã tốt, số lượng ô tô được sử dụng ngày
càng nhiều cùng với tình trạng xe ô tô kém chất lượng, không an toàn do quá
cũ kĩ vẫn được đưa vào lưu hành làm cho xác suất rủi ro khi sử dụng loại
phương tiện này đã lớn nay lại càng lớn. Đây thực sự là mối đe doạ nguy hiểm
tới tính mạng và tài sản của chủ phương tiện, người tham gia giao thông, của
người dân và của nhà nước. Theo số liệu thống kê hiện nay ở nước ta số xe ô tô
có tuổi dưới 10 năm chiếm khoảng 23%, từ 10 đến 15 năm chiếm 16,5%, trên
15 năm đến 20 năm chiếm 4,1% và trên 20 năm chiếm 9,7%.
Năm 2006 ta thấy số vụ tai nạn đã giảm hơn rất nhiều so với các năm
trước và sovới năm 2005 giảm 211 vụ tai nạn tương ứng 8,3% .Số vụ tai nạn
giảm xuống là do công tác phổ biến pháp luật về an toàn giao thông đã được
đấy mạnh, việc đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe được chấn chỉnh, công
tác kiểm định an toàn, các phương tiện cơ giới được làm tốt, phát triển phương
tiện vận tải công cộng đảm bảo tỗt cho APEC, Việt Nam gia nhập WTO
v…….Tuy nhiên trên thực tế số người chết và bị thương do tai nạn giao thông
xảy ra khiến nhiều người chết và bị thương ở các đô thị lớn (tăng 40% so với
năm ngoái)
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 2 So sánh tai nạn giao thông đường bộ với các loại hình giao thông
vận tải khác ( năm 2005)

điều kiện thời tiết, khí hậu, cơ sở hạ tầng, vào ý thức chấp hành luật giao thông
của mỗi người dân. Nhận thức được điều này, Nhà nước và các nghành có liên
quan đã có sự quan tâm kịp thời đến công tác nâng cao phát triển cơ sở hạ tầng
đường xá, cầu cống. Đường bộ ở Việt Nam được nâng lên cả về mặt số lượng
và chất lượng song hệ thống giao thông đường bộ còn nhiều hạn chế như chất
lượng mặt đường chưa đồng đều, nhiều đèo dốc cao, dài, tầm nhìn hạn chế.
1.2. Sù cÇn thiÕt cña b¶o hiÓm vËt chÊt xe c¬ giíi.
Từ việc nghiên cứu đặc điểm của xe cơ giới ta thấy với những đặc tính
ưu việt của xe cơ giới thì hiện nay xe cơ giới là phương tiện được sử dụng rộng
rãi với số lượng lớn song nó chứa đựng yếu tố rủi ro bất ngờ xảy ra. Bằng
chứng, thực tế cho thấy là sự gia tăng về số vụ tai nạn giao thông gây thiệt hại
lớn về tài sản và người cho các chủ phương tiện. Khi xảy ra tai nạn giao thông
thường chủ xe cơ giới phải gánh chịu phần thiệt hại đối với người thứ ba( trách
nhiệm dân sự) và phần thiệt hại vật chất thân xe của mình. Đối với thiệt hại của
người thứ ba đã có bảo hiểm trách nhiệm dân sự( bảo hiểm bắt buộc ) đứng ra
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bồi thường, còn thiệt hại vật chất thân xe, chủ xe phải gánh chịu, nếu tính bình
quân về thiệt hại về tài sản của mỗi vụ tai nạn thường lên đến hàng hàng chụ,
hàng trăm chịu đồng, đây là con số không nhỏ đối với chủ phương tiện. Mức
độ thiệt hại mà các chủ xe phải chi trả đôi khi là gánh nặng với họ, ảnh hưởng
trực tiếp đến cuộc sống, sản xuất kinh doanh và gây khó khăn về mặt tài chính
cho các chủ xe. Vì vậy bảo hiểm vật chất xe cơ giới đã ra đời, đây là một biện
pháp hữu hiệu nhằm khắc phục hậu quả do tai nạn xảy ra, đảm bảo ổn định tài
chính cho các chủ xe, ý thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ này, hiện nay
tất cả các công ty bảo hiểm phi nhân thọ của Việt Nam đều triển khai. Khi tham
gia bảo hiểm các chủ xe phải đóng góp một phần tài chính của mình gọi là phí
bảo hiểm vào quỹ tiền tệ của nhà bảo hiểm, để đổi lại họ sẽ được bồi thường
một phần hoặc toàn bộ thiệt hại của xe khi gặp tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm

điều khiển phương tiện
- Góp phần xoa dịu bớt sự căng thẳng giữa chủ xe với nạn nhân của các
vụ tai nạn.
Khi tai nạn giao thông xảy ra, hầu hết trong các trường hợp đều có xảy ra
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xích mích, căng thẳng giữa chủ xe với nạn nhân của các vụ tai nạn. Nhà bảo
hiểm là người trung gian cùng với lực lượng cảnh sát giao thông đứng ra tổ
chức giám định, xác định mức độ lỗi của hai bên từ đó đưa ra mức bồi thường
thoả đáng.
- Góp phần tăng thu ngân sách, góp phần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
giao thông, tăng công ăn việc làm cho người lao động.
Các công ty bảo hiểm thông qua việc nộp thuế làm tăng thu cho ngân
sách nhà nước. Chính phủ sử dụng ngân sách phối hợp với các doanh nghiệp
bảo hiểm đầu tư hỗ trợ nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng để thoả mãn
tốt hơn nhu cầu đi lại của người dân. Ngoài ra, với phạm vi hoạt động rộng rãi
của các công ty bảo hiểm hiện nay ở tất cả các tỉnh thành còn giải quyết được
một phần không nhỏ công ăn việc làm cho người lao động, đó là những nhân
viên, cộng tác viên bảo hiểm, đại lý bảo hiểm
II Nội dung cơ bản của bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
1. Đối tượng bảo hiểm.
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại hình bảo hiểm tài sản, bảo hiểm vật chất
xe cơ giới có đối tượng bảo hiểm là bản thân chiếc xe. Tuy nhiên một chiếc xe
cơ giới chỉ có thể được coi là đối tượng bảo hiểm khi đáp ứng tối thiểu các điều
kiện sau:
+ Xe phải có giá trị sử dụng.
+ Xe phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về an toàn giao thông.
+ Xe phải đầy đủ các bộ phận về mặt kỹ thuật. Ví dụ hiện nay đối với xe ô
tô có 7 tổng thành:

2. Phạm vi bảo hiểm.
2.1. Rủi ro được bảo hiểm.
a. Phạm vi về rủi ro: Cũng như các nghiệp vụ bảo hiểm khác, bảo hiểm
vật chất xe cơ giới chỉ nhận bảo hiểm cho những rủi ro có tính chất ngẫu nhiên,
bất ngờ và đảm bảo cho các điều kiện khác theo nguyên tắc rủi ro có thể được
bảo hiểm của bảo hiểm thương mại, gây thiệt hại cho bản thân chiếc xe mua
bảo hiểm.
Trong hợp đồng bảo hiểm vật chất xe, các rủi ro được bảo hiểm thông
thường bao gồm:
- Tai nạn do đâm va, lật đổ.
- Cháy nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá.
- Mất cắp toàn bộ xe.
- Tai nạn do rủi ro bất ngờ gây nên.
Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho chiếc xe
được bảo hiểm trong những trường hợp trên, các công ty bảo hiểm còn thanh
toán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm:
- Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do các
rủi ro được bảo hiểm;
- Chi phí bảo vệ xe và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất;
- Giám định tổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm;
Tuy nhiên, trong mọi trường hợp tổng STBT của công ty bảo hiểm là
không vượt quá STBH đã ghi trên đơn hay giấy chứng nhận bảo hiểm.
b. Phạm vi về thời gian: Bảo hiểm vật chất xe cơ giới luôn có giới hạn
phạm vi bảo hiểm về mặt thời gian mà thông thường là một năm tính từ ngày
hợp đồng có hiệu lực. Nếu hết thời hạn bảo hiểm, chủ xe muốn tiếp tục được
bảo hiểm phải gia hạn hợp đồng hoặc phải tiếp tục hợp đồng mới.
c. Phạm vi về không gian: Trong các đơng vị bảo hiểm vật chất xe cơ
giới, giới hạn trách nhiệm của bảo hiểm chỉ áp dụng trong một phạm vi địa bàn
hoạt động nhất định của bảo hiểm. Nếu tai nạn xảy ra với xe không nằm trong
phạm vi địa lý đã được thoả thuận trước đó thì thiệt hại sẽ không được bồi

xuất kinh doanh.
- Thiệt hại do chiến tranh.
3. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm.
3.1. Giá trị bảo hiểm.
Giá trị bảo hiểm của xe cơ giới là giá trị thực tế trên thị trường của xe tại
thời điểm người tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm. Việc xác định đúng giá trị
của xe tham gia bảo hiểm là rất quan trọng vì đây là cơ sở để bồi thường. Tuy
nhiên, giá xe trên thị trường luôn có những biến động và có thêm nhiều chủng
loại xe mới tham gia giao thông nên đã gây khó khăn cho việc xác định giá trị
xe. Trong thực tế, các công ty bảo hiểm thường dựa vào các nhân tố sau để xác
định giá trị xe:
- Loại xe.
- Năm sản xuất
- Mức độ mới của của xe
- Thể tích làm việc của xi lanh
Một phương pháp xác định giá trị bảo hiểm mà các công ty bảo hiểm hay
áp dụng đó là căn cứ vào giá trị ban đầu của xe và mức khấu hao. Cụ thể:
Giá trị bảo hiểm =Giá trị ban đầu (giá mua mới )– giá trị khấu hao (theo
năm)
 Đối với xe có thời gian sử dụng dưới một năm thì giá trị khấu hao bằng
0 nên giá trị bảo hiểm bằng giá trị ban đầu của xe.
 .Đối với xe có thời gian sử dụng trên một năm thì giá trị khấu hao được
xác định:
Giá trị khấu hao = Giá trị ban đầu × Tỷ lệ khấu hao × Số năm sử dụng
Và khấu hao làm tròn theo tháng, cụ thể: Nếu xe tham gia bảo hiểm bị tai
nạn từ ngày 15 trở về đầu tháng, xe đó không tính khấu hao ngược lại. Xe tham
gia bảo hiểm từ 16 về cuối tháng thì tháng đó phải tính khấu hao. Và tính khấu
hao khi xe bị tai nạn làm thiệt hại toàn bộ vật chất thân xe hoặc toàn bộ một
tổng thành nào đó.
Trên thực tế rất nhiều xe đã khấu hao hết nhưng vẫn còn giá trị sử dụng và

Giá trị bảo hiểm

Theo dự đoán phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ càng tăng.
4. Phí bảo hiểm.
Phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới là khoản tiền mặt nhất định mà người
tham gia ( chủ xe hay lái xe) phải nộp cho công ty bảo hiểm sau khi ký hợp
đồng bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực từ khi người tham gia bảo
hiểm nộp phí.
Các công ty bảo hiểm tiến hành thu phí bảo hiểm theo biểu phí của Bộ Tài
chính quy định. Trong một số trường hợp công ty bảo hiểm có thể giảm phí để
có thể khuyến khích các chủ xe tham gia bảo hiểm. Việc xác định phí bảo hiểm
là rất phức tạp. Khi xác định phí bảo hiểm cho từng đối tượng tham gia bảo
hiểm cụ thể, các công ty bảo hiểm thường căn cứ vào những nhân tố sau:
 Loại xe: Do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, có mức
độ rủi ro khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất xe được tính riêng cho
từng loại xe. Thông thường, các công ty bảo hiểm đưa ra những biểu xác
định phí bảo hiểm phù hợp cho hầu hết các xe thông dụng thông qua
việc phân các loại xe thành các nhóm.
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
 Khu vực để xe và giữ xe: Trong thực tế, không phải công ty bảo hiểm
nào cũng quan tâm đến nhân tố này. Tuy nhiên, cũng có một số công ty
bảo hiểm tính phí bảo hiểm dựa theo khu vực giữ xe và để xe rất chặt
chẽ.
 Mục đích sử dụng xe: Đây là nhân tố rất quan trọng khi xác định phí bảo
hiểm. Nó giúp công ty bảo hiểm biết được mức độ rủi ro có thể xảy ra.
Ví dụ, xe do một người về hưu sử dụng cho mục đích đi lại đơn thuần
chắc chắn sẽ đóng phí bảo hiểm thấp hơn so với xe do một thương gia
sử dụng để đi lại trong những khu vực rộng lớn.

tính phí dựa trên số tiền bảo hiểm như sau:
P = Sb × R
Trong đó : Sb - Số tiền bảo hiểm
R - Tỷ lệ phí bảo hiểm
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hiện nay, biểu phí của Bộ Tài chính qui định cho các công ty bảo hiểm được
thể hiện ở bảng 3,4.
Bảng 3. Biểu phí bảo hiểm vật chất xe ô tô ( phí bảo hiểm đã bao gồm 10% VAT)

Phạm vi bảo hiểm

Phí bảo hiểm
1. Bảo hiểm toàn bộ xe
1,5% × giá trị thực tế của xe
1,7% × giá trị thực tế của xe
(áp dụng đối với xe còn 70% giá trị trở lên)
2. Bảo hiểm thân vỏ xe
2,5% × giá trị thực tế thân vỏ xe
2,7% × giá trị thực tế thân vỏ xe
(áp dụng đối với xe còn 70% giá trị trở lên)
(Nguồn: Tài liệu hướng dẫn đại lý nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới năm 2005
tại Bảo Việt)
Đối với xe mô tô, tỷ lệ phí bảo hiểm: 1% giá trị thực tế của xe.
Đối với những xe yêu cầu tham gia bảo hiểm thời hạn ngắn, số phí sẽ được tính
theo qui định của Bộ Tài chính.
Bảng 4. Biểu phí ngắn hạn
Thời hạn bảo hiểm Mức phí áp dụng (% phí bảo hiểm năm)
Dưới 3 tháng

tham gia bảo hiểm, chủ xe không có khiếu nại phải bồi thường, khi tái tục bảo
hiểm có thể được giảm phí.
Đối với những xe hoạt động mang tính chất mùa vụ, tức là chỉ hoạt động
một số ngày trong năm, thì chủ xe chỉ phải đóng phí cho những ngày hoạt động
đó theo công thức sau:
Số tháng xe đã hoạt động trong năm
Phí bảo hiểm = Mức phí cả năm × ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
12
Biểu phí đặc biệt: Trong những trường hợp đặc biệt khi khách hàng có
số lượng xe tham gia bảo hiểm nhiều, đêt tranh thủ sự ủng hộ, các công ty bảo
hiểm có thể áp dụng biểu phí riêng cho khách hàng đó. Việc tính toán biểu phí
riêng cũng tương tự như cách tính biểu phí ở trên, chỉ khác là chỉ dựa trên các
số liệu về bản thân khách hàng đó, cụ thể:
º Số lượng xe của công ty tham gia bảo hiểm.
º Tình hình bồi thường tổn thất của công ty bảo hiểm cho khách hàng ở
những năm trước đó.
º Tỷ lệ phụ phí theo quy định của công ty
Trường hợp mức phí đặc biệt thấp hơn mức phí quy định chung, công ty
bảo hiểm áp dụng theo mức phí đặc biệt. Còn nếu mức phí đặc biệt tính được là
cao hơn hoặc bằng mức phí chung tức là tình hình tổn thất của khách hàng cao
hơn hoặc bằng mức tổn thất bình quân chung thì công ty bảo hiểm sẽ áp dụng
mức phí chung.
Hoàn phí bảo hiểm: Có những trường hợp chủ xe đã đóng phí bảo hiểm
cả năm, nhưng trong năm xe không hoạt động một thời gian vì lí do nào đó, ví
dụ như ngừng hoạt động để tu sửa xe. Trong trường hợp này thông thường
công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí bảo hiểm của những tháng ngừng hoạt động
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đó cho chủ xe. Số phí hoàn lại được tính như sau:

- Bản sao của giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy chứng nhận đăng ký xe,
giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện
cơ giới đường bộ, giấy phép lái xe.
- Kết luận điều tra của công an hoặc bản sao bộ hồ sơ tai nạn gồm : Biển
bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai nạn.
biên bản giải quyết tai nạn
- Bản án hoặc quyết định của toà án trong trường hợp có tranh chấp tại toà
án.
- Các chứng từ xác định thiệt hại cho tai nạn.Ví dụ : Chứng từ xác định
chi phí sửa chữa xe, thuê cầu kéo
b) Nguyên tắc bồi thường tổn thất
- Trong trường hợp xe tham gia bảo hiểm bằng hoặc dưới giá trị thực tế
- Trường hợp xe tham gia bảo hiểm trên giá trị thực tế;
- Theo nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm, để tránh trục lợi bảo hiểm,
công ty bảo hiểm chỉ chấp nhận số tiền bảo hiểm nhỏ hơn hoặc bằng giá trị bảo
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hiểm. Tuy nhiên, nếu người tham gia bảo hiểm cố tình hoặc vô tình tham gia
với số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm, trong trường hợp này, số tiền bồi
thường cũng chỉ bằng thiệt hại thực tế và nhỏ hơn hoặc bằng giá trị thực tế của
xe. Trường hợp công ty bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm trên giá trị thực tế của xe
là “ Bảo hiểm giá trị thay thế mới”.Chủ xe phải đóng phí bảo hiểm khá cao
theo các điều kiện bảo hiểm rất nghiêm ngặt.
- Trường hợp tổn thất bộ phận : Khi tổn thất bộ phận xảy ra, chủ xe sẽ
được giải quyết bồi thường bảo hiểm, thường giới hạn mức bồi thường đối với
tổn thất bộ phận bằng tỷ lệ giá trị tổng thành xe.
- Trường hợp tổn thất toàn bộ khi bị mất cắp, mất tích hoặc xe bị thiệt hại
nặng đến mức không thể sửa chữa phục hồi để đảm bảo lưu hành an toàn, hoặc
chi phí phục hồi bằng hoặc lớn hơn gía trị thực tế của xe.Nếu tổn thất toàn bộ,

bộ hoặc bộ phận .
- Điều khoản quy định về mức trách nhiệm : Số tiền bảo hiểm và phí
bảo hiểm
- Điều khoản quy định về thời gian và hiệu lực hợp đồng.
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Công ty bảo hiểm chỉ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm khi chủ xe đã đóng
phí bảo hiểm. Thời hạn hiệu lực bảo hiểm bắt đầu và kết thúc được thể hiện
trên giấy chứng nhận bảo hiểm. Trường hợp chủ xe không nộp phí bảo hiểm
đầy đủ vào đúng thời hạn quy định thì hợp đồng bảo hiểm mặc nhiên mất hiệu
lực cho đến khi chủ xe tiếp tục đóng phí .
Trong thời hạn bảo hiểm, nếu có sự chuyển quyền sở hữu xe thì phải
thông báo bằng văn bản cho côg ty trước 15 ngày. Nếu hợp đồng được hai bên
thoả thuận hủy bỏ, công ty sẽ hoàn lại cho chủ xe 80% bảo hiểm của thời gian
còn lại với điều kiện đến thời điểm đó chủ xe chưa có lần nào được công ty
chấp nhận trả tiền bảo hiểm .
Khi đã ký kết hợp đồng bảo hiểm, thì mỗi bên có nghĩa vụ thực hiện trách
nhiệm và được hưởng những quyền lợi :
 Đối với công ty bảo hiểm :
• Trách nhiệm của công ty bảo hiểm
- Cung cấp cho chủ xe ô tô quy tắc, biểu phí , ký kết hợp đồng bảo hiểm,
chấp nhận tham gia theo đúng luật định .Hướng dẫn và tao mọi điều kiện thuận
lợi để chủ xe ô tô tham gia bảo hiểm.
- Công ty bảo hiểm có trách nhiệm phối hợp với cơ quan công an để thu
thập các giấy tờ cần thiết có liên quan đến vụ tai nạn thuộc phạm vi trách
nhiệm bảo hiểm .
- Đối với những vụ tai nạn đặc biệt nghiêm trọng công ty bảo hiểm phải
phối hợp với chủ xe ô tô và các cơ quan chức năng ngay từ đầu để giải quyết
tai nạn .

công ty bảo hiểm biết để điều chỉnh tỷ lệ phí cho phù hợp.
• Quyền lợi của chủ xe
- Được chi trả tiền bồi thường khi rủi ro xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm.
- Được yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều
khoản hoặc giấy chúng nhận bảo hiểm.
- Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng theo luật định, nếu doanh
nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp các thông tin sai sự thật để giao kết hợp đồng.
III. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của nghiệp vụ bảo hiểm
1. Chỉ tiêu kết quả
Kết quả kinh doanh của một nghiệp vụ bảo hiểm, một loại hình bảo hiểm
của doanh nghiệp được thể hiện ở 2 chỉ tiêu chủ yếu là: doanh thu và lợi nhuận.
1.1. Doanh thu nghiệp vụ (TR)
Doanh thu nghiệp vụ là toàn bộ số tiền mà công ty bảo hiểm thu được từ
nghiệp vụ trong một giai đoạn kinh doanh nhất định ( thường là 1 năm)
Giống như các nghiệp vụ bảo hiểm khác, doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm vật
chất xe ô tô bao gồm khoản thu lớn là:
o Thu kinh doanh bảo hiểm gồm
- Thu từ phí bảo hiểm gốc
- Kết dư dự phòng năm trước chuyển sang
- Thu đòi người thứ ba
- Thu khác
o Thu nhập đầu tư ; thu lãi từ hoạt động đầu tư và thu từ các hoạt động
khác.
1.2. Tổng chi ( T C)
Tổng chi là toàn bộ số tiền mà công ty bảo hiểm chi ra cho quá trình kinh
doanh nghiệp vụ trong thời kỳ nhất định ( thường lµ 1 n¨m)
Chi cũng bao gồm 2 khoản lớn là chi kinh doanh bảo hiểm và chi hoạt
động đầu tư. Trong đó chi kinh doanh bao gồm:
- Chi bồi thường bảo hiểm gốc
- Chi trích lập dự phồng bồi thường

Trong đó : HD, HL : Hiệu quả kinh doanh theo doanh thu và lợi nhuận
D: Doanh thu trong kỳ
L : Lợi nhuận trong kỳ
C: Tổng chi trong kỳ
Các chỉ tiêu trên càng lớn càng tốt vì với chi phí nhất định, doanh nghiệp
sẽ có mức doanh thu và lợi nhuận ngày càng tăng.
Với từng nghiệp cụ thể lại tính riêng từng chỉ tiêu hiệu quả
DNV
HNv = _____ (3)
CNV

LNV
HNV = ________ (4)
CNV

Trong đó : HNV : Hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm gốc
DNV : Doanh thu nghiệp vụ
CNV : Chi phí nghiệp vụ bảo hiểm gốc
Mỗi nghiệp vụ bảo hiểm khi triển khai thường qua một số khâu công việc
cụ thể : Khâu khai thác, khâu đề phòng và hạn chế tổn thất, khâu giám định và
bồi thường để nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ, đòi hỏi phải nâng cao hiệu
quả của từng khâu công việc.
Để đánh giá hiệu quả khai thác, phải xác định chỉ tiêu :

Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Kết quả khai thác trong kỳ
Hiệu quả khai thác bảo hiểm = ______________________


Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT
XE Ô TÔ TẠI BẢO VIỆT HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2002- 2006.
I. Tổng quan về công ty Bảo Việt Hà Nội .
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Bảo hiểm Hà Nội
Công ty Bảo hiểm Hà Nội (Bảo Việt Hà Nội) là một trong những thành viên
và là Công ty hạng I của Bảo Việt.Theo quyết định số 1125/QĐ-TCCB của Bộ
trưởng Bộ Tài chính, Chi nhánh Bảo hiểm Thành phố Hà Nội trực thuộc Tổng
công ty Bảo hiểm Việt Nam được thành lập ngày 14/11/1980 với nhiệm vụ tổ
chức hoạt động kinh tế bảo hiểm thương mại trên địa bàn Hà Nội, trụ sở đặt tại
số 7 Lý Thường Kiệt - Hà Nội. Buổi đầu thành lập công ty chỉ có 7 lao động
và kinh doanh 2 nghiệp vụ: Bảo hiểm tai nạn hành khách và Bảo hiểm trách
nhiệm dân sự cho chủ xe cơ giới, doanh thu chỉ khoảng 10 triệu VNĐ/năm.
Ngày 17/02/1989, Bộ Tài chính ra quyết định số 27/TCQĐ-TCCB chuyển
Chi nhánh bảo hiểm Hà Nội được thành Công ty Bảo hiểm Hà Nội. Ngày
03/04/1989, Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam ra quyết định số 230/TCCB-BH
phê chuẩn điều lệ tổ chức hoạt dộng của Bảo hiểm Hà Nội, đặt trụ sở chính tại
15C Trần Khánh Dư – Hà Nội. Năm 1996, sau quyết định thành lập lại của
Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam, ngày 24/09/1996, điều lệ tổ chức và hoạt
động của Bảo hiểm Hà Nội được Chủ tịch Hội đồng quản trị của Tổng công ty
phê chuẩn. Bảo Việt Hà Nội có nhiệm vụ kinh doanh các nghiệp vụ Bảo hiểm,
đầu tư vốn và các dịch vụ có liên quan đến bảo hiểm theo luật pháp của Nhà
nước và phân cấp của công ty.
Cùng với 25 năm xây dựng và trưởng thành, Bảo Việt Hà Nội không ngừng
lớn mạnh và được khẳng định vị thế trên thị trường. Hiện nay, Bảo Việt Hà Nội
đã có hơn 160 cán bộ công nhân viên, 26 phòng trực thuộc trong đó 5 phòng
quản lý và 21 phòng trực tiếp kinh doanh trải khắp trên 14 quận huyện trong

lập nhưng có toàn quyền quyết định các hoạt động của mình ở mức phân cấp
cho phép, kết hợp với các phòng chức năng nhằm đưa ra các biện pháp giải
quyết .
Nhờ cơ cấu tổ chức như trên, việc qunả lý chung của Bảo hiểm Hà Nội khá
chạt chẽ cả chiều rộng và chiều sâu, tạo sự thông suốt từ Ban giám đốc tới các
phòng ban, đại lý, cộng tác viên, đảm bảo đưa ra một dịch vụ bảo hiểm tốt nhất
cho khách hàng. Các phong ban trong công ty hoạt động vừa độc lập, vừa có sự
liên hệ qua lại mật thiết với nhau do sự phân công, phân cấp quản lý của Ban
giám đốc.
Sơ đồ tổ chức Bộ máy hoat động công ty Bảo hiểm Hà Nội.
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
 Đặc điểm hoạt động kinh doanh
Bảo Việt Hà Nội kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ với các loại hình bảo
hiểm:
_ Bảo hiểm mọi rủi ro về xây dựng (C.A.R)
_ Bảo hiểm mọi rủi ro về lắphòng đặt (E.A.R)
_ Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt.
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
_ Bảo hiểm thân tàu biển, tàu sông và tàu cá.
_ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển, tàu sông và tàu cá.
_ Bảo hiểm rủi ro các nhà thầu đóng tàu.
_ Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba.
_ Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu và hàng hoá vận chuyển nội địa.
_ Bảo hiểm máy móc trang thiết bị xây dựng lắp đặt(C.P.M).
_ Bảo hiểm thiệt hại máy móc.
_ Bảo hiểm thiết bị điện tử.

sao củng Tổng công ty, Bảo Việt Việt Nam và sự hỗ trợ hiệu quả của các
phòng ban, đơn vị thành viên cùng cấp.
b. Khó khăn
Số lượng các công ty bảo hiểm tăng lên trong thời gian qua khiến tình
hình cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt. Cạnh tranh chủ yếu
qua việc giảm phí, tăng chi phí kinh doanh để có dịch vụ.
Khách hàng tham gia bảo hiểm có sự lựa chọn kỹ lưỡng các công ty bảo
hiểm và tính toán chặt chẽ hơn khoản chi phí tham gia bảo hiểm để có lợi nhất.
Việc ra dời mới các Công ty bảo hiểm cổ phần đã thu hút một số khách
hàng tham gia cổ đông nên có được thị phần bảo hiểm nhất định trên thị trường
cũng tạo được sự cạnh tranh mạnh đối với các đối thủ khác.
Kết quả hoạt động kinh doanh của Bảo Việt Hà Nội thời gian qua
Kết quả doanh thu qua các năm
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status