Lời mở đầu
Ngành giao thông vận tải đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát
triển của mỗi quốc gia “ Giao thông vận tải là huyết mạch của nền kinh tế” . Đặc
biệt cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tạo điều kiện thúc đẩy ngành
giao thông vận tải phát trỉên với sự ra đời của những loại phương tiện giao thông
khác nhau. Điều đó đã khíên cho sự ngăn cách về địa lý trở nên nhỏ hẹp hơn.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của các loại phương tiện giao thông vận tải
trong khi cơ sở hạ tầng lại chưa được xây dựng để đáp ứng với quy mô gia tăng
đó. Trong khi đặc điểm của các phương tiện giao thông là có tốc độ cao dẫn đến
các tai nạn xảy ra ngày một nhiều với quy mô và mức độ nguy hiểm cao hơn.
Bằng chứng thực tế cho thấy là sự gia tăng về số vụ tai nạn giao thông là có tốc
độ cao dẫn đến các tai nạn xảy ra ngày một nhiều với quy mô và mức độ nguy
hiểm cao hơn.Bằng chứng thực tế cho thấy là sự gia tăng về số vụ tai nạn giao
thông gây thiệt hại lớn về người và tài sản cho các chủ phương tiện. Khi tai nạn
giao thông xảy ra thường chủ xe cơ giới phải gánh chịu phần thiệt hại đối với
người thứ ba ( trách nhiệm dân sự ) và phần thiệt hại vật chất thân xe của mình.
Đối với người thứ ba đã có bảo hiểm trách nhiệm dân sự ( bảo hiểm bắt buộc)
đứng ra bồi thường còn thiệt hại vật chất thân xe, chủ xe phải gánh chịu, nếu
tính bình quân thiệt hại về tài sản của mỗi vụ tai nạn thường lên đến hàng chục,
hàng trăm triệu đồng, đây là con số không nhỏ đối với chủ phương tiện.Mức độ
thiệt hại các chủ xe phải chi trả đôi khi là gánh nặng với họ, ảnh hưởng trực tiếp
đến cuộc sống, sản xuất kinh doanh và gây khó khăn về mặt tài chính cho các
chủ xe.
Chính vì vậy các nghịêp vụ bảo hiểm vật chấ, phương tiện giao thông vận
tải ra đời. Đây là một biện pháp hữu hiệu nhất, là loại hình bảo hiểm tài sản
nhằm bù đắp những thiệt hại tài chính cho những chủ phương tiện khi phương
tiện của họ trong quá trình lưu hành gặp tai nạn, rủi ro dẫn đến gây thiệt hại cho
chính phương tiện giao thông vận tải đó. Ý thức được tầm quan trọng của nghiệp
vụ này, hiện nay tất cả các công ty bảo hiểm phi nhân thọ của Việt Nam đều triển
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
khai.Khi tham gia bảo hiểm các chủ xe phải đóng góp một phần tài chính của
tương đối lớn của cá nhân, tổ chức, doanh nghịêp.Vận chuyển bằng xe cơ giới là
hình thức chủ yếu phổ biến, được sử dụng rộng rãi do xe có tính động cơ cao và
linh hoạt, tốc độ vận chuyển nhanh và chi phí thấp, hoạt động được trong phạm
vi rộng kể cả địa hình phức tạp.
Số lượng đầu xe tham gia ngày càng nhiều đặc biệt ở các nước đang
phát triển và chậm phát triển có thời kỳ tăng lên đột biến.. Cùng với sự gia tăng
của lượng xe cơ giới, ở Việt Nam số lượng xe ô tô tham gia giao thông đường bộ
tăng lên rất nhanh, năm 2004 có khoảng 700.000 chiếc, năm 2005 có khoảng
800.000 chiếc .Lượng xe cơ giới lưu hành quá dày là một nguyen nhân làm tăng
số vụ tai nạn giao thông khắp cả nước, trong khi đường xá ngày càng xuống cấp
và không được đầu tư, tu sửa kịp thời nên tai nạn giao thông xảy ra ngày càng
nghiêm trọng.Có thể thống kê tình hình tai nạn giao thông trong những năm qua
như sau:
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
Bảng 1 : Tình hình tai nạn giao thông đường bộ (2002- 2006)
Chỉ
tiêu
Năm
Số người
bị chết
( người)
Số người
bị thương
( người )
Số vụ tai
nạn BQ
ngày (vụ)
Số vụ tai
nạn ( vụ)
2002 8.213 26.256 71,87 26.233
3. Do tính cơ động cao, vượt giã tốt, số lượng ô tô được sử dụng ngày
càng nhiều cùng với tình trạng xe ô tô kém chất lượng, không an toàn do quá cũ
kĩ vẫn được đưa vào lưu hành làm cho xác suất rủi ro khi sử dụng loại phương
tiện này đã lớn nay lại càng lớn. Đây thực sự là mối đe doạ nguy hiểm tới tính
mạng và tài sản của chủ phương tiện, người tham gia giao thông, của người dân
và của nhà nước. Theo số liệu thống kê hiện nay ở nước ta số xe ô tô có tuổi
dưới 10 năm chiếm khoảng 23%, từ 10 đến 15 năm chiếm 16,5%, trên 15 năm
đến 20 năm chiếm 4,1% và trên 20 năm chiếm 9,7%.
Năm 2006 ta thấy số vụ tai nạn đã giảm hơn rất nhiều so với các năm trước
và sovới năm 2005 giảm 211 vụ tai nạn tương ứng 8,3% .Số vụ tai nạn giảm
xuống là do công tác phổ biến pháp luật về an toàn giao thông đã được đấy
mạnh, việc đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe được chấn chỉnh, công tác
kiểm định an toàn, các phương tiện cơ giới được làm tốt, phát triển phương tiện
vận tải công cộng đảm bảo tỗt cho APEC, Việt Nam gia nhập WTO v…….Tuy
nhiên trên thực tế số người chết và bị thương do tai nạn giao thông xảy ra khiến
nhiều người chết và bị thương ở các đô thị lớn (tăng 40% so với năm ngoái)
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
Bảng 2 So sánh tai nạn giao thông đường bộ với các loại hình giao thông
vận tải khác ( năm 2005)
Chỉ tiêu
Loại
hình
GTVT
Số vụ
tai
nạn
Tỷ lệ
(%)
Số người
chết
1.2. Sù cÇn thiÕt cña b¶o hiÓm vËt chÊt xe c¬ giíi.
Từ việc nghiên cứu đặc điểm của xe cơ giới ta thấy với những đặc tính
ưu việt của xe cơ giới thì hiện nay xe cơ giới là phương tiện được sử dụng rộng
rãi với số lượng lớn song nó chứa đựng yếu tố rủi ro bất ngờ xảy ra. Bằng
chứng, thực tế cho thấy là sự gia tăng về số vụ tai nạn giao thông gây thiệt hại
lớn về tài sản và người cho các chủ phương tiện. Khi xảy ra tai nạn giao thông
thường chủ xe cơ giới phải gánh chịu phần thiệt hại đối với người thứ ba( trách
nhiệm dân sự) và phần thiệt hại vật chất thân xe của mình. Đối với thiệt hại của
người thứ ba đã có bảo hiểm trách nhiệm dân sự( bảo hiểm bắt buộc ) đứng ra
bồi thường, còn thiệt hại vật chất thân xe, chủ xe phải gánh chịu, nếu tính bình
quân về thiệt hại về tài sản của mỗi vụ tai nạn thường lên đến hàng hàng chụ,
hàng trăm chịu đồng, đây là con số không nhỏ đối với chủ phương tiện. Mức độ
thiệt hại mà các chủ xe phải chi trả đôi khi là gánh nặng với họ, ảnh hưởng trực
tiếp đến cuộc sống, sản xuất kinh doanh và gây khó khăn về mặt tài chính cho
các chủ xe. Vì vậy bảo hiểm vật chất xe cơ giới đã ra đời, đây là một biện pháp
hữu hiệu nhằm khắc phục hậu quả do tai nạn xảy ra, đảm bảo ổn định tài chính
cho các chủ xe, ý thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ này, hiện nay tất cả
các công ty bảo hiểm phi nhân thọ của Việt Nam đều triển khai. Khi tham gia
bảo hiểm các chủ xe phải đóng góp một phần tài chính của mình gọi là phí bảo
hiểm vào quỹ tiền tệ của nhà bảo hiểm, để đổi lại họ sẽ được bồi thường một
phần hoặc toàn bộ thiệt hại của xe khi gặp tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm có ghi
trong hợp đồng bảo hiểm .
Có thể khẳng định rằng bảo hiểm vật chất xe cơ giới ra đời là cần thiết
khách quan đối với các chủ xe nên tất cả các nước trên thế giới hiện nay đều
triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này .
2. Tác dụng của bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
Việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới có những tác dụng
cơ bản sau:
- Tích cực góp phần ngăn ngừa và đề phòng tai nạn giao thông.
Kinh doanh bảo hiểm là một kiểu kinh doanh đặc biệt: kinh doanh rủi ro.
giao thông, tăng công ăn việc làm cho người lao động.
Các công ty bảo hiểm thông qua việc nộp thuế làm tăng thu cho ngân
sách nhà nước. Chính phủ sử dụng ngân sách phối hợp với các doanh nghiệp bảo
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
hiểm đầu tư hỗ trợ nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng để thoả mãn tốt
hơn nhu cầu đi lại của người dân. Ngoài ra, với phạm vi hoạt động rộng rãi của
các công ty bảo hiểm hiện nay ở tất cả các tỉnh thành còn giải quyết được một
phần không nhỏ công ăn việc làm cho người lao động, đó là những nhân viên,
cộng tác viên bảo hiểm, đại lý bảo hiểm..
II Nội dung cơ bản của bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
Đối tượng bảo hiểm.
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại hình bảo hiểm tài sản, bảo hiểm vật chất
xe cơ giới có đối tượng bảo hiểm là bản thân chiếc xe. Tuy nhiên một chiếc xe
cơ giới chỉ có thể được coi là đối tượng bảo hiểm khi đáp ứng tối thiểu các điều
kiện sau:
+ Xe phải có giá trị sử dụng.
+ Xe phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về an toàn giao thông.
+ Xe phải đầy đủ các bộ phận về mặt kỹ thuật. Ví dụ hiện nay đối với xe ô tô
có 7 tổng thành:
* Tổng thành thân vỏ: Gồm khung xe, két nước, nắp cabô, chắn bùn, cabin,
tổng bơm, bộ điều hoà lực phanh, các đường ống dẫn khí, dẫn dầu, thùng chứa
nguyên liệu, kính gương, ghế ngồi, các trang thiết bị khác.
* Tổng thành động cơ: Gồm bộ ly hợp, bộ chế hoà khí, bơm cao áp, bầu
lọc gió, bơm hơi và hệ thống điện.
* Tổng thành hộp số: Hộp số chính, hộp số phụ, các lăng.
* Tổng thành trục trước (cầu trước ) bao gồm: Dầm cầu xe, mayơ, hệ thống
treo nhíp, mà phanh, mayơ trước, trục lắp.
* Tổng thành trục sau (cầu sau ) gồm: Vỏ cầu và ruột sau.
* Tổng thành hệ thống lái gồm: Trục lái, vô lăng lái, hộp tay lái, hỗ trợ lực
tay lái, thanh kéo ngang, thanh kéo dọc.
Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho chiếc xe
được bảo hiểm trong những trường hợp trên, các công ty bảo hiểm còn thanh
toán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm:
- Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do các
rủi ro được bảo hiểm;
- Chi phí bảo vệ xe và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất;
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
- Giám định tổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm;
Tuy nhiên, trong mọi trường hợp tổng STBT của công ty bảo hiểm là
không vượt quá STBH đã ghi trên đơn hay giấy chứng nhận bảo hiểm.
b. Phạm vi về thời gian: Bảo hiểm vật chất xe cơ giới luôn có giới hạn
phạm vi bảo hiểm về mặt thời gian mà thông thường là một năm tính từ ngày
hợp đồng có hiệu lực. Nếu hết thời hạn bảo hiểm, chủ xe muốn tiếp tục được bảo
hiểm phải gia hạn hợp đồng hoặc phải tiếp tục hợp đồng mới.
c. Phạm vi về không gian: Trong các đơng vị bảo hiểm vật chất xe cơ
giới, giới hạn trách nhiệm của bảo hiểm chỉ áp dụng trong một phạm vi địa bàn
hoạt động nhất định của bảo hiểm. Nếu tai nạn xảy ra với xe không nằm trong
phạm vi địa lý đã được thoả thuận trước đó thì thiệt hại sẽ không được bồi
thường.
2.2. Rủi ro loại trừ.
Các công ty bảo hiểm không nhận bảo hiểm và không chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại vật chất xe gây ra bởi:
- Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tật
hoặc hư hỏng thêm do sữa chữa. Hao mòn tự nhiên được tính dưới hình thức
khấu hao và thường được tính theo tháng.
- Hư hỏng về điện hoặc bộ phận mát móc, thiết bị, săm lốp bị hư hỏng mà
không do tai nạn gây ra.
- Mất cắp bộ phận của xe.
Để tránh những “ nguy cơ đạo đức” lợi dụng bảo hiểm những hành vi vi
phạm pháp luật, hay một số rủi ro đặc biệt khác, những thiệt hại tổn thất xảy ra
- Thể tích làm việc của xi lanh...
Một phương pháp xác định giá trị bảo hiểm mà các công ty bảo hiểm hay áp
dụng đó là căn cứ vào giá trị ban đầu của xe và mức khấu hao. Cụ thể:
Giá trị bảo hiểm =Giá trị ban đầu (giá mua mới )– giá trị khấu hao
(theo năm)
Đối với xe có thời gian sử dụng dưới một năm thì giá trị khấu hao bằng 0
nên giá trị bảo hiểm bằng giá trị ban đầu của xe.
.Đối với xe có thời gian sử dụng trên một năm thì giá trị khấu hao được
xác định:
Giá trị khấu hao = Giá trị ban đầu × Tỷ lệ khấu hao × Số năm sử dụng
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
Và khấu hao làm tròn theo tháng, cụ thể: Nếu xe tham gia bảo hiểm bị tai
nạn từ ngày 15 trở về đầu tháng, xe đó không tính khấu hao ngược lại. Xe tham
gia bảo hiểm từ 16 về cuối tháng thì tháng đó phải tính khấu hao. Và tính khấu
hao khi xe bị tai nạn làm thiệt hại toàn bộ vật chất thân xe hoặc toàn bộ một tổng
thành nào đó.
Trên thực tế rất nhiều xe đã khấu hao hết nhưng vẫn còn giá trị sử dụng và
vẫn cong sử dụng được. Điều này buộc doanh nghiệp phải có biện pháp linh hoạt
hơn để thu hút khách hàng.
3.2. Số tiền bảo hiểm.
Trên cơ sở giá trị bảo hiểm, chủ xe có thể tham gia bảo hiểm với số tiền bảo
hiểm nhỏ hơn, hoặc bằng, hoặc lớn hơn giá trị thực tế của xe. Tuy nhiên, việc
quyết định tham gia bảo hiểm với số tiền là bao nhiêu sẽ là cơ sở để xác định
STBT khi có tổ thất. Đây là loại hình bảo hiểm tài sản nên về nguyên tắc, chủ xe
có thể tham gia với STBH là lớn nhất bằng giá trị bảo hiểm.
Trong trường hợp số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm ( gọi là bảo
hiểm dưới giá trị). Trường hợp này khi tổn thất xay ra công ty bảo hiểm sẽ bồi
thường dựa trên cơ sở tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm,
Số tiền bảo hiểm
xe. Thông thường, các công ty bảo hiểm đưa ra những biểu xác định phí bảo
hiểm phù hợp cho hầu hết các xe thông dụng thông qua việc phân các loại xe
thành các nhóm.
Khu vực để xe và giữ xe: Trong thực tế, không phải công ty bảo hiểm nào
cũng quan tâm đến nhân tố này. Tuy nhiên, cũng có một số công ty bảo hiểm tính
phí bảo hiểm dựa theo khu vực giữ xe và để xe rất chặt chẽ.
Mục đích sử dụng xe: Đây là nhân tố rất quan trọng khi xác định phí bảo
hiểm. Nó giúp công ty bảo hiểm biết được mức độ rủi ro có thể xảy ra. Ví dụ, xe
do một người về hưu sử dụng cho mục đích đi lại đơn thuần chắc chắn sẽ đóng
phí bảo hiểm thấp hơn so với xe do một thương gia sử dụng để đi lại trong
những khu vực rộng lớn.
Tuổi tác kinh nghiệm lái xe của người bảo hiểm và những người thường
xuyên sử dụng chiếc xe được bảo hiểm.
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
Số liệu thống kê cho thấy rằng các lái xe trẻ tuổi bị tai nạn nhiều hơn so
với các lái xe lớn tuổi. Trong thực tế, các công ty bảo hiểm thường áp dụng giảm
phí bảo hiểm cho các lái xe trên 50 hoặc 55 tuổi do kinh nghiệm cho thấy số
người này ít gặp tai nạn hơn so với các lái xe trẻ tuổi.
Để khuyến khích hạn chế tai nạn, các công ty thường xuyên yêu cầu
người bảo hiểm tự chịu một phần tổn thất xảy ra về xe ( mức độ miễn thường).
Giống như cách tính phí bảo hiểm nói chung, phí bảo hiểm phải đóng
cho mỗi đầu xe đối với mỗi loại xe được tính theo công thức sau:
P = f + d
Trong đó :
P : Phí thu mỗi xe
d : Phụ phí
f : Phí thuần
Theo công thức trên, việc xác định phí bảo hiểm phụ thuộc vào các nhân tố sau:
Tình hình bồi thường tổn thất của những năm trước đó. Căn cứ vào số liệu
thống kê, công ty bảo hiểm sẽ tính toán được phần phí thuần “f ” cho mối đầu xe
tại Bảo Việt)
Đối với xe mô tô, tỷ lệ phí bảo hiểm: 1% giá trị thực tế của xe.
Đối với những xe yêu cầu tham gia bảo hiểm thời hạn ngắn, số phí sẽ được tính
theo qui định của Bộ Tài chính.
Bảng 4. Biểu phí ngắn hạn
Thời hạn bảo hiểm Mức phí áp dụng (% phí bảo hiểm năm)
Dưới 3 tháng
30%
Từ 3 đến 6 tháng 60%
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
Từ 6 đến 9 tháng
90%
Từ 9 đến 12 tháng
100%
(Nguồn: Quy tắc bảo hiểm kết hợp xe cơ giới tại Bảo Việt Hà Nội)
Để khuyến khích các chủ xe có số lượng lớn tham gia bảo hiểm tại công ty
mình, các công ty bảo hiểm thường áp dụng mức giảm phí so với mức phí chung
theo số lượng xe tham gia bảo hiểm. Ngoài ra, hầu hết các công ty bảo hiểm còn
áp dụng cơ chế giảm giá cho những người tham gia bảo hiểm không có khiếu nại
và gia tăng tỉ lệ giảm giá này cho một số năm không có khiếu nại gia tăng. Có
thể nói đây là biện pháp phổ biến trong bảo hiểm xe cơ giới. Ví dụ, tại Bảo Việt
qui định.
Bảng 5. Bảng tỷ lệ giảm phí
Số lượng xe tham gia bảo hiểm Tỷ lệ giảm phí tối đa
Từ 5 đến 10 xe 5%
Từ 11 đến 20 xe 10%
Từ 21 đến 30 xe 15%
Từ 31 đến 50 xe 20%
Trên 50 xe Căn cứ vào tình hình thực tế để áp dụng giảm phí
ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí bảo hiểm của những tháng ngừng hoạt động đó cho
chủ xe. Số phí hoàn lại được tính như sau:
Phí hoàn Phí cả Số tháng không hoạt động Tỷ lệ hoàn
= x¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ x phí
lại năm 12
Tuỳ theo từng công ty bảo hiểm khác nhau mà quy định tỷ lệ hoàn phí là
khác nhau. Nhưng thông thường tỉ lệ này là 80%.
Trong trường hợp chủ xe muốn huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm khi chưa hết
hạn hợp đồng thì thông thường công ty bảo hiểm cũng hoàn lại phí bảo hiểm cho
thời gian còn lại đó theo công thức trên nhưng với điều kiện là chủ xe có lần nào
được công ty bảo hiểm trả tiền bảo hiểm.
Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất.
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
Khi triển khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới các công ty bảo hiểm
cần chú ý đến việc đề phòng tai nạn xảy ra và hạn chế tối đa mức độ tổn thất để
giảm thiểu chi phí bồi thường cho nhà bảo hiểm bởi nếu chi bồi thường quá cao
thì doanh nghiệp kinh doanh không có lãi, không đảm bảo duy trì hoạt động kinh
doanh. Hàng năm các công ty bảo hiểm thường tiến hành trích một phần doanh
thu từ nghiệp vụ để phục vụ cho công tác này. Chủ yếu là để xây dựng
5.1. Bồi thường tổn thất.
Như chúng ta đã biết, bảo hiểm là một ngành dịch vụ và sản phẩm bảo
hiểm là sản phẩm vô hình. Đó là những lời hứa cam kết của công ty bảo hiểm sẽ
chi trả tiền bồi thường cho khách hàng khi rủi ro xảy ra.Do vậy, việc bồi thường
cho khách hàng là tiêu chí để đánh giá chất lượng phục vụ khách hàng của công
ty cũng như khẳng định vụ thế, uy tín của công ty trên thị trường bảo hiểm.
Công tác bồi thường đòi hỏi phải nhanh chóng, kịp thời, chính xác.
a) Hồ sơ bồi thường.
Khi yêu cầu cơ quan bảo hiểm bồi thường thiệt hại vật chất xe, chủ xe phải
cung cấp những tài liệu chứng từ sau:
hiểm nhỏ hơn hoặc bằng giá trị thực tế của xe hoặc được bồi thường theo giá trị
thực tế nếu tham gia bảo hiểm trên giá trị các công ty bảo hiểm thường quy định
giá trị thiệt hại so với giá trị thực tế của xe bằng hoặclớn hơn một tỷ lệ nhất định
nào đó thì đựơc xem là tổn thất toàn bộ ước tính. Tuy nhiên lại giới hạn bởi bảng
tỷ lệ cấu thành xe.
Ngoài ra tính toán số tiền bồi thường còn phải tuân thủ những nguyên tắc
sau :
+ Những bộ phận thay thế mới khi bồi thường phải trừ khấu hao đã sử
dụng hoặc chỉ tính giá trị tương đương với giá trị bộ phận được thay thế trước
lúc tai nạn xảy ra.
+ Công ty bảo hiểm sẽ thu hồi những bộ phận được thay thế hoặc đã
được bồi thường toàn bộ giá trị.
Trong trường hợp chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất theo một hay nhiều đơn bảo
hiểm hay còn gọi là bảo hiểm trùng. Theo nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm,
tổng số tiền bảo hiểm mà chủ xe nhận được từ tất cả các đơn bảo hiểm chỉ đúng
bằng thiệt hại thực tế. Thông thường các công ty bảo hiểm giới hạn trách nhiệm
bồi thường của mình theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm ghi trong giấy chứng nhận
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
bảo hiểm của công ty mình so với tổng những số tiền bảo hiểm ghi trong tất cả
các đơn bảo hiểm
6. Hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới là sự thoả thuận giữa các bên theo
bên mua bảo hiểm (chủ phương tiện, lái xe) có trách nhiệm phải nộp phí bảo
hiểm, bên bảo hiểm có trách nhiệm trả tiền bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm
cho người tham gia bảo hiểm khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm.
Trước khi ký hợp đồng , chủ xe phải có giấy yêu cầu bảo hiểm và kê khai
đầy đủ, trung thực những nội dung có trong giấy yêu cầu bảo hiểm kê khai đầy
đủ, trung thực những nội dung có trong giấy yêu cầu bảo hiểm .
Trong hợp đồng bảo hiểm có quy định một số điều khoản quan trọng như:
- Điều khoản quy định về hình thức tham gia : Tham gia bảo hiểm toàn
- Phải nộp thuế cho Nhà nước
- Phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật quy định.
Quyền lợi của công ty bảo hiểm:
- Thu phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm
- Yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng
bảo hiểm
- Yêu cầu khách hàng áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất
theo quy định của pháp luật
- Có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng nếu phát hiện có hiện
tượng trục lợi bảo hiểm
- Từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối thanh toán tiền bồi thường cho
khách hàng trong những trường hợp không thuộc phạm vi bảo hiểm hoặc trường
hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo như thoả thuận trong hợp đồng
Đối với chủ xe cơ giới
Trách nhiệm của chủ xe cơ giới
- Phải nộp phí đầy đủ
- Phải chấp hành đúng luật lệ giao thông , phải có bằng lái
- Phải bảo dưỡng xe định kì, nếu xe không đủ điều kiện lưu hành phải kịp
thời báo cho công ty bảo hiểm biết
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
- Phải kê khai đầy đủ, trung thực những nội dung trong giấy yêu cầu bảo
hiểm
- Khi tai nạn giao thông xảy ra, chủ xe cơ giới có trách nhiệm cứu chữa,
hạn chế thiệt hại về người và tài sản, bảo vệ hiện trường và báo ngay cho công
an gần nhất để phối hợp giải quyết tai nạn
- Trường hợp thay đổi mục đích sử dụng xe, chủ xe phải thông báo cho
công ty bảo hiểm biết để điều chỉnh tỷ lệ phí cho phù hợp.
Quyền lợi của chủ xe
- Được chi trả tiền bồi thường khi rủi ro xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm.
- Được yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản
- Chi giám định
1.3. Chỉ tiêu lợi nhuận nghiệp vụ
Lợi nhuận là toàn bộ số tiền còn lại từ doanh thu nghiệp vụ sau khi đã trừ
đi tất cả các khoàn chi
Lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh có hai chỉ tiêu:
Lợi nhuận trước thuế = Tổng doanh thu - Tổng chi phí
Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - Thuế thu nhập doanh
nghiệp phải nộp
Chỉ tiêu hiệu quả .
Hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm là thước đo sự phát triển của
bản thân doanh nghiệp và phản ánh trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra
những kết quả kinh doanh nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
Hiệu quả được đo bằng tỷ số giữa doanh thu hoặc lợi nhuận với tổng chi phí chi
ra trong kỳ
D
HD = ____ (1)
C
Chỉ tiêu (1) nói lên cứ một đồng chi phí chi ra trong kỳ tạo ra bao nhiêu
Sinh viên thực hiện Trần Thanh Loan BH45A
đồng doanh thu cho doanh nghiệp bảo hiểm .
L
HL = ____ (2)
C
Chỉ tiêu (2) nói lên cứ một đồng chi phí chi ra trong kỳ tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp bảo hiểm .
Trong đó : HD, HL : Hiệu quả kinh doanh theo doanh thu và lợi nhuận
D: Doanh thu trong kỳ
L : Lợi nhuận trong kỳ
C: Tổng chi trong kỳ
Các chỉ tiêu trên càng lớn càng tốt vì với chi phí nhất định, doanh nghiệp sẽ