Lời mở đầu
Xuất phát từ một nớc nông nghiệp lạc hậu lại bị tàn phá nặng nề của chiến
tranh trong suốt thời kỳ dài và trên 40 năm sử dụng cơ chế kế hoạch hoá tập trung
hay còn gọi là cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Cho nên nớc ta đã gặp rất nhiều
khó khăn trong việc phát triển nền kinh tế đất nớc. Nhng nhờ có đờng lối đổi mới
phù hợp nên nền kinh tế nớc ta đã vợt qua đợc khủng hoảng để đứng vững và đang
ngày càng phát triển. Đạt đợc những thành tựu, kết quả to lớn ấy chúng ta không
thể phủ nhận vai trò của Nhà nớc. Tại đại hội VI và nhất là tại đại hội VII của
Đảng đã xác định và nhấn mạnh cơ chế quản lý mới ở nớc ta phải là cơ chế thị tr-
ờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCH.
Nhà nớc trong lịch sử đã có vai trò quan trọng đặc biệt thì ngày nay để thực
hiện cuộc cách mạng xã hội, để xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế
mới, vai trò của Nhà nớc còn tăng lên gấp bội. Không có Nhà nớc nào lại đứng
trên kinh tế hay đứng ngoài kinh tế. Trong nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN, sự kết hợp hài hoà tơng hỗ giữa sự quản lý của Nhà nớc và cơ chế thị tr-
ờng sẽ thúc đẩy nền kinh tế tăng trởng và phát triển ở mức cao nhất, đồng thời hạn
chế và khắc phục đợc những tệ nạn và hậu quả xã hội một cách có hiệu quả nhất.
Vai trò của Nhà nớc trong cơ chế thị trờng định hớng XHCN là cần thiết và
không thể thiếu đợc bởi nếu không có sự can thiệp của Nhà nớc vào cơ chế thị tr-
ờng ở tầm vĩ mô thì sẽ không đảm bảo đợc mục tiêu kinh tế XHCN và sẽ khó mà
khắc phục, sữa chữa những hạn chế của cơ chế mới, những tàn d còn đọng lại của
cơ chế cũ. Việt Nam chúng ta quá độ lên CNXH bỏ qua TBCN nên càng cần có sự
điều tiết kinh tế của Nhà nớc để chúng ta thành công cơ chế mới, xây dựng thành
công CNXH.
Chính vì tính cấp thiết và tầm quan trọng của vấn đề này đã thôi thúc em chọn
đề tài: Tăng cờng vai trò kinh tế của Nhà nớc là nhân tố quan trọng để hình
thành và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế mới ở nớc ta hiện nay.
Vì thời gian có hạn, sự hiểu biết cha đầy đủ, cho nên trong bài viết này còn
nhiều thiếu sót, em kính mong thầy chỉ bảo thêm để em rút kinh nghiệm cho
những bài viết sau. Em xin cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của thầy giáo Lê Việt đã
phải có một tổ chức quyền lực đủ mạnh để dập tắt đợc cuộc xung đột giai cấp ấy.
Đáp ứng nhu cầu này, một tổ chức ra đời đó là Nhà nớc. Nhà nớc xuất hiện một
cách khách quan. Nhà nớc là một lực lợng nảy sinh từ xã hội, một lực lợng tựa hồ
nh đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột
đó nằm trong vòng trật tự.
Nh vậy Nhà nớc xuất hiện và hình thành từ giai đoạn xã hội chiếm hữu nô lệ.
Nhà nớc vẫn tiếp tục phát triển và tồn tại trong xã hội phong kiến, xã hội TBCN
và xã hội XHCN. Tơng ứng với mỗi hình thái kinh tế xã hội thì đều có một kiểu
Nhà nớc đặc trng. Nhng dù trong bất cứ một xã hội nào thì Nhà nớc luôn là tổ
chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cỡng chế
và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện
những mục đích của giai cấp thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị đó
trong xã hội. Hay có thể nói Nhà nớc là sự chuyên chính về chính trị của giai cấp
nắm sức mạnh kinh tế.
Nhà nớc Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển đã bỏ qua giai
đoạn xã hội TBCN. Hiện nay Việt Nam chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục xây dựng
Nhà nớc XHCN- Nhà nớc của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
2
Nhà nớc XHCN là Nhà nớc mới nhất, tiến bộ nhất và là nhà nớc cuối cùng
trong lịch sử. Sau khi hoàn thành sứ mệnh của mình Nhà nớc XHCN sẽ tiêu vong
và xã hội sẽ không còn tồn tại Nhà nớc nữa.
1.2. Vai trò kinh tế của Nhà nớc qua các thời đại lịch sử
Vai trò kinh tế của Nhà nớc đợc phôi thai ngay từ buổi ban đầu khi Nhà nớc
chỉ vừa mới xuất hiện. Sau đó mới đợc nhận thức và ứng dụng vào thực tiễn quản
lý kinh tế xã hội. Vai trò kinh tế của nhà nớc ở các thời đại lịch sử khác nhau là
khác nhau nhng đều nhằm hớng tới một mục đích chung đó là đảm bảo cho sự
tăng trởng kinh tế và phát triển lâu dài.
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, Nhà nớc chủ nô đã trực tíêp dùng quyền lực
của mình can thiệp vào việc phân phối của cải đợc sản xuất ra bằng sức lao động
doanh nghiệp nh làm đờng, xây bến cảng, đào các con kênh lớn Đầu những
năm 30 của thế kỷ XX những cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra thờng xuyên, đặc
3
biệt cuộc khủng hoảng quy mô lớn 1929- 1933 chứng tỏ bàn tay vô hình đã
không thể bảo đảm những điều kiện ổn định cho kinh tế thị trờng phát trỉên. Và
nhà kinh tế học ngời Anh, John Maynard Keynes (1884- 1946) đã đa ra lý thuyết
Nhà nớc điều tiết nền kinh tế thị trờng. Nhà nớc can thiệp vào kinh tế ở tầm vĩ
mô và vi mô. ở tầm vĩ mô, Nhà nớc sử dụng các công cụ nh lãi suất, chính sách
tín dụng, điều tiết lu thông tiền tệ, lạm phát, bảo hiểm, thuế, trợ cấp, đầu t phát
triển ở tầm vi mô, Nhà nớc trực tiếp phát triển các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh và dịch vụ công cộng. Học thuyết Keynes đã cứu CNTB khỏi cơn khủng
hoảng lớn của những năm 30- 40, song những chấn động lớn trong nền kinh tế
vẫn diễn ra, tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát vẫn xảy ra ngày càng
trầm trọng. Để phê phán học thuyết Keynes, học thuyết kinh tế hỗn hợp của Paul
A.Samuelson ra đời. Samuelson cho rằng điều hành một nền kinh tế không có cả
Nhà nớc lẫn thị trờng thì cũng nh vỗ tay bằng một bàn. Phối hợp bàn tay vô
hình của thị trờng với bàn tay hữu hình của Nhà nớc để điều chỉnh nền kinh tế
thị trờng đã đợc ra đời và phát huy tác dụng. Thị trờng là động lực mạnh mẽ đối
với sự tăng trởng. Nhà nớc tạo ra môi trờng an toàn để thị trờng phát triển và hạn
chế sự d thừa của những thị trờng khó kiểm soát.
Nhà nớc chủ nô, phong kiến, t sản tuy có những đặc điểm riêng nhng đều
thuộc kiểu Nhà nớc của giai cấp bóc lột. Cơ sở kinh tế của chúng là chế độ t hữu
về t liệu sản xuất và chế độ ngời bóc lột ngời. Các Nhà nớc đó đều là công cụ
thống trị của thiểu số giai cấp bóc lột đối với đại đa số nhân dân lao động.
Đối lập với các Nhà nớc trên là Nhà nớc XHCN. Đó là Nhà nớc kiểu mới. Cơ
sở kinh tế của Nhà nớc XHCN là chế độ công hữu về t liệu sản xuất, phát triển
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý
của Nhà nớc. Nhà nớc XHCN can thiệp vào các quá trình sản xuất xã hội, vào các
quan hệ đối ngoại, sử dụng các đòn bẩy kinh tế, thể chế hoá các chủ trơng chính
triển kinh tế xã hội, tổ chức điều hành nền kinh tế, kiểm soát sự phát triển Từ
đặc trng chức năng của Nhà nớc ta có thể rút ra rằng Nhà nớc là một bộ máy, một
lực lợng quản lý toàn bộ xã hội trong đó có quản lý về kinh tế. Nh vậy khi có Nhà
nớc thì tất yếu khách quan sẽ có sự quản lý của Nhà nớc về kinh tế. Hay việc xuất
hiện vai trò kinh tế của Nhà nớc mang tính tất yếu khách quan.
Tính tất yếu khách quan của việc xuất hiện vai trò kinh tế của Nhà nớc không
chỉ đợc chứng minh từ đặc trng, chức năng của Nhà nớc mà nó còn đợc chứng
minh ở nhiều khía cạnh khác. Sản xuất ngày càng đợc xã hội hoá nhất là trong chủ
nghĩa t bản vì thế cần tới sự điều tiết của xã hội hay cụ thể hơn là của Nhà nớc
đối với sản xuất.
Bởi theo quá trình phát triển của nhân loại khi trình độ xã hội hóa sản xuất
ngày càng cao, quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội ngày càng
đan chéo phức tạp thì vai trò của Nhà nớc ngày càng có ý nghĩa hết sức quan
trọng. Đó là một lí do tại sao cần thiết khách quan xuất hiện vai trò kinh tế của
Nhà nớc để can thiệp vào quá trình sản xuất xã hội. Trong CNTB đặc biệt là trong
giai đoạn độc quyền, quá trình xã hội hoá sản xuất diễn ra hết sức mạnh mẽ, sâu
sắc trên quy mô rộng lớn. Tích tụ và tập trung sản xuất đạt tới quy mô to lớn cha
từng có, hình thành các tổ chức độc quyền, phân công lao động xã hội, chuyên
môn hoá sản xuất ngày càng sâu, quan hệ trao đổi, hợp tác kinh tế, sự phụ thuộc
lẫn nhau mở rộng không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trên phạm vi quốc tế.
Các mâu thuẫn xảy ra kéo theo khủng hoảng kinh tế TBCN. Sự can thiệp của Nhà
nớc t sản mặc dù không xoá bỏ đợc khủng hoảng và tính chu kì trong nền kinh tế
nhng làm giảm tác động phá hoại của khủng hoảng kinh tế. Khi hình thành các tổ
chức độc quyền, các tổ chức này cố gắng tạo ra lợi nhuận độc quyền cao bằng
việc định ra giá cả độc quyền cao, ra sức chiếm đoạt giá trị thặng d, tìm cách thâu
tóm thị trờng, xuất khẩu t bản ra nớc ngoài. Vì thế cần có sự can thiệp trực tiếp
của Nhà nớc vào quá trình kinh tế nhằm đảm bảo mức lợi nhuận độc quyền cao
cho các tổ chức độc quyền, giữ lợi nhuận cho nó ổn định, cứu nguy cho CNTB và
giúp CNTB thoát khỏi khủng hoảng. Nhà nớc giúp tạo nguồn vốn, hạn chế bớt độ
rủi ro trong kinh doanh, giữ vững tốc độ tăng trởng, tìm kiếm và phân chia thị tr-
II. Sự hình thành cơ chế quản lý kinh tế mới ở Việt Nam
1. Cơ chế quản lý kinh tế cũ ở Việt Nam. Sự hình thành và u nhợc điểm của
nó
1.1. Cơ chế kế hoạch hoá tập trung- cơ chế cũ ở Việt Nam
Trong những năm sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc
hoàn toàn giải phóng( năm 1954) Nhà nớc ta bắt tay vào khôi phục và xây dựng
nền kinh tế miền Bắc XHCN. Do điều kiện lịch sử lúc đó, Việt Nam đã sao chép
hầu nh nguyên vẹn mô hình phát triển kinh tế xã hội và cơ chế quản lý kinh tế của
các nớc XHCN đặc biệt là của Liên Xô.
Vấn đề chủ yếu của cơ chế quản lý kinh tế giai đoạn này là: Kế hoạch hoá đợc
coi là cơ chế quản lý với kế hoạch là công cụ quản lý số một, có tính chất pháp
lệnh bắt buộc trực tiếp hoặc gián tiếp đối với tất cả các ngành, các cấp, các tổ
chức xã hội, các đơn vị kinh tế và công dân. Luật pháp về kinh tế mới có rất ít và
các công cụ quản lý kinh tế khác đều đợc xếp sau công cụ kế hoạch. Nhà nớc bị
biến thành ông chủ của một doanh nghiệp lớn, thông qua hệ thống các chỉ tiêu
kế hoạch chi tiết, Nhà nớc trực tiếp quyết định tất các vấn đề liên quan tới đời
sống kinh tế xã hội của đất nớc.
6
Cơ chế quản lý kinh tế giai doạn này có những đặc trng cơ bản sau đây:
a. Cơ chế quản lý kinh tế đợc thiết kế dựa trên cơ sở của chế độ công hữu về
t liệu sản xuất. Ngay sau khi miền Bắc đợc hoàn toàn giải phóng, Nhà nớc tập
trung cải tạo XHCN đối với mọi thành phần kinh tế. Trên thực tế, Nhà nớc chỉ
thừa nhận một thành phần kinh tế XHCN với hai loại hình sở hữu là toàn dân và
tập thể. Các thành phần khác bị hạn chế tới mức tối đa, thậm chí bị triệt tiêu, kinh
tế t nhân không đợc phép tồn tại và hoạt động.
b. Nhà nớc thực hiện quản lý kinh tế thông qua hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi
tiết với chế độ cấp phát và giao nộp theo quan hệ hiện vật là chủ yếu. Nhà nớc can
thiệp quá sâu vào các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, các hợp tác xã,
các tổ chức sản xuất v.v quyết định tất cả(từ kế hoạch sản xuất, giá cả sản
Trong thời kỳ đầu, nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã tỏ ra phù hợp với kinh
tế tự cung tự cấp vốn có của ta lúc đó. Đồng thời nó cũng thích hợp với kinh tế
7
thời chiến và đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra chiến thắng vĩ đại của dân
tộc. Nó đã cho phép Đảng và Nhà nớc ta huy động ở mức cao nhất sức ngời và sức
của cho tiền tuyến. Có thể nói, cơ chế quản lý này đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử
của mình.
Tuy vậy sau ngày giải phóng miền Nam, khi đất nớc đã hoàn toàn thống nhất
thì bức tranh mới về hiện trạng kinh tế xã hội ở nớc ta đã thay đổi. Trong một nền
kinh tế cùng một lúc tồn tại cả ba loại hình kinh tế tự cung tự cấp, kinh tế kế
hoạch hoá tập trung và kinh tế hàng hoá. Đó là một tồn tại khách quan sau năm
1975, chúng ta đã không thay đổi kịp thời cơ chế quản lý cho phù hợp, trái lại vẫn
tiếp tục duy trì kinh tế tập trung theo cơ chế kế hoạch hoá ở miền Bắc và áp dụng
nguyên xi vào miền Nam. Do các quan hệ kinh tế đã thay đổi rất nhiều, việc áp
dụng cơ chế quản lý kinh tế cũ vào điều kiện kinh tế đã thay đổi không phù hợp
gây ra nhiều hậu quả với những tác hại khôn lờng đã xảy ra. Do chủ quan, không
cân nhắc tới sự phù hợp của cơ chế quản lý kinh tế mà chúng ta đã không quản lý
có hiệu quả các nguồn lực và đã dẫn tới việc sử dụng lãng phí nghiêm trọng các
nguồn lực của đất nớc. Tài nguyên thiên nhiên bị phá hoại, môi trờng bị ô nhiễm,
sản xuất kém hiệu quả, Nhà nớc thực hiện bao cấp tràn lan. Những điều đó đã gây
ra rất nhiều hậu quả xấu cho nền kinh tế, sự tăng trởng kinh tế chậm chạp, sản
phẩm trở nên khan hiếm, ngân sách bị thâm hụt nặng nề, thu nhập từ nền kinh tế
không đủ tiêu dùng, tích luỹ hàng năm hầu nh không có. Vốn đầu t chủ yếu phải
dựa vào vay và viện trợ của nớc ngoài. Đến cuối những năm 80, giá cả leo thang
dẫn đến siêu lạm phát và khủng hoảng kinh tế đỉnh cao là cuối năm 85 lạm phát
trên 500% đã làm cho đời sống nhân dân bị giảm sút thậm chí một số địa phơng
nạn đói đang rình rập.
Việc áp dụng cơ chế kế hoạch hoá tập trung kém hiệu quả làm suy thoái nền
kinh tế ở nớc ta là do nhiều nguyên nhân. Nhng chủ yếu và sâu xa là do ta đã rập
Về phơng diện kinh tế, có thể khái quát rằng: lịch sử phát triển của sản xuất
và đời sống xã hội của nhân loại đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế thích
ứng với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và phân công lao động xã hội.
Hai thời đại kinh tế khác hẳn nhau về chất đó là thời đại kinh tế chỉ huy, tự cung
tự cấp và thời đại kinh tế hàng hoá mà giai đoạn phát triển cao của nó là kinh tế
thị trờng. Kinh tế thị trờng không phải là một chế độ kinh tế xã hội mà là hình
thức và phơng pháp vận hành kinh tế. Nền kinh tế thị trờng là một nền kinh tế
trong đó các vấn đề cơ bản của nó do thị trờng quyết định. Thị trờng là nơi gặp gỡ,
trao đổi giữa ngời bán và ngời mua, là yếu tố chi phối mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh, là nét đặc trng bao quát của kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng hoá càng
phát triển thì thị trờng càng mở rộng và trở thành yếu tố quan trọng kích thích sản
xuất phát triển. Các quy luật của thị trờng chi phối việc phân bổ các tài nguyên,
quy định việc sản xuất. Có thể nói, đây là một kiểu tổ chức kinh tế hình thành và
phát triển do những đòi hỏi khách quan của sự phát triển lực lợng sản xuất.
Thực tế đã ghi nhận trong nền kinh tế hàng hoá, các quy luật kinh tế của sản
xuất và lu thông hàng hoá đợc phản ánh và tác động khách quan thông qua thị tr-
ờng, thông qua sự vận động của giá cả thị trờng.
Nh vậy có thể hiểu cơ chế thị trờng là cơ chế tự điều tiết nền kinh tế hàng hoá
do sự tác động của các quy luật kinh tế vốn có của nó. Cơ chế đó giải quyết ba
vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế là cái gì, nh thế nào và cho ai. Cơ chế thị trờng
bao gồm các nhân tố cơ bản là cung cầu và giá cả thị trờng.
Hiện nay còn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về cơ chế thị trờng. Chẳng
hạn, theo Paul A.Samuelson thì cơ chế thị trờng là một kiểu tổ chức kinh tế trong
đó cá nhân ngời tiêu dùng và các nhà doanh nghiệp tác động lẫn nhau qua thị tr-
ờng để xác định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế:
- Sản xuất cái gì ?
- Sản xuất nh thế nào ?
- Sản xuất cho ai?
2.2. Ưu điểm và khuyết tật của cơ chế thị trờng
Cái gì cũng có tính hai mặt của nó, cơ chế thị trờng cũng vậy. Trong quá trình
mà đáp ứng đợc nhu cầu xã hội. Sản xuất bằng phơng thức nào, bằng công nghệ gì
đợc quyết định bởi cạnh tranh giữa những ngời sản xuất hàng hoá. Để có thể cạnh
tranh đợc buộc các doanh nghiệp phải giảm chi phí đến mức tối thiểu bằng cách
năng động trong sản xuất kinh doanh, áp dụng kĩ thuật công nghệ mới vào sản
xuất, tăng năng suất lao động, thay đổi mẫu mã, tìm kiếm thị trờng. Hệ thống giá
cả là một tín hiệu cho một phơng pháp công nghệ thích hợp. Sản xuất, phân phối
và tiêu dùng một phần đợc quyết định bởi quan hệ cung cầu trên thị trờng.
Nh vậy nền kinh tế thị trờng có khả năng tập hợp tự động đợc hành động, trí
tuệ và tài lực của hàng triệu con ngời và hớng tới lợi ích chung của xã hội. Đó là
thúc đẩy tăng trởng kinh tế ,tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả sản xuất.
Các nhà kinh tế đã khẳng định rằng cơ chế thị trờng là cơ chế tốt nhất điều tiết
nền kinh tế hàng hoá cho hiệu quả cao, cơ chế thị trờng đã tạo ra đợc những thành
tựu to lớn nhất mà từ trớc đến nay cha một nền kinh tế nào đạt đợc.
b. Khuyết tật của cơ chế thị trờng
Cơ chế thị trờng quả thật là có rất nhiều u điểm nhng có lẽ là vẫn cha đủ để
chúng ta có thể bỏ qua, che lấp những khuyết tật của nó. Nhà kinh tế học nổi
tiếng Paul A.Sammuelson đã nói: Sau khi tìm hiểu về bàn tay vô hình, chúng ta
10