Báo cáo "CÁC NHÀ NHÂN HỌC CHỈ CẦN ỨNG DỤNG: CÁC THÁCH THỨC CỦA NHÂN HỌC ỨNG DỤNG " - Pdf 12

Tạp chí Viện Nhân học Hoàng gia (N.S) 13, 147 – 165
Bản quyền: Viện Nhân học Hoàng gia 2007
CÁC NHÀ NHÂN HỌC CHỈ CẦN ỨNG DỤNG:
CÁC THÁCH THỨC CỦA NHÂN HỌC ỨNG DỤNG
Paul Sillitoe, Trường Đại học Durham
Người dịch: TS. Nguyễn Xuân Thơm, Đại học Quốc gia Hà Nội
Việc ứng dụng nhân học đang ngày càng thu hút sự chú ý khi một thời việc
này được coi là một việc đáng ngờ. Sự nổi lên của nhân học ứng dụng phản
ánh sự lan toả rộng rãi của ngành học này khi người ta tìm kiếm sự ứng
dụng trong một loạt các ứng dụng. Trong bài báo này tôi đưa ra ý kiến về
một số vấn đề đang được tranh cãi mà tôi đã gặp phải trong khi cố gắng đối
đầu với thách thức của ứng dụng nhân học trong bối cảnh “kiến thức của
người trong nghề” về các vấn đề phát triển, các vấn đề đòi hỏi phải quan
tâm chú ý để đẩy công việc lên phía trước. Một tổng luận ngắn gọn về lịch
sử cho thấy việc không đề cập các vấn đề này đã ngăn cản các nỗ lực nhằm
thiết lập ngành nhân học ứng dụng trước đây. Các vấn đề này bao gồm việc
định nghĩa chủ đề mà chúng ta cần ứng dụng, những ứng dụng mang tính
liên ngành cho các khoa học xã hội và vấn đề về chuyên môn sâu. Các xem
xét khác liên quan đến việc tạo cho các phương pháp nhân học một góc
cạnh ứng dụng bao gồm, ví dụ như, các đòi hỏi mang tính thách thúc của
các nghiên cứu đi kèm. Tôi lược giản ra đây năm phương pháp để quan sát
nhân học ứng dụng: Khai thác bí quyết công nghệ của những khoa học
khác; sử dụng kiến thức nội bộ môn để thúc đẩy sự phát triển; Chuyển giao
việc nghiên cứu và ứng dụng qua các nền văn hoá; Tìm cách đẩy mạnh việc
sử dụng tri thức cho mục đích thị trường; và cuối cùng tạo ra sự phê phán
mang tính cấp tiến về quá trình phát triển. Tất cả các vấn đề này đếu là
những thách thức đối với chúng ta. Và chúng chỉ ra thời đại thú vị cho nhân
học.

Ứng dụng của nhân học là gỉ? Đây là một vấn đề có ý nghĩa thiết thân trong
bối cảnh kinh tế, chính trị hiện nay khi những biến đổi từ kinh tế thị trường

này cần phải tồn tại. Đối với tôi công việc này tập trung vào cái gọi là “kiến
thức trong nghề” trong phát triển ngành học, ở đó tôi có thể thấy sự ứng
dụng của nhân học. Sự xuất hiện của các vấn đề này, theo dòng các biến đổi
trong sự phát triển vài thập kỷ qua (ngày càng được quan tâm), đã tạo ra một
khía cạnh mới cho câu hỏi “chúng ta áp dụng nhân học như thế
nào?”(Antweiler 1998; DeWalt 1994; Purcell 1998; Sillitoe 1998). Các cơ
hội để cho nhân học có điều kiện đóng góp chưa bao giờ tốt như bây giờ.
Nhưng, với thậm chí các phương pháp tiếp cận liên ngành thì cũng khó có
thể ứng dụng , cho nên ngành nhân học cũng khó có thể đẩy vấn đề ứng
dụng tiến lên. Khi tôi cố gắng đối mặt với các thách thức của việc ứng dụng
nhân học, thì tôi cũng phải thừa nhận rằng tôi lọt vào một đống các mắc mớ
tạo ra bởi những nghịch lý mà tôi quay về hướng nào cũng vấp phải. Và
chúng ta chắc chắn có thừa cớ để tranh luận các vấn đề mâu thuẫn nhau,
ngay cả khi đã tìm cách để giải quyết các vấn đề mâu thuẫn văn hoá một
cách ổn thoả, nhất là trong thời buổi cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận.

2
Lịch sử của nhân học ứng dụng
Về xem xét lịch sử của nhân học cho thấy rằng nhân học luôn tìm cách
chứng tỏ sự phù hợp của nó từ thủa sơ khai, kể cả khi nó bao gồm cả một
loạt các mong muốn không dễ gì giải quyết từ những nỗ lực ban đầu nhằm
thiết lập ngành dân tộc học cho đến những nỗ lực ngày nay (Sillitoe 2006b).
Lúc đầu, ngành học khởi phát như là một nỗ lực đào tạo các quan chức cai
trị thuộc địa phục vụ ở các vùng lãnh thổ nước ngoài, sau đó để cung cấp
cho những người được đào tạo “khả năng tiếp cận quan điểm của người bản
xứ” và trình bày vấn đề này cho các quan chức, các nhà làm chính sách để
đẩy mạnh việc cai trị tốt hơn. Môn học ngày nay tìm cách đóng góp không
chỉ cho công tác phát triển quốc tế mà cả các vấn đề thuộc công nghiệp, cai
trị, xã hội ngày càng rộng lớn hơn.
Sau khi chính phủ Mỹ thành lập Ban Dân tộc học năm 1879 (tập trung chủ

được đóng góp vào những công việc mà ở đó nó đóng vai trò quan trọng.Ví
như phát triển quốc tế, do có những sắp xếp thiên lệch chống lại ngành học.
Phản ứng là tránh từ ứng dụng đi với những liên tưởng không thú vị gì của
nó (Hội Nhân học Ứng dụng Mỹ là trường hợp ngoại lệ), và chỉ chấp nhận
các so sánh bằng nhân học “đơn thuần”. Một vài tổ chức mới ra đời với
những dòng chữ viết tắt (Grillo 1985: 2; Wright 2006), ví như ở Anh, tổ
chức GAPP (Group for Anthpology in Policy and Practice -Nhóm nhân học
chính sách và thực hành), và ở Mỹ, tổ chức NAPA (National Association for
the Practice of Anthropology - Hiệp hội Quốc gia về Thực hành Nhân học)
với các LPO (Local Practitional Organizations Tổ chức thực hành địa
phương) của nó. Kết quả còn tản mạn và tất cả các tổ chức ở Anh trở nên im
ắng; gần đây, Hiệp hội các nhà Nhân học Xã hội đã nhất trí là tổ chức chịu
trách nhiệm chung trong mạng lưới các nhà nhân học ứng dụng được thành
lập bởi một số người bên ngoài làng chuyên môn. Nó cho thấy những dấu
hiệu của việc thi đua phát triển các nỗ lực mở rộng của nhân học Mỹ bằng
cách tìm kiếm các khả năng ứng dụng ở nhiều lĩnh vực khác. Viện Nhân học
Hoàng gia không biểu lộ khuynh hướng là đại diện cho các nhà nhân học
ứng dụng mặc dù gần đây tổ chức này nhận Huân chương LUCYMAIR là
vinh dự của nó. Quan điểm này có thể thay đổi với những thách thức hiện tại
đối với ngành học nhằm chúng tỏ giá trị của nó.
Trong thời kỳ sau. Nhân học xã hội Anh ngày càng trở nên trùng lặp với xã
hội học trong công cuộc tìm kiếm sự phù hợp chuyên môn tới mức là hiện
nay khó có thể tách bạch giữa các công việc nhân học và xã hội học, trừ khi
xem xét trên nền tảng rằng những người thực hành nhân học có thể cảm tình
với sự so sánh giao văn hoá và có sự hiểu biết về các tác phẩm kinh điển về
địa dân tộc học không phải của phương Tây. Điều này làm nổi bật lên vấn đề
về định nghĩa ngành học làm cho ngày càng khó có thể phát biểu là nhân học
sẽ đưa ra cụ thế những cái gì (bản thân xã hội học là một cuộc vật lộn với
phê bình cánh tả để thuyết minh cho công tác ứng dụng của nó trong chính
sách xã hội, công việc cộng đồng, phúc lợi xã hội, v v). Phạm vi bao quát

Trong một tác phẩm gần đây về ứng dụng nhân học, Pink cũng nói rằng, ứng
dụng hay học thuật, là “khó để định nghĩa” và “mơ hồ và nghi hoặc”, và ghi
chú rằng các tác giả của các bài giới thiệu thường vòng vo quanh vấn đề này
bằng cách mô tả các nhà nhân học làm gì”, nhưng bà cũng tìm kiếm để tạo
ra tính hấp dẫn của vấn đề này bằng biện luận rằng “chúng ta không nên cốt
lõi hoá nhân học, có nhiều cách khác nhau một người có thể là/hoặc được
gọi là một nhà nhân học” (2006:10). Nhưng bà vẫn mong muốn định nghĩa,
như sự đối lập với “cốt lõi hoá”, nhân học như “một hình thức tiếp cận, một
hệ biến hoá hay một tập hợp các ý tưởng tạo thành sự hiểu biết của chúng
ta”, bao gồm một “cách xây dựng và phân tích một vấn đề, tạo ra và xem xét
một cách có phê phán “bằng chứng” và phản ánh trong ngữ cảnh văn hoá xã
hội rộng lớn”. Trong cố gắng chỉ ra nhân học khác các ngành khoa học khác
như thế nào trong việc giải quyết các vấn đề, bà trích Nolan, người biện luận
rằng các nhà nhân học “hiểu rằng văn hoá là chìa khoá giải quyết nhiều

5
khuôn mẫu mà chúng ta thấy và nhiếu vấn đề mà chúng ta cố gắng giải
quyết” (2003:119-20); Tiếp cận các vấn đề theo cách quy nạp; “là tổng thể
trong các phương pháp tiếp cận và triển vọng”; Nhận biết các mối quan hệ là
quan trọng, và “là tương tác”. Một nhà nhân học cũng tự minh chứng ‘học
để nói tiếng nói của tổ chức này (ông/bà ta làm việc cho), hiểu được các tầng
bậc quyền lực, và hệ thống văn hoá & xã hội” (Pink 2006:11), cho dù sự
hiểu biết của ông/bà ta khác như thế nào với những người khác làm việc
trong cùng một tổ chức là không rõ ràng.
Các tranh luận trong ngành này về vai trò và nghĩa vụ của các nhà nhân học
sản sinh ra cái gọi là công tác ứng dụng, dựa trên giả định là làm nhân học
hay là một nhà nhân học rõ ràng là những lĩnh vực hoạt động không hạn chế.
Những quan điểm này dựa trên một khái niệm chưa nhận thức được rằng
người ta có thể không hạn chế nhân học, như một thực tế, và như một nghề
(2006:119).

Bước vào nghề, người ta bảo với tôi rằng tôi là một người cổ lỗ khi tham gia
vào nghiên cứu vùng cao nguyên New Ginea liên quan đến việc trao đổi lợn
và vỏ trai khi những người nghiên cứu cùng thời đang chú trọng nghiên cứu
vùng nông thôn nước Anh hoặc các cộng đồng di cư vùng thành phố. Một số
người khác tập trung nghiên cứu vào hành vi của những ngưòi ham mê bóng
đá, nhân học mua bán, hội hè theo lứa tuổi, v v. Thời gian trôi qua, tôi tự
cảm thấy là mình càng bế tắc, cho tới gần đây tôi mới bắt đầu lờ mờ cảm
nhận là tôi đã xoay quanh một vấn đề “về căn bản” cho biết nhân học là gì.
Nó xác định vùng giáp ranh của một vùng văn hoá xã hội trước một thế giới
hoàn toàn khác với chính bản thân nó mang theo đặc tính tương đối về văn
hoá chưa được đánh giá. Nó liên quan đến việc tìm hiểu một ngôn ngữ hoàn
toàn khác với những cuộc tìm hiểu khó khăn về những tác động ngoại lai.
Nó cuối cùng cho thấy sự tin tưởng của một nhóm người mà chúng tôi cộng
tác chặt chẽ trong những chi tiết nghiên cứu công phu, sử dụng một phương
pháp khó thực hiện và mâu thuẫn về những quan sát phụ trợ, và bao quát
việc nghiên cứu cộng đồng ở tầm quy mô tổng thể. Trong khi tiêu điểm của
nhân học có thể mang tính dịa phương, chúng ta phải thừa nhận rằng ta phải
đặt nhân học trong một tầm bao quát rộng và tính đến tương tác phức hợp
giữa các lực lượng ở tầm vi mô và vĩ mô, bao gồm những vấn đề toàn cầu
(Knob: 1999 – 5 -7), Kết quả là dân tộc học, một từ khoá khác thường được
nhắc đến trong định nghĩa nhân học. Các ghi nhận về dân tộc học bao gồm
kiến thức đặc thù mà chúng ta thường đưa vào các thư viện, qua đó chúng ta
có thể rút ra điều gì đó trong bối cảnh ứng dụng. Bên cạnh việc sử dụng nó
trong các so sánh chéo văn hoá, mặc dù nó chịu tác động của những cuộc
tranh cãi không ngừng, nhằm mục đích tìm hiểu thêm về tính nhân loại. Vậy
ta nên áp dụng những chi tiết đó như thế nào?
NHÂN HỌC NHƯ MỘT ĐỐI TÁC LIÊN NGÀNH.
Tầm bao quát rộng của bộ môn thật nghịch lý, vừa là điểm mạnh, vừa là
điểm yếu trong bối cảnh ứng dụng, Với một vấn đề liên quan đến định
nghĩa, nó có thể là một nguồn tri thức hữu ích (Sillico: 2004). Các nhà nhận

các ngành học và sắp xếp lại tri thức, nếu làm đươc, có vẻ tỏ ra là có hại, vì
điều này có hàm ý rằng, như Grill đã quan sát, nhân học, ngành học mà biên
giới của nó rất mỏng manh và khó phân định, sẽ phải vật lộn để tồn tại trong
một vũ trụ trí thức chuyên ngành (2006, Tr. 19). Tôi nghĩ rằng nhân học sẽ
có nhiều cống hiến hơn và cống hiến đó không phải chỉ do chúng ta công bố,
mà là do các khoa học xã hội khác cũng đã nói đến rồi.
Dù có điều gì xảy ra nữa, chúng ta vẫn phải lập laị trật tự hoặc khoanh vùng
chuyên môn sự hiểu biết của chúng ta theo một cách nào đó. Tính mở của
nhân học trước các ngành chuyên môn đan chéo nhau sẽ cho phép người học
vận hành như điểm nối dòng giữa các luồng ý tưởng của các ngành học khác
nhau, bất kể chúng được định nghĩa như thế nào, người ta đã có những nhận
định rằng “các chuyên gia ở những chuyên ngành khác nhau phải nói chuyện

8
được nhau. Để vượt qua chủ nghĩa chuyên môn hẹp hòi, phải trợ giúp
nghiên cứu chuyên sâu trong một số lĩnh vực trong khi bỏ qua tâm lý vẽ bức
tranh tổng thể rộng lớn hơn. Đâu là một trong những lý do một số người đưa
ra để kích thích sự quan tâm của công chúng và làm thuyên giảm lòng tin
vào các chuyên gia – như ví dụ trong sự can thiệp nội ngành trong sinh sản
của loài người, lại bỏ qua các gen tốt và các bế tắc về dân tộc vì ta tự hiểu
rằng chưa có khả năng để lý giải, hay như trong sự phát hiện của các giống
biến gen, mặc dù đã đựơc hưởng thành quả khoa học sáng ngời, vẫn có thể
đe doạ môi trường tự nhiên theo những cách mà ta chưa nhận biết được
(Stone 2002: 611). Cho nên cần phải đặt những nghiên cứu như vậy trong
một bối cảnh rộng lớn hơn và đẩy mạnh việc tranh luận trong khi không bóp
méo vấn đề.
Nhưng chỉ nói rằng di sản liên ngành của nhân học đặt cho một nền tảng ứng
dụng của nhân học là chưa đủ. Chúng ta phải cải tiến cách thức làm việc để
thúc đẩy nó. Trong bối cảnh phát triển, như Rechard đã chỉ ra một thời gian
trước đây, các nhà nhân học bước vào các lĩnh vực mà họ không thể chỉ tự

các ngành học khác trong chừng mực nào đó, nhằm mục đích để người ta sẽ
xem xét chúng ta một cách nghiêm túc (Irvin, 2000: 26). Chúng ta có thể
mường tượng điều này như là việc thực hành quan sát vào các lĩnh vực
chuyên ngành khác, có nghĩa là tương tác với các nghề nghiệp khác trong
khi vẫn duy trì một mức độ riêng biệt. Ai đó được đào tạo về nhân học với
một kiến thức nền về y, luật, kiến trúc, lâm học, kinh tế học hoặc ở bất kỳ
một lĩnh vực nào đều có một vị thế vững chắc để áp dụng kiến thức nhân
học, được hiểu như là một kiến thức tổng thể bao gồm sự thúc đẩy trên một
bối cảnh chung theo nghĩa tương tác liên quan giữa các bối cảnh văn hoá, xã
hội và cộng tác liên ngành. Ngày càng có nhiều các nhà nhân học đồng ý và
dám chấp nhận sự thách thức của tính liên ngành đặc biệt trong các bối cảnh
ứng dụng nơi nhiều người đã có tiếng nói trong lĩnh vực chuyên ngành mình
được đào tạo. Đây là thời điểm để tận dụng các thành quả của thế hệ hiện
nay của các nhà nhân học liên ngành để so sánh những gì đạt được và thấy
đâu là điểm chung trong công hiến của họ, để nhận ra nhân học nói về cái gì
và người ta cẩm thấy nhân học là hữu ích và ứng dụng nhân học như thế nào.
CÁC NHÀ NHÂN HỌC KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO: AI LÀ
CHUYÊN GIA, AI KHÔNG PHẢI LÀ CHUYÊN GIA:
Trong một số gần đây của tạp chí nhân học ngày nay Mars đặt câu hỏi “tại
sao rất nhiều trong số các nhà nhân học ứng dụng lại thấy tốt hơn là nhận
mình có những chức vụ nghề nghiệp khác chứ không phải là nhà nhân học?
Tại sao nhân học ngày càng được nhìn nhận như một khoa học không phù
hợp?” và ông còn lưu ý “nhân học ứng dụng dường như xuất hiện khắp nơi
mà chẳng thấy ở đâu xuất hiện khoa nghiên cứu về nhân học. Và bạn phải
đào bới dưới bề mặt miêu tả của các nghề nghiệp xa lạ khác để thậm chí phát
hiện xem họ có phải là các nhà nhân học không” (2004: 4 tr.1) Tại hội thảo
của Hiệp hội các nhà nhân học xã hội ở Durham năm 2004 mọi người đã bàn
luận tương đối nhiều theo chủ đề tại sao các nhà nhân học dường như vô
hình trong khi họ thực sự làm việc với người khác. Những quan sát thường
rất không nhất quán bởi vì nó cho thấy rằng khi ta tham gia vào việc ứng

phát triển, hay cơ quan y tế mà một cử nhân về xã hội học, lịch sử, địa lý,
nghiên cứu văn hoá hay một ngành cùng nguồn gốc khác không mang đến
được (có nghĩa là những chủ đề có những vấn đề tương tự với nhân học,
không đào tạo chuyên môn mà là một sự giáo dục nghệ thuật tự do)? Bằng
cách đặt ra những câu hỏi như vậy mà chúng ta có thể nhận biết được những
ứng dụng của nhân học, điều mà chúng ta có thể xúc tiến một cách rộng rãi
hơn. Chúng ta không thể giả bộ là những chuyên gia trong tất cả các lĩnh
vực, bởi vì như Ervin quan sát, trong khi các nhà nhân học phải biết hết cả
mọi việc trong các kỹ năng thực hiện và nghiên cứu của họ, họ không thể
làm tất cả mọi việc” (2000: 219). Điều mong muốn trong sự phát triển là họ
phải có cái gì đó có giá trị và duy nhất để đóng góp vào những cố gắng giảm
đói nghèo cùng với các chuyên gia các ngành khác khác như các nhà kinh tế
học, nông học, y tế hay kỹ sư. Nó liên quan đến sự hình thành nhận thức

11
nghế nghiệp nợ lâu đối với nhân học, mở rộng vượt qua biên giới của giới
học viện để các nhà thực hành chiến đấu với các vấn đề ‘thế giới thực tại”
(Sillitoe 2003a).
Sự thách thức, như Scudder bình luận trong đánh giá lạc quan của ông, là
phải làm nổi bật được điều mà các nhà nhân học tin tưởng là những vấn đề
then chốt mà chúng ta có đủ chuyên môn và trách nhiệm để đề cập
(1999:359). Chúng ta có một phạm vi kinh nghiệm rộng rãi để rà soát là có
có nhiều cách thức làm nghiên cứu đa dạng trong một chuyên ngành có
phạm vi rộng như nhân học, mặc dù có thể có phương pháp này phù hợp
thực tế hơn phương pháp kia. Chúng ta ở địa vị rất độc đáo tăng cường sự
hiểu biết về nghèo đói, như Scudder đã lưu ý, nghèo đói là “một vấn đề” tôi
tin các nhà nhân học có hiểu biết nhiều hơn về nó so với các học giả và các
nhà thực hành khác” (1999: 355). Ông cũng lập luận rằng chúng ta đóng một
vai trò độc đáo trong xây dựng nhận thức chung về các vấn đề toàn cầu hiện
nay mặc dù chúng ta cần phải năng động hơn, tích cực hơn trong việc làm

người tìm cách làm phá hỏng khái niệm chuyên gia, những người can thiệp ở
những nơi khác để tư vấn cho phát triển. làm sao một ngành học được cho là
đi vào quan điểm và cuộc sống của người dân thường lại cứ phải bám lấy
kiến thức chuyên gia, thậm chí kiến thức đó chỉ đơn giản là kiến thức mà
người dân thường coi là kiến thức hàng ngày? Đây là điều ngược lại của
kiến thức chuyên gia, làm nền tảng cho việc ứng dụng kiến thức chuyên gia
mang tính tầng bậc, làm nên đặc điểmêax hội và công nghệ phương Tây.
Nhân học đã từ lâu đặt câu hỏi cho vị thế của những người tự nhận là biết
nhiều hơn người dân thường, thay mặt họ ra quyết định và bỏ qua nhiều khía
cạnh cuộc sống của họ (Corchane 1971: 65-79). Sự ồn ào này đặt chúng ta
vào tình trạng khó xử khi chúng ta nói về ứng dụng nhân học. Chúng ta
thường thách thức các nhận định của các chuyên gia, thạm chí thách thức cả
tính giá trị của ý tưởng chuyên gia. Vậy tại sao chúng ta lại cứ cố trở thành
chuyên gia, khi là chuyên gia rõ ràng là hỏng các đích đến của chính ngành
học chúng ta?
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NHÂN HỌC
Có hai cách trong đó người ta có thể diễn giải ý tưởng về ứng dụng nhân
học một cách rộng rãi. Nó có thể là sử dụng tri thức mà các nhà NH đã lượm
lặt được thông qua điều tra điền dã và đã hệ thống hoá theo nhiều cachs khác
nhau bằng cách sử dụng lý thuyết của thời đó, và khám phá ra ứng dụng của
nó. Hoặc nó có thể bao gồm việc áp dụng các phương pháp NH (Barnard
2001; Pole 2004, Schénul & LeComte 1999) để giải quyết các vấn đề đương
đại. Khi họ nói về ứng dụng NH, nhiều người có thể có ý nghĩ về sử dụng
phương pháp của nó, biện luận rằng chúng sản sinh các suy nghĩ chiều sâu
cụ thể mà không thể thu được bằng các cách khác, bởi vì ngành này có một
cách khac biệt trong nhìn nhận các vấn đề. Những phương pháp này, tập
trung vào “làm dân tộc học” và đề cao sự quan sát của người tham gia như là
chiến lược hạt nhân (phân biệt với các phương pháp nghiên cứu xã hội học
khác), không trực tiếp được sử dụng vào ngữ cảnh ứng dụng. Cách làm việc
này đặc biệt khó khăn cho việc xác định (tức là để nói với những người khác

dụng chúng, dẫn tới sự đe doạ làm tầm thường hoá chúng (Cooke & Kothari
2001; Estrella 2000; Mosse 2005; Wright & Nelson 1995).
Các phương pháp bao gộp này đã được có thiện cảm hơn vì người ta có thể
miêu tả chúng giống như các công thức nấu nướng và chúng có thể được sử
dụng nhanh và nhằm tới những vấn đề cụ thể. Nhưng các nhà nhân học lại
không cảm thấy thoải mái với nhũng nghiên cứu ngắn tập trung vào một số
vấn đề đơn lẻ. Sự bóp méo tổng thể có thể dẫn tới, như chúng ta đã biết, việc
xem nhẹ các thông tin cơ bản mà người ngoài không rõ lắm.
Một số vấn đề khác nữa với “phương pháp bao gộp” mà không được đề cập
đến trong các cuốn sổ tay ví như sự xem nhẹ các quyền lợi khác biệt của các
nhóm dân số khác nhau, thiên vị tầng lớp trên ở nông thôn, áp đặt những
công việc cụ thể cho các cộng đồng, gọt giũa sự tham gia và đưa ra các nhận
định sai, dựa trên những cách làm xa lạ, như vẽ bản đồ/đồ thị hoặc tập trung

14
vào các cuộc thảo luận nhóm có thể bóp méo các quan điểm của người địa
phương.
Các phương pháp nhân học đòi hỏi phải có thời gian (tôi vẫn phải đánh vật
sau 25 năm để xử lý và hiểu được các dữ liệu địa nhân học mà tôi đã thu
được ở New Ghine. Điều này không riêng gì trong nhân học, vì nghiên cứu
trong các chuyên ngành khác cũng đòi hỏi thời gian đáng kể. Nhưng công
tác ứng dụng “thường, chứ không phải là luôn (vd. Desta & Coppock 2004:
465) đòi hỏi câu trả lời trong khung thời gian ngắn” (Grillo 1985: 22). Nếu
chúng ta chuẩn bị thành lập môn nhân học ứng dụng như một ngành học
thông thường, chúng ta phải đẩy mạnh các phương pháp làm việc vượt lên
yếu tố đòi hỏi thời gian quan sát. Nhưng đây là một chỗ hóc khác: liệu nhân
học có thể hoạt động theo những cách thức như thế hay là các cách thức này
sẽ làm rơi rụng, làm hỏng các phương pháp về địa nhân học? Nếu nghiên
cứu dài hạn là yếu tố trung tâm để đạt tới một cách hiểu rằng nhân học có
thể tuyên bố chỉ thuộc về nhân học thì phải chăng như vậy tham vọng của

triển, và trong khi khó mà có thể không tán thành trong tình trạng nghèo đói
hiện nay của thế giới, những công trình như thế có thể dễ dàng trở thành một
sự can thiệp theo hướng dân tộc là trung tâm. Về mặt nào đó, khi nghĩ rằng
người ta cần sự giúp đỡ thì tự nó là một sự ngạo mạn, nhiều người chấp nhận
cái hấp dẫn họ: chứng kiến sự xuất hiện trên phạm vi toàn cầu của các công
cụ được cơ khí hóa, thực phẩm chế biến, quần áo sản xuất hàng loạt, xe cần
cẩu, vũ khí siêu hạng và hàng điện tử. Đã sẵn có một truyền thống lâu dài về
tìm kiếm cách thức ứng dụng nhân học cho phát triển được nhận thức theo
phương pháp như vậy, từ các đề xuất của các nhân viên dân số thế kỷ 19 qua
mãi đến thế kỷ 20 (Silloco: 2006b) chủ yếu tìm cách tư vấn về các ứng dụng
xã hội của sự can thiệp. Nhân học ứng dụng theo kiểu này tập trung vào các
định chế cơ quan và đã thu được các mức độ thành công khác nhau nhằm
gây ảnh hưởng cho các nhà hành chính và các nhà chính sách phát triển
(Keen 1999: 37) Nó giúp thông báo về sự phát triển xã hội ngày nay, sự phát
triển có một số lượng sách vở tương đối (Conlin 1985; Nolan 2002; 2003;
ODA 1993) cũng như có một khối lượng sách vở về những cách tiếp cận
trước đây (Mair 1969; 1984) trong khi rất khó để có thể tìm hiểu việc ý thức
của chúng ta có thể đóng góp trực tiếp cho các chương trình kỹ thuật vừa đề
ra để cải thiện đời sống của nhân dân theo phương thức như thế nào (giống
như chương trình cơ khí hoá các công trình thuỷ lợi, kiểm soát các luồng
dịch bệnh, hoặc cải tiến các hệ thống thông tin nhằm thúc đẩy sự tiếp cận thi
trường). Đóng góp của chúng ta có thể giúp làm rõ về các vấn đề địa phương
có thể tác động đến các vấn đề này (ví như sự sắp xếp canh tác ruộng đất gây
ảnh hưởng đến việc quản lý các kênh thuỷ lợi hay việc sắp xếp hôn nhân tác
động đến sự lây lan dịch bệnh, hay các giá trị làm cho người ta xa lánh các
cơ hội tìm kiếm lợi nhuận).
Một ngành nhân học ứng dụng như vậy, như thấy rất rõ trong công việc áp
dụng “tri thức bản địa”, giúp cung cấp thông tin cho các nhà chuyên môn về
các cộng đồng địa phương và nhờ vậy những can thiệp nhằm phát triển sẽ
phù hợp hơn với bối cảnh văn hoá và thúc đẩy triển khai (Rao & Walton

phương để làm điều đó. Và như vậy chúng ta xem xét không phải việc kiến
thức của người ngoài sẽ mang lại cái gì mà là kiến thức của người bên trong
có thể gợi ra cái gì để thúc đẩy sự thay đổi trước khi tác động từ bên ngoài.
Và ở đây chúng ta vấp phải những vấn đề xa hơn nữa, những vấn đề thuộc
loại có thể gợi ý cho nhà nhân học nghiền ngẫm thêm những ý tưởng về ứng
dụng nhân học trong bất kỳ bối cảnh nào. Chúng ta vấp phải một định đề
không lấy gì làm thú vị lắm nhân học ứng dụng sử dụng tri thức của người
dân để đẩy mạnh phát triển khi ta xem xét nền văn hoá của họ đã quá phát
triển theo cách thức riêng của nó. Trên thực tế chúng ta vấp phải hai lần ngõ
cụt bởi vì nếu tri thức này có tiềm lực phát triển thì chắc chắn họ sẽ phát
hiện ra điều đó. Chính là người bản địa mới là người quyết định khía cạnh
nào trong di sản của họ sẽ đóng vai trò chính trước bất kỳ một sự can thiệp

17
nào hay sẽ được phát triển bởi và cho chính bản thân nó. Mâu thuẫn này đã
từ lâu làm đau đầu các nhà nhân học ứng dụng, những người thấy mình được
“rảnh tay” đối trọng với những người “hoà đồng vào cuộc sống người khác”,
tạo ra hai lần ngõ cụt khó có thể giải quyết được.(Foster 1969: 39).
Thời buổi này không còn dẽ dàng – mà trước đây cũng chưa bao giờ dễ dàng
- để chúng ta trình bày lối sống và đức tin của người khác. Phần lớn các
nhóm dân cư có khả năng tự trình bày bản thân họ. Trong khi vấn đề vẫn còn
là tranh luận rằng một kẻ ngoại lai được đào tạo về nhân học có thể thấy rõ
mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau và ý nghĩa của hệ thống văn hoá xã hội
trong đó người bản địa không có khả năng ý thức về nó, chúng ta phải hết
sức thận trọng khi đưa ra lời khẳng định này vì một khẳng định như thế có ý
rằng người bên ngoài biết nhiều hơn người bên trong về hành vi, giá trị và
mong muốn của họ. khẳng định này đưa ra những đe doạ cụ thể trong những
bối cảnh ứng dụng đặc biệt khi cái ý đó bị lộ rõ trong hành động. Điều này
đưa chúng ta quay trở lại với những vấn đề về phương pháp. Chúng ta càng
cần phải nâng cao phương pháp nhằm dẫn dắt người ta tham gia một cách có

cùng tham gia và thực hiện công việc hành chính (giữ các vị trí hành chính,
tư vấn về các vấn đề chính sách, quản lý chương trình và lịch trình phát
triển).
TRUYỀN PHÁT GIAO VĂN HOÁ
Một khả năng khác có lẽ cũng gần như sự ứng dụng trực tiếp tri thức nhân
học là nghiên cứu ý tưởng và việc làm của con người ở nơi này lại phù hợp
với nơi khác như thế nào. Cái này là dựa vào cách tiếp cận so sánh giao văn
hoá của nhân học bằng một phương thức mới. Sự phát triển dường như là
chưa bao giờ bắt đầu bằng sự sử dụng nguồn dữ liệu nhân học trong những
khả năng ứnga dụng như vậy. Một số tổ chức phi chính phủ, ví dụ như tổ
chức Hành động Thưc tiễn đã có một số động thái theo hướng này và đã thu
một số kết quả từ dữ liệu nhân học. Về một mặt nào đó thì đây là một
phương thức mở rộng, hay là một cách khác để nhìn vào sự phát triển.
Chúng ta cần phải bàn cãi về các khác biệt văn hoá đã làm hạn chế các ứng
dụng thực tiễn được lấy từ nơi khác đến bằng những phương pháp đa dạng
khó đoán trước. Đây là một quan điểm mà sáng kiến về “tri thức bản xứ”
thường được nhắc đến trong việc nhấn mạnh tầm quan trọng của một bối
cảnh văn hoá rộng lớn hơn. Cũng còn có vấn đề về ta phải chọn cái gì để
trình bày cho hợp lý trong những ý tưởng và việc làm của cộng đồng này áp
dụng cho cộng đồng khác. Nếu không có sự tham gia của những người nắm
kiến thức gốc về vấn đề điều này có thể dẫn tới việc sử dụng nhầm di sản
văn hoá - điều sẽ được bàn luận thêm dưới đây – và đây còn là một lý do để
đẩy mạnh các phương pháp nghiên cứu bao gồm tất cả các bên tham gia (kể
cả thậm chí việc xác định những người có tri thức về địa phương cũng có vẻ
khó khăn trong bối cảnh khác biệt và đa dạng về tri thức của kỷ nguyên “liên
địa phương” ngày nay).
Ở đây có một số vấn đề thách thức. Phương pháp ứng dụng nhân học giúp
chúng ta có cơ hội để sử dụng hồ sơ về địa nhân học mở rộng sẵn có; chúng
ta có những kỹ năng chuyên môn để khai thác về vấn đề này. Rất nhiều tri
thức thậm chí có một số tri thức bị lãng quyên bởi chính những người đề ra

cách sinh lời, ví như tìm ra một loại cây mà có thể cứu được bệnh ung thư
“mặc dù mong muốn này bây giờ đã trở nên lỗi thời” (Greene 2004: 211).
Các nhà nhân học cảm thấy khó chịu với những tìm tòi nhằm hướng tới mục
đích vụ lợi từ các di sản văn hoá của người khác. Điều này dẫn tới một lĩnh
vực pháp lý gây nhiều tranh cãi về quyền sở hữu trí tuệ do mọi người đều cố
sức để tự vệ và tìm kiếm sự công bằng trong sử dụng tri thức của họ
(Dutfield 1999; 2003; Posey 2000). Những cách khai thác tri thức như vậy
đã khiến một sô cộng đồng trên một vài bộ phận của thế giới cảm thấy ngán
ngẩm thậm chí thù địch với các nghiên cứu tìm hiểu cuộc sống của họ; Một
số nhóm người ở vùng Amazon ngày nay khám xét các nhà nghiên cứu rất
kỹ lưỡng hoặc thậm chí cấm họ hoàn toàn. Trong khi có nhiều cuộc thảo
luận quốc tế về các cách thức hợp pháp nhằm bảo vệ quyền lợi con người và

20
ngăn chặn việc xâm phạm về sinh học ví như TRIPs (Trade-Related Aspect
in Intellectual Property Rights - Các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên
quan đến thương mại) mỗi trường hợp đều có những đặc điểm riêng biệt về
mặt lịch sử, văn hoá và môi trường mà không luật pháp nào có thể bao quát
hết được. Các nhà nhân học ở đây có thể có vai trò như những cố vấn thậm
chí là như những người đề xướng đối với một số cộng đồng đích, các cơ
quan ngoài, các công ty tìm cách khai thác tri thức và tài nguyên cho mục
đích thương mại (Ervin 2000: 121-40; Grillo 1985: 25; Hastrup & Elass
1990; Van Willigen 1986: 111 – 25). Điều này đòi hỏi sự hiểu biết rõ các
cộng đồng địa phương và các quy định chung trong luật thương mại thế giới
và chính sách chính trị có liên quan và thêm nữa đòi hỏi sự mở rộng kiến
thức chuyên môn về bối cảnh văn hoá xã hội của nhà nhân học. Bằng chứng
đã có cho việc này bao gồm sự trợ giúp của các nhà nhân học đối với những
người đang tìm cách thiết lập quyền về đất đai (Layton 1985; William 1986).
HỖ TRỢ SỰ PHÁT TRIỂN ĐA DẠNG
Sự khai thác thương mại mang tính bất công tri thức của người khác đã dẫn

nghèo đáng sợ, nạn chết đói và bệnh tật mà nhiều người phải gánh chịu.
Những nỗ lực nhằm giảm nhẹ sự nhọc nhằn tuy vậy vẫn có thể dễ dàng trở
thành sự can thiệp mà người ta không mong muốn như đã nói và điều này
làm cho nhiều nhà nhân học cảm thấy khó chịu và khiến họ đi đến lập luận
rằng các nỗ lực nhằm ứng dụng nhân học đã bị định hướng sai.
Vậy các nhà nhân học cần phải đóng vai trò gì để giúp người ta có thể nhìn
thấy viễn cảnh tương lai? Họ phải tìm cách để thách thức các nhà cầm quyền
và thuyết phục các nhà cầm quyền rằng việc tạo cơ hội thêm cho các cộng
đồng địa phương là có lợi và giúp họ khai thác tri thức và giá trị của mình,
và tự quyết định số phận của mình. Điều vẫn còn tranh luận là các phương
pháp bao gộp tự thân chúng chưa đủ trước lực lượng chính trị và cơ cấu thể
chế ngăn người dân địa phương không nói lên tiếng nói của họ. Trong khi
một số nhà nhân học có thể làm việc ở cấp độ cộng đồng, cố gắng nói lên
tiếng nói của địa phương, một số nhà nhân học khác lại hướng mạnh vào tầm
quốc tế, tìm cách vận động hành lang những chính khách và gây ảnh hướng
tới các nhà ra chính sách. Việc ứng dụng nhân học trở thành việc nhúng tay
vào chính trị. Thật là không phù hợp nếu đặt câu hỏi, như người duyệt bài
báo này đã đặt ra là nhà nhân học bằng cách nào có thể có được tiềm lực trên
cơ sở là một vấn đề căn bản trong ứng dụng nhân học là vấn đề kẻ có quyền
lực quy định cái gì là tri thức. Thay vì lựa chọn nghề chính trị chúng ta tìm
cách sử dụng sự tác động ảnh hưởng để dẫn tới địa vị về tri thức trong xã hội
để tranh luận về các quan điểm khác.
Đường ranh giới giữa tư vấn/vận động hành lang và hoạt động chính trị nhân
danh người khác là một đường phân ranh kinh tế mà chúng ta cần phải xem
xét cẩn thận hàm ý đạo đức của hành động của chúng ta nếu chúng ta tin
rằng nhân dân là người hoàn toàn có quyền tự đại diện cho quyền lợi của họ
và tự ra quyết định (ví dụ các tổ chức của nhân dân bản địa 1999). Họ có thể
không cần bất kỳ một sự giúp đỡ nào từ bên ngoài, bất kể sự giúp đỡ đó có
thiện ý đến đâu. Một số tổ chức phi chính phủ nhìn nhận sự phát triển như là
một hình thức trá hình cho các mục tiêu tự do mới nhằm duy trì các quan hệ

và kỹ năng của chúng ta để giải quyết vấn đề gì và như thế nào. Chúng ta
ngày càng buộc phải giáp mặt với các vấn đề thực tiễn như vậy, với nhiều
sinh viên sau đại học chưa tìm được các địa vị về học thuật và các nhà chính
trị thúc giục các trường đại học phải chứng minh được tính hợp lý của các
vấn đề này. Những áp lực này làm cho vấn đề ngày càng khó trong tranh
luận học thuật nếu không có các liên hệ về thực tiễn, điều này không có
nghĩa là chúng tôi muốn gợi ý các cuộc tranh luận về học thuật là không cần
thiết.
Nghiên cứu học thuật thường là một tiền đề cho việc đẩy mạnh công tác ứng
dụng. Tất cả chúng ta đều phải duy trì một sự thành thục nhất định với các
vấn đề học thuật hiện tại và điều này hướng tới nhu cầu phải có một cấu trúc
chuyên môn gắn liền học thuật với những người làm việc ngoài nhà trưòng,

23
ngoài viện nghiên cứu. Sự phân biệt đơn thuần giữa lý thuyết và thực tiễn là
một điều vô bổ (Sillitoe 2006b: 10-11) và bóp méo sự năng động của nhân
học với tư cách là một ngành học, một nghề và một chuyên môn. Cả hai lĩnh
vực đều cần đến và đóng góp cho lý thuyết và phương pháp. Điều này là
hiển nhiên trong công tác ứng dụng hiện tại đang làm thúc đẩy sự hiểu biết
về nhân học trong những vấn đề cốt lõi của thế giới thực tại, thường là trong
bối cảnh liên nghành. Đây là một thời đại thật quá hấp dẫn cho chuyên
ngành này với một tương lai đóng góp cho việc xác định tính chuyên ngành
từ hiểu biết về tính xuyên ngành của kỷ nguyên này. Ở đây tôi muốn nói
những đóng góp về mức sống bền vững cũng như về các vấn đề về rủi ro và
thương tổn do rủi ro.
Chúng ta đã thấy chưa, những có hội chưa bao giờ có trước đây cho công tác
ứng dụng? Có lẽ, nếu chúng ta có thể nhất trí về việc ứng dụng nhân học một
cách có hiệu quả như thế nào - một đề xuất không dễ dàng gì với nhiều
người - kể cả chính bản thân tôi khi phải đề cập. Chúng ta có thể vấp phải
nhiều thách thức trong quyết định ngành học này có thể đóng góp cái gì cho

viên của nhóm, đây là đặc điểm của công tác ứng dụng.
6. Ngoài các quan sát đi kèm, các nhà nhân học cũng là những nhà phỏng
vấn có năng lực, biết lắng nghe hơn và hỏi ít hơn những câu hỏi hướng dẫn;
họ cũng rất thành thạo trong việc phân tích số liệu định tính thu được.
7 Xem Sillitoe (2006a: S124-6) trong bài báo kèm theo bài báo này để bàn
thêm về các số liệu khảo cứu về đất đai và nghề cá ở Bangladesh để minh
hoạ thêm các luận điểm này.
8. Xem Sillitoe (2006a: S127-9) để bàn về nông thôn châu Phi và duy trì đa
dạng sinh thái minh hoạ cho cách tiếp cận này.
9. Xem Sillitoe (2006a: S130-2) để bàn về các thực hành canh tác của
những người canh nông rừng nhiệt đới ở Thái bình dương, Nam Mỹ, và châu
Phi để có được tài liệu tham khảo tương ứng.
10. html://www.practicalaction.org
11. Xem Sillitoe (2006a: S133-5) để xem các ví dụ điền dã, bao gồm cây
hoodia của vùng Kalahari, mà các mảnh cắt lát của nó người Khomani dùng
làm thức ăn cứu đói và mới gần đây mới được phát hiện một công ty dược
sử dụng nó để sản xuất một loại thuốc chữa bệnh béo phì (Wynberg: 2004).
12. Xem Sillitoe (2006a: S136-7) để có một vài ví dụ điền dã về tính tích
cực bản địa tại các cuộc họp thượng đỉnh phát triển quốc tế (xem Sillitoe &
Bicker: 2004) 25


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status