Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại VN – Vài nét về thực trạng & Giải pháp - Pdf 12

Lời nói đầu
Trong những năm gần đây, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đầu t trực
tiếp nớc ngoài (FDI) tại Việt Nam có chiều hớng suy giảm. Có quan điểm cho
rằng do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính của các nớc ở khu vực châu
á-đối tác chủ yếu trong quan hệ hợp tác đầu t với Việt Nam. Song cũng co
quan điểm cho rằng do tác động của môi trờng đầu t nớc ngoài tại Việt Nam
thiếu đợc cải thiện, do hệ thống pháp luật về đầu t trực tiếp kém minh bạch
cùng với thủ tục hành chính rờm rà, tệ quan liêu, tham nhũng của các cán bộ
thi hành.
Để góp phần đánh giá một cách đúng đắn, khách quan thực trạng đầu t
trực tiếp nớc ngoài tại Việt Nam, rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết
làm cơ sở cho một số giải pháp về đầu t trực tiếp nớc ngoài, chúng tôi chọn đề
tài Đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Việt Nam-Vài nét về thực trạng và giải
pháp làm đề tài tốt nghiệp
1. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tợng:
- Tình hình đầu t và triển khai các dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài ở
Việt Nam.
- Một số kết quả đạt đợc của đầu t trực tiếp nớc ngoài và những vớng
mắc chủ yếu trong quá trình triển khai các dự án đầu t trực tiếp nớc
ngoài.
Phạm vi:
Nghiên cứu một số nét cơ bản về môi trờng đầu t, vai trò cơ bản của đầu
t trực tiếp nớc ngoài và thực trạng đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Việt Nam.
2. Mục đích và ý nghĩa:
1
Thông qua việc phân tích một số nét cơ bản về thực trạng đầu t trực tiếp
nớc ngoài tại Việt Nam để đa ra một số giải pháp nhằm góp phần cải thiện môi
trờng đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Việt Nam.
3. Phơng pháp nghiên cứu:
Sử dụng phơng pháp phân tích tổng hợp, đối chiếu so sánh, mô tả khái

thức đầu t khác không thành lập ra xí nghiệp hay cơ sở sản xuất (nh cho vay
tiền của ngân hàng, tài trợ cho chơng trình hay cho dự án ). Đây chính là
điểm hạn chế của khái niệm này so với yêu cầu hợp tác kinh tế trong thời đại
hiện nay.
Khái niệm về đầu t nớc ngoài đợc các nớc hiểu và vận dụng khác nhau.
Tại các nớc t bản phát triển, đầu t nớc ngoài là việc giao vật có giá trị kinh tế
của nớc này sang nớc khác nhằm thu đuợc lợi nhuận, bao gồm cả quyền cầm
cố và quyền thu hoa lợi, quyền tham gia các hội cổ phần,quyền đối với nhãn
hiệu thơng phẩm và tên xí nghiệp. Nh vậy, quan niệm về đầu t nớc ngoài ở đây
3
rất rộng rãi, chỉ là quá trình chuyển tiền vốn từ nớc này sang nớc khác với mục
đích thu lợi nhuận, theo nguyên tắc lợi nhuận thu đợc phải cao hơn lợi nhuận
thu đợc trong nớc và cao hơn lãi suất gửi ngân hàng, nếu kinh tế của các nớc t
bản phát triển là tơng đối ổn định, thị trờng đã đợc khai thác tối đa và có hiện
tợng tơng đối thừa t bản, do đó việc đầu t ra nớc ngoài là cực kỳ cần thiết để lợi
dụng nhân công rẻ, nguồn nguyên liệu dồi dào và chiếm lĩnh thị trờng xuất
nhập khẩu. Do đó quan niệm rộng rãi về đầu t nớc ngoài tồn tại nh một tất yếu.
Các nớc đang phát triển lại sử dụng khái niệm đầu t nớc ngoài với nội
dung là đầu t trực tiếp nh việc đa bất động sản, vốn, thiết bị vào xây dựng, mở
rộng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Nh vậy, đầu t nớc ngoài tại các nớc đang
phát triển chỉ đợc công nhận dới hình thức đầu t trực tiếp, loại trừ hình thức
đầu t gián tiếp. Bởi vì đầu t trực tiếp đem lại nguồn vốn, kỹ thuật hiện đại thay
thế cho kỹ thuật lạc hậu hiện có, tạo công ăn việc làm cho lực lợng lao động,
nâng cao mức sống, tăng tích luỹ thu nhập quốc dân. Còn đầu t gián tiếp cũng
đa vốn vào, nhng không có kế hoạch sử dụng vốn, cùng với khả năng quản lý
non kém và trình độ sản xuất kinh doanh lạc hậu của các nớc đang phát triển
đã không đủ khả năng sử dụng vốn vay có hiệu quả, dẫn đến tình trạng không
trả đợc nợ. Với lý do đó, việc tăng cờng sử dụng hình thức đầu t trực tiếp là
phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của các nớc đang phát triển. Chính sách
này đã và đang là hình thức phổ biến trong chính sách mở cửa nền kinh tế

luật đầu t nớc ngoài.
Nh trên đã nói, định nghĩa đầu t nớc ngoài còn đợc nêu ra tại các hiệp
định khuyến khích và bảo hộ đầu t (song phơng, đa phơng) giữa các quốc gia.
Ví dụ : Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Cộng hoà ả Rập về khuyến
khích và bảo hộ đầu t đã đa ra định nghĩa về đầu t nớc ngoài nh sau : Thuật ngữ
đầu t nghĩa là bất kỳ loại tài sản nào đợc đầu t bởi nhà đầu t của một bên ký
5
trên lãnh thổ của bên ký kết kia phù hợp với luật và quy định của bên ký kết
đó.
Với tính chất chung nh trên, thuật ngữ đầu t bao gồm, cụ thể, nhng
không chỉ là :
(a) Động sản, bất động sản và các quyền sở hữu tài sản khác nh quyền
thế chấp, cầm cố, thế nợ, quyền và nghĩa vụ đối với các khoản vay và
cho vay các quyền tơng tự ;
(b) Phần góp vốn, vốn và phiếu ghi nợ của các công ty và bất kỳ hình
thức tham gia và công ty hoặc bất kỳ doanh nghiệp nào khác ;
(c) Quyền đối với một khoản tiền hay quyền đối với bất kỳ hoạt động
nào có giá trị kinh tế liên quan đến đầu t ;
(d) Quyền sở hữu trí tuệ và công nghiệp nh quyền tác giả, nhãn hiệu th-
ơng mại, bằng phát sáng chế,kiểu dáng công nnghiệp, quy trình kỹ
thuật, bí quyết kỹ thuật, bí mật thơng mại, tên thơng mại và uy tín
kinh doanh;
(e) Bất kỳ quyền nào theo hoặc theo hợp đồng liên quan đến đầu t và bất
kỳ giấy phép và sự cho phép nào phù hợp với pháp luật,bao gồm tô
nhợng về thăm dò, nuôi trồng,tinh chế hoặc khai thác tài nguyên
thiên nhiên.
Các nớc Brunei, Indonesia, Philipin, Singapore, Thai lan đều thống nhất
về khái niệm đầu t mà các nớc hay công ty của một nớc thành viên ASEAN
đóng góp vào công trình khác nhau trên lãnh thổ của nớc ASEAN khác trong
Hiệp định hợp tác đầu t các nớc ASEAN ngày 15/2/1987 nh sau : Thuật ngữ

vốn t nhân. Đầu t gián tiếp còn đợc thực hiện thông qua việc mua các chứng
khoán có giá trị nh trái phiếu, cổ phiếu để nhận lợi tức.
Nh đã trình bày ở trên, mỗi hình thức đầu t trực tiếp và đầu t gián tiếp
đều có vai trò và tầm quan trọng riêng đối với nền kinh tế của nớc sử dụng đầu
t. Đối với đầu t gián tiếp, ngời cho vay chỉ biết lấy lại vốn và thu lãi trong khi
đầu t trực tiếp là trực tiếp cùng chịu trách nhiệm, không chỉ quan tâm tới thu
lãi phần trăm vay vốn mà còn phải đầu t trí tuệ để tìm ra lợi nhuận chung. Các
ngân hàng khi cho vay vốn cũnh đòi hỏi phải có dự ánđể xem xét bảo đảm khả
năng trả nợ nhng đó không phải là dự án đầu t trực tiếp.
Giữa đầu t trực tiếp và đầu t gián tiếp có mối liên hệ nhất định. Đầu t
gián tiếp cung cấp vốn cho nớc chủ nhà thực hiện những công trình đòi hỏi vốn
lớn nh xây dựng cơ sở hạ tầng mà t nhân không có điều kiện đầu t, qua đó tạo
môi trờng thuận lợi hơn, thúc đẩy đầu t trực tiếp.
Khái niệm về đầu t nớc ngoài trong pháp luật Viêt Nam:
Theo Điều lệ đầu t năm 1977, ban hành kèm theo Nghị định 115/CP
ngày 18/04/1977 thì khái niệm đầu t nớc ngoài ở Việt Nam đợc hiểu là việc
đa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn sau đây nhằm xây dựng
những cở sở mới hoặc đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, mở rộng các cơ sở hiện
có:
- Các loại thiết bị, máy móc, dụng cụ.
- Các quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phát minh phơng
pháp cộng nghệ, bí quyết kỹ thuật.
- Vốn bằng ngoại tệ hoặc vật t có giá trị ngoại tệ.
- Vốn bằng ngoại tệ để chi trả lơng cho nhân viên và công nhân làm
việc tại các cơ sở hoặc tiến hành những dịch vụ theo quy định ở
những điều của Điều lệ này (Điều 2 Điều lệ đầu t 1977)
8
Nh vậy, theo Điều lệ này thì đầu t nớc ngoài ở Việt Nam không phải là
sự vận động của bất cứ vốn (t bản) nào từ nớc ngoài vào Việt Nam với mục
đích thành lập một xí nghiệp sản xuất hay dịch vụ nh khái niệm mà Hiệp hội

kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ công nghệ Quy định này của luật n ớc
ta nhằm mục đích tranh thủ đợc vốn, kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm và phơng
pháp quản lý tiên tiến, đào tạo đội ngũ công nhân có kỹ thuật cao, đội ngũ
quản lý giỏi ; thay đổi cán cân kinh tế đối ngoại, góp phần nâng cao đời sống
nhân dân, hoà nhập với cộng đồng thế giới.
Hoạt động đầu t trực tiếp ở một số nớc thờng dẫn đến việc thành lạp ở n-
ớc nhận đầu t một cơ sở sản xuất hay một xí nghiệp nào đó. Nhng theo luật đầu
t của Việt Nam thì không nhất thiết phải lập nên một pháp nhân mới mà có thể
hoạt động hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh, hay hợp
đồng xây dựng- kinh doanh chuyển giao(BOT) và các hợp đồng tơng tự.
Khái niệm về đầu t nớc ngoài theo luật đầu t nớc ngoài năm 1987 sau đó
là luật năm 1996 đã phát triển hơn nhiều so với phạm vi nội dung khái niệm
đầu t nớc ngoài đợc quy định ở điều lệ đầu t 1977 khi cho phép các nhà đầu t
nớc ngoài đợc đầu t trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân(Điều 3 luật
đầu t nớc ngoài 1987, 1996).
Nh vậy so với Luật đầu t nớc ngoài của UCRAINA, mà trong đó định
nghĩa đầu t nớc ngoài bao gồm tất cả các loại giá trị, thuật ngữ tài sản
trong luật đầu t nớc ngoài của Việt Nam bao gồm các loại giá trị vật chất (nhà
xởng, thiết bị, máy móc, phơng tiện..) và các giá trị tinh thần (công nghệ, bằng
sánh chế, know-how). Tại đây chúng ta thấy thuật ngữ tất cả các loại giá trị
đợc sử dụng trong luật thành công hơn so với thuật ngữ tài sản.
Trong pháp luật về đầu t nớc ngoài của Việt Nam không giải thích các
khái niệm nh thu lợi luận hoặc đạt đợc hiệu quả xã hội.Mặc dù vậy,việc
10
quy định các hình thức đầu t ( hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, doanh
nghiệp có 100% vốn đầu t nớc ngoài ) cũng đã bao hàm cả các khái niệm
thu lợi nhuận. Hơn nữa, ngay việc đa tiêu chí này vào luật đã làm rõ hơn
khái niệm về đầu t nớc ngoài. Còn khái niệm hiệu quả xã hội thì nói chung
luật pháp Việt Nam không điều chỉnh những đầu t nớc ngoài mà nhà đầu t chỉ
nhằm vào một mục tiêu nh vậy.

khi đó tại các nớc t bản phát triển, thị trờng đã đợc khai thác tối đa, có hiện t-
ợng thừa t bản, lao động ngày càng khan hiếm, giá nhân công cao. Xuất hiện
nhu cầu của các nớc này về việc xuất khẩu t bản sang các nớc kém phát triển
để xây dựng một thị trờng cung cấp nguyên liệu ổn định, giá cả phải chăng,
nhân công rẻ... nhất là các ngành hao phí nhiều lao động nh ngành dệt may, lắp
ráp cơ khí điện tử... Dần dần hình thành dòng chảy vốn đầu t trực tiếp vào các
nớc này dới dạng gia công, liên doanh, công ty 100% vốn đầu t nớc ngoài.
Nhờ có xuất khẩu đầu t vào các nớc đang phát triển nh vậy, các nớc xuất khẩu
đầu t đã tạo ra thị trờng tiêu thụ hàng hoá một cách chắc chắn ít nhất là trong
thời gian ghi trong giấy phép.
Khi đã khai thác tối đa thị trờng trong nớc và thuộc địa, các nớc t bản,
các công ty xuyên quốc gia (TNC) có nhu cầu bành trớng các hoạt động kinh
tế của mình tới các quốc gia kém phát triển và đang có nhu cầu hoà nhập vào
thị trờng quốc tế song không có khả năng và kinh nghiệm. Mặt khác các công
ty xuyên quốc gia này còn tập trung đầu t vào cả các nớc phát triển ở những
ngành nghề mà họ nổi bật về công nghệ và truyền thống kinh doanh. Có thể
nói, đầu t trực tiếp trên thế giới là kết quả trực tiếp của sự bành trớng của các
công ty xuyên quốc gia này. Bằng cách đó, các nớc xuất khẩu đầu t nhằm tạo
điều kiện bành trớng về kinh tế, tránh đợc xu hớng bảo hộ mậu dịchngày càng
tăng trên thơng trờng quốc tế.
12
2. Đối với nớc nhập khẩu đầu t
Các nớc đang phát triển hầu hết đều quan tâm đến việc thu hút đầu t trực
tiếp nớc ngoài vì những lý do nh : Đầu t trực tiếp góp phần giải quyết những
vấn đề kinh tế, xã hội của các nớc đang phát triển nh nạn đói, thất nghiệp, lạm
phát... thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nghèo đói, lạc hậu để tăng trởng kinh tế.
Đây thờng là những yêu cầu vợt quá khả năng nền kinh tế của các nớc này, cho
nên đầu t trực tiếp nớc ngoài là nguồn bổ xung vốn quan trọngđể các nớc này
thoát khỏi hoàn cảnh trên. Ví dụ, trong điều kiện nghèo nàn lạc hậu nh ở nớc
ta, thất nghiệp nảy sing và tăng cao là tất yếu vì sản xuất kém phát triển, trong

thông qua việc mua lại các công ty này của các nhà đầu t nớc ngoài.
Đầu t trực tiếp còn góp phần tạo ra môi trờng cạnh tranh cần thiết tại n-
ớc nhập khẩu đầu t giữa các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài với các
doanh nghiệp trong nớc nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và thơng mại.
Tại Việt Nam, sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đợc coi là
nhiệm vụ trung tâm, một mô hình chiến lợc. Để đẩy mạnh quá trình này, Việt
Nam phải mở rộng thị trờng cho sự phát triển các ngành kinh tế, mở rộng liên
kết kinh tế quốc tế, tranh thủ nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài để phát triển
sản xuất trong nớc. Đầu t nớc ngoài và các ngành kinh tế gia tăng mạnh trong
thời gian qua là sự trợ lực to lớn về vốn, công nghệ tiên tiến, sản xuất, xuất
khẩu, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá-hiện đại
hoá, phù hợp với chủ trơng, chính sách của Nhà nớc ta và xu thế của thời đại.
Tóm lại, đầu t trực tiếp nớc ngoài có vai trò u việt, nếu biết phát huy sẽ
góp phần rất đáng kể vào việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nớc.
Xu hớng mới của kinh tế thế giới đòi hỏi các nớc đang phát triển phải
mở rộng cánh cửa hợp tác kinh tế với thế giới, thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Thực tế cho thấy những nớc nào theo đuổi chính sách kinh tế mở cửa nh trên
đều đạt đợc những thành tựu rực rỡ về phát triển kinh tế. Trong những năm 50,
60 của thập kỷ này nền kinh tế của các nớc châu á còn rất kém phát triển, mất
14
cân đối và trì trệ do chiến tranh. Hàn Quốc khi đó có mức thu nhập bình quân
là 90 USD năm 1961, Đài loan 158(1952), Singapore và Hongkong cũng trong
tình trạng tơng tự. Cả bốn nớc này đều nghèo tài nguyên thiên nhiên, có diện
tích nhỏ bé và đông dân số, khí hậu không ôn hoà. Lợi thế duy nhất của họ chủ
yếu là do vị trí gần biển, có nguồn nhânlực dồi dào và rẻ. Ngày nay, những nớc
này đều trở thành những nớc công nghiệp mới với tỷ lệ tăng trởng kinh tế cao.
Điều này càng chứng minh cho vai trò quan trọng của đầu t trực tiếp nớc ngoài
đối với nền kinh tế các nớc đang phát triển.
Thái Lan là một nớc nông nghiệp kém phát triển vào đầu thập kỷ 60.
Với chính sách đẩy mạnh thu hút đầu t nớc ngoài vào năm 1977, đến cuối thập

đầu t còn thăm dò và chỉ đến khi chính sách của Đảng và Nhà nớc ta có nhiều
thay đổi căn bản (chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hoứng XHCN),
có Bộ luật đầu t nớc ngoài khá hoàn chỉnh và đặc biệt là tình hình chính trị-xã
hội ở đất nớc ta rất ổn định nên mới thu hút một lợng vốn đầu t nớc ngoài đáng
kể (khoảng 37 tỷ USD) nh ngày nay. Thêm vào đó tình hình quốc tế, khu vực
có nhiều chuyển biến tích cực có lợi cho việc mổ rộng quan hệ kinh tế của Việt
Nam nói chung và của hợp tác đầu t nói riêng. Hiện nay Việt Nam là thành
viên của ASEAN, tham gia APEC, ASEM...đang đàm phán gia nhập WTO, đã
ký Hiệp định thơng mại với Hoa Kỳ, cùng với các chính sách đối ngoại mềm
dẻo trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ đã tạo ra lợi thế so sánh đáng kể của Việt Nam trong quá
trình thu hút vốn đầu t nớc ngoài.
2. Sự phát triển về kinh tế.
Sự phát triển kinh tế ở đây đợc hiểu là sự phát triển đồng bộ về các mặt:
tăng trởng kinh tế, thu nhập GDP tính trên đầu ngời, kim ngạch xuất nhập
khẩu, hệ thống giao thông, bu chính viễn thông, dịch vụ các loại. Thực tế cho
thấy ở các nớc phát triển, tốc độ thu hút vốn đầu t nớc ngoài bao giờ cũng cao
hơn các nớc đang phát triển. ở nớc ta sự phát triển về kinh tế cha đợc coi là hấp
16
dẫn đối với các nhà đầu t vì hệ thống giao thông tuy có nhiều cải thiện nhng
vẫn còn lộn xộn, hệ thống bu chính viễn thông có nhiều tiến bộ vợt bặc nhng
giá cớc phí vẫn đợc xếp và hạng nhất nhì thế giới về đắt đỏ, hệ thống ngân
hàng và các hoạt động dịch vụ khác còn nhiều bất cập, cha thuận lợi đối với
các nhà đầu t. Nhìn vào phân bố địa bàn đầu t ở nớc ta, chúng ta nhận ra ngay
rằng chỉ ở các thành phố lớn nh Hà Nội, Tp.HCM, Hải Phòng. Bà Rịa Vũng
Tàu mới có nhiều dự án hoặc ở các địa phơng có chính sách u đãi đặc biệt đối
với các nhà đầu t nh Bình Dơng, Đồng Nai mới thu hút đợc nhiều dự án đầu t.
Còn ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa nh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang,
Ban Mê Thuật, Đắc Lắc, Kiên Giang, An Giang... Có rất ít thậm chíkhông có

độ hiểu biết, cởi mở của ngời dân và là đất nớc có nhiều danh lam thắng cảnh
thì số dự án đầu t tăng lên nhiều hơn so với các quốc gia chỉ có ba yếu tố cơ
bản kể trên. ở Việt Nam mặc dù chúng ta có lợi thế về văn hoá, du lịch nhng
thực tế cha khai thác hết thế mạnh này, ngoài ra cha kể đến có những lúc thái
độ đối với các nhà đầu t nớc ngoài còn thiếu thiện chí, cha đánh giá đúng về
vai trò của đầu t nớc ngoài đối với đất nớc mình...
Để có đợc môi trờng hấp dẫn, thu hút trực tiếp đầu t nớc ngoài cần phải
tiếp tục cải thiện các yếu tố cấu thành môi trờng đầu t nh đã phân tích ở trên,
đồng thời phải đặc biệt chú ý cải thiện môi trờng pháp lý, môi trờng kinh
doanh, tiến tới áp dụng một mặt bằng pháp lý và điều kiện kinh doanh cho tất
cả các nhà đầu t nớc ngoài 0và đầu t trong nca. Thêm vào đó cần chú trọng cải
cách thủ tục hành chính, đào tạo đội ngũ cán bộ và quan tâm đúng mức đến
hoạt động xúc tiến đầu t để cho mọi ngời quan tâm đến đầu t nớc ngoài ở Việt
Nam có đợc án tớng tốt đẹp về môi trờng đầu t ở Việt Nam.
18
Chơng II: Vài nét về về thực trạng đầu t
trực tiếp tại Việt Nam
I. Tình hình cấp giấy phép đầu t
Ba năm đầu từ năm 1988 đến năm 1990, đợc coi là giai đoạn khởi động.
Lúc đó, chúng ta nh là những ngời mới vào nghề vừa không có kinh nghiệm
vừa rất mạnh dạn trong các quyết định; còn ngời nớc ngoài vừa đến nớc ta nh
là một miền đất mới, vừa xa lạ, vừa hấp dẫn, họ thận trọng không dám mạo
hiểm, mới làm thử để thăm dò cơ hội nên số dự án trong thời kỳ này không
nhiều, mức tăng trởng vốn chậm. Số dự án năm 1988 là 37, 1989 là 70, 1990 là
111, tơng ứng với thời gian đó, số vốn dăng ký ( tính theo triệu USD ) là : 366,
539, 596.
Từ 1991 đến hết tháng 7/2000 tình hình thu hút vốn đầu t trong khu vực
ĐTNN nh sau :
Bảng 1 :
S

27
2.5
88
3.7
46
6.6
07
8.6
04
4.6
54
3.9
25
1.4
77
39
2.5
2 Tăng vốn 8 47
23
0
51
5
1.3
08
75
6
1.1
42
87
6

9
11.
02
3
18.
46
0
26
75
9
32.
20
2
34.
55
7
36.
08
6
I
I
Vốn thực hiện (c)
21
3
39
4
1.0
99
1.9
46

2
Vốn của doanh nghiệp
Việt Nam
52 81
27
0
43
7
48
9
36
3
43
4
14
3
70
Nguồn : Vụ đầu t - Bộ Thơng mại
(a). Nguồn: Kinh tế và d báo số 1-2000 và thời báo kinh tế
Việt Nam số 95 (9-8-2000)
Vốn cấp mới dự kiến cha kể các d án thuộc chơng trình
khí Nam Côn Sơn khoảng 1,7 tỷ
(b). Vốn còn hiệu lực = vốn cấp mới +tăng vốn -vốn hết hạn -
vốn giải thể
(c). Không kể vốn thực hiện của các dự án hết hạn và giải thể.
Đầu t nớc ngoài tăng nhanh băt đầu từ năm 1991 (là 1.274 triệu USD)
liên tục phát triển cho đến 1995 (6.607 triệu USD bằng 5,2 lần năm 1991).
Năm 1996 vốn đăng ký là 8640 triệu USD tăng hơn 1995 nhng trên thực tế có
3 dự án đầu t vào lĩnh vực phát triển đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh với vốn đăng ký trên 3 tỷ USD không thể thực hiện đợc, do vậy thực tế

bộ Việt Nam, mà họ cho là khó hợp tác. Mặt khác, xu hớng đó cũng do chính
sách của nhà nớc Việt Nam đối xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp liên doanh
với các doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực thăm dò
khai thác dầu khí và dịch vụ viễn thông.
2. Về cơ cấu đầu t và đối tác đầu t
Về cơ cấu địa lý,vốn đầu t nớc ngoài tập trung nhiều vào các địa phơng
có điều kiện thuận lợi và các thành phố lớn nh Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng
21
Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Hải Phòng. Nguyên nhân là do các kết cấu hạ tầng ở
các địa phơng này có thuận lợi hơn, có môi trờng kinh doanh năng động hơn,
có quan hệ truyền thống với các nhà kinh doanh nớc ngoài. Mặt khác, Nhà nớc
cha có chính sách khuyến khích thoả đáng, đặc biệt về thuế, điều kiện giá thuê
đất để thu hút các nhà đầu t nớc ngoài vào các vùng sâu vùng xa nh miền
Trung, Tây Nguyên...
Cơ cấu đầu t theo ngành đã có sự chuyển dịch lớn, ngày càng phù hợp
định hớng cơ cấu ngành theo hớng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nếu tính
theo vốn đăng ký theo ngành thì ngành công nghiệp chiếm 13,9% tổng số vốn
đầu t năm 1992, đến năm1997 chiếm 47,4%, ngành xây dựng chiếm 0,2% năm
1992 và năm 1997 chiếm 26,7%. Sự chuyển biến cơ cấu ngành theo hớng tịch
cực một phần nhờ đóng góp của đầu t nớc ngoài. Trong những năm đầu khi
Luật ĐTNN ra đời, vốn đầu t phần lớn tạp trung vào các ngành dầu khí, du
lịch, khách sạn thì đến năm1995 có khoảng 64,6% vốn đầu t vào các ngành sản
xuất vật chất, hơn 60% dự án thuộc loại chiều sâu nhằm khai thác và nâng cao
hiệu quả năng lực hiện có. Số vốn đầu t vào các khu chế xuất, khu công nghiệp
chiếm 14,2% tổng số vốn đầu t tuy nhiên cha có nhiều dự án nuôi trồng và chế
biến nông sản, cơ khí chế tạo.
Về đối tác nớc ngoài, phần lớn vốn đầu t từ các nớc Châu á chiếm tới
gần 70%, trong đó ASEAN gần 25%, trong khi đó vốn ĐTNN từ các nớc Tây,
Bắc Âu, Bắc Mỹ còn thấp, các nớc G7 (trừ Nhật Bản) mới khoảng 12%.

3. Về tình hình xuất nhập khẩu
Theo số liệu thống kê của Vụ Đầu T - Bộ Thơng mại, kết quả xuất nhập
khẩu của các doanh nghiệp FDI đợc chia ra các năm nh sau ( không tính dầu
khí ):
Bảng 2 : Kim ngạch XNK của các doanh nghiệp FDI
23
Năm
Xuất khẩu Nhập khẩu
1989 -1991 52 192
1992 112 230
1993 140 491
1994 165 750
1995 403 1.653
1996 786 2.232
1997 1.497 2.700
1998 1.982 2.900
1999 2.590 3.382
2000 (quý I) 66,174
Nguồn : Vụ đầu t - Bộ Thơng mại
Số liệu nêu trong bảng 2, cho thấy :
- Về nhập khẩu : kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh qua các năm là do
tiến độ triển khai xây dựng, sản xuất của các doanh nghiệp đợc thực
hiện theo lịch trình đã đợc xét duyệt. Hàng hoá nhập khẩu chủ yếu
là máy móc, thiết bị phục vụ cho xây dựng cơ bản, hình thành doanh
nghiệp và vật t, nguyên liệu cho sản xuất. Tuy nhiên, việc nhập khẩu
tăng cũng cha phản ánh hết tốc độ đầu t. Thực tế cho ta thấy, mặc dù
kim ngạch nhập khẩu có tăng nhng trị giá thiết bị máy móc nhập
khẩu lại giảm ( nhất là cuối năm 1996 ), chứng tỏ tốc độ đầu t nớc
ngoài vào Việt Nam giảm.
- Về xuất khẩu : kết quả xuất khẩu đợc phản ánh bằng sự tăng trởng

Tỷ lệ
%
vốn
đầu t
Doanh thu
(1000 USD)
Trị giá XK
(1000 USD)
Tổng cộng 2.339 35.786.144 17.197.429 11.248.000
1. Công nghiệp 1.203 12.642.542 35,2 11.659.257 5.021.565
Công nghiệp
nặng
500 6.474.370 5.715. 376 1.997.524
Công nghiệp
nhẹ
577 3.774.759 3.389.864 2.656.922
Công nghiệp
thực phẩm
126 2.393.383 2.554.017 367.119
2. Dầu khí 23 2.558.268 7,2 1.391.764
3. Nông lâm
thuỷ sản
294 3.030.477 5,7 371.529
Nông lâm 245 1.874.827 1.227.743 309.714
25

Trích đoạn Hoạt động của các khu chế xuất Vấn đề xuất khẩu của các doanh nghiệpFDI theo quy định của giấy phép đầu t Về quan hệ giũa các doanh nghiệp khu chế xuất và các doanh nghiệp nội địa Quản lý ngoại hối Một số bất cập về chính sách đối với các doanh nghiệpFDI trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status