TÌNH HÌNH BẤT ỔN Ở NHỮNG NỀN KINH TẾ GIÀU:LIỆU CÓ ẢNH HƯỞNG XẤU RA SAO ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN - Pdf 12



TÌNH HÌNH BẤT ỔN Ở NHỮNG NỀN KINH TẾ
GIÀU:LIỆU CÓ ẢNH HƯỞNG XẤU RA SAO ĐỐI
VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN?

Tháng 8 năm 2002

Tel: (617) 495-1134
Fax: (617) 496-5245
e-mail: [email protected]
TRUNG TÂM DOANH NGHIỆP VÀ CHÍNH PHỦ
79 John F. Kennedy Street, Cambridge, MA 02138

Đan Mạch và Thụy Điển) liên tục có tỉ lệ thất nghiệp cao, các phúc lợi xã hội như trợ
cấp hưu trí ở mức không bền vững, và tỉ lệ sinh sản thấp hơn nhiều so với mức đủ
thay thế lực lượng lao động. Những mức thuế cao đánh vào người lao động có việc
làm vĩnh viễn đã hạn chế tạo ra việc làm trong khu vực tư nhân, và góp phần làm tăng
thâm hụt ngân sách. Mỹ đạt kết quả tốt hơn một chút so với khu vực dùng đồng euro
xét về mặt tăng trưởng GDP bình quân đầu người, và tốt hơn nhiều xét về khía cạnh
lao động, nhưng cán cân thanh toán của Mỹ dường như bị thâm hụt triền miên, và
những vấn nạn đã được bàn tán rất nhiều về bong bóng công nghệ và kế toán doanh
nghiệp đã tăng khả năng bị suy thoái nặng.

Khi các nền kinh tế quá độ đang tìm cách để phát triển, ít ra ta cũng cảm thấy bất an
khi mỗi nền kinh tế trong ba khối kinh tế lớn dường như đều vướng vào những vấn
nạn trầm trọng. Cũng có thể đầy rủi ro cho một quốc gia muốn theo chân những nước
khác trên con đường tăng trưởng dựa vào xuất khẩu nếu những thị trường lớn trở nên
bất ổn. Nếu những nước nhập khẩu lớn lâm vào cảnh đình trệ kinh tế quá lâu, lượng
nhập khẩu sẽ tăng không bao nhiêu và các thế lực bảo hộ có thể thúc giục các chính
khách dựng lên những rào cản thương mại. Vì thế, khả năng của những nước giàu
trong việc giải quyết những vấn nạn của họ cũng có ý nghĩa đối với những nước
nghèo hy vọng dùng hội nhập toàn cầu để phát triển. Liệu những vấn nạn của họ có
cơ may khắc phục hay không?

Những vấn nạn mang tính chu kỳ và mang tính cơ cấuĐiều quan trọng là phải phân biệt giữa những biểu hiện của chu kỳ kinh tế, hiện vẫn
còn hiện diện dù thường dễ chịu hơn nhiều so với thời kỳ ban đầu, và những vấn nạn
mang tính cơ cấu đã ăn sâu. Kinh tế thị trường đôi khi cũng có sai sót. Có thể họ xây
dựng quá dư thừa nhà cửa cơ ngơi hoặc đầu tư quá nhiều vào một số năng lực sản
xuất. Nếu lượng xây dựng dư thừa chiếm tỉ lệ cao so với tổng sản lượng, thì kết quả
thường là suy thoái. Đây là sự giảm sút tạm thời

ngân hàng khó đòi (hiện đã lên đến hơn 1000 tỉ đô-la) trong suốt nhiều năm. Thâm hụt
cán cân thanh toán triền miên của Mỹ là ví dụ thứ ba. Cần phải nói là thâm hụt cán cân
thanh toán không nhất thiết luôn là một vấn nạn. Nếu các dòng nhập vốn để trang trải
cho khoản thâm hụt được dùng để đầu tư vào hàng xuất khẩu hoặc hàng thay thế nhập
khẩu hiệu quả tạo ra thu nhập để trả nợ cho nhà đầu tư nước ngoài, thì chẳng có vấn đề
gì cả. Tuy nhiên, thâm hụt của Mỹ trong những năm gần đây không thuộc loại “vô hại”
này, bởi bong bóng công nghệ của Mỹ đã thu hút những nhà đầu tư cổ phiếu và công ty
nước ngoài. Những nguồn vốn này đã đẩy giá trị của đồng đô-la lên đến mức không
bền vững, mà từ đó giá trị đồng đô-la đang giảm xuống.

Khi một vấn nạn kéo dài dai dẳng, thường là do người ta chẳng làm gì để giải quyết
nó và những cơ chế chỉnh sửa “tự nhiên” khác thì yếu kém hoặc không được phép
hoạt động. Đây chính là điều được gọi là một vấn nạn mang tính cơ cấu. Nó thường
là do thất bại thể chế - một tình huống trong đó chính phủ, các ngân hàng, các công
ty, và những nhóm khác không làm đúng vai trò của họ. Tất cả các hệ thống thỉnh
thoảng cũng gặp thất bại thể chế. Câu hỏi lý thú là một hệ thống nên giải quyết nó
như thế nào. Đôi khi vấn nạn được xác định khá nhanh, các biện pháp khắc phục
được áp dụng, và tổn thất được hạn chế. Trong những trường hợp khác, việc giải
quyết vấn nạn gây ra tổn thương quá lớn – ít ra là đối với một số nhóm quyền lợi nào
đó – đến nỗi người ta liên tục trì hoãn hành động. Khi đó, vấn nạn trở nên trầm trọng
hơn, và việc điều chỉnh cuối cùng có thể rất đau đớn.

Các thất bại thể chế làm phức tạp hơn việc bình ổn hóa các chu kỳ kinh tếCũng nên hiểu rằng một thất bại thể chế có thể gây cản trở cho khả năng của chính
phủ trong việc bình ổn hóa nền kinh tế vĩ mô. Ta có thể thấy điều này rõ nhất ở Nhật,
dù nó chí ít cũng là một nỗi lo ở Mỹ và khu vực dùng đồng euro. Hãy xét đến một
nước đang bị suy thoái. Phản ứng “bình thường” là hạ lãi suất và giảm thuế, và/hoặc
tăng chi tiêu chính phủ để tổng chi tiêu tăng lên. (Lãi suất thấp khuyến khích đầu tư;

cũng nhận được những khoản trợ cấp lớn.
3
Kết quả là hệ thống chính trị rất khó thay
đổi tình hình, và thay vì thực hiện những cải cách căn bản, chính phủ chỉ biết vay
mượn và chi tiêu nhiều hơn nữa. Kết quả là một mức nợ chính phủ nặng nề bằng
150% GDP. Những nghĩa vụ nợ khác liên quan đến những đợt bảo lãnh cứu nguy
ngân hàng trong tương lai, các chi phí trợ cấp hưu trí, và những vấn nạn của hệ thống
tiết kiệm bưu điện sẽ đòi hỏi phải có mức lạm phát rất cao hoặc những khoản thanh
toán tính theo giá không đổi thấp hơn nhiều so với những khoản hiện nay đã hứa.
Chính mối nguy hiểm này đã khiến cho mức xếp hạng tín dụng dành cho nợ vay của
chính phủ Nhật bị giáng cấp nhiều lần, hiện nay còn thấp hơn cả Botswana, một nước
ở miền trung nam châu Phi. Trong tất cả những phương án hiện nay, chẳng có
phương án nào dễ dàng cả. Nếu cứ tiếp tục tốc độ cải cách chậm như hiện nay, có thể
sản lượng của Nhật sẽ bị giảm mạnh trong mấy năm tới. (Điều này sẽ có tác động lớn
đối với Việt Nam vì Nhật là một thị trường xuất khẩu lớn và cũng là nước cung cấp
vốn.)

Tất cả các nước giàu đều gặp phải những vấn nạn thể chế, và chúng lan tràn qua biên
giới các quốc gia

Trường hợp, hay ví dụ, này minh họa làm thế nào ngay cả một nền kinh tế giàu và
thành công cũng có thể gặp thất bại thể chế trầm trọng. Những tác động (của thất bại
thể chế) có thể nghiêm trọng, thậm chí vượt ra ngoài biên giới của quốc gia gặp thất
bại. Ví dụ, nền kinh tế toàn cầu xưa nay quá phụ thuộc vào cầu (tiêu dùng) từ Mỹ vốn
được xem là “đầu tàu (tăng trưởng)”. Nếu Nhật tăng trưởng như trước đây, hay thậm
chí nhanh bằng châu Âu, Nhật sẽ ca tụng Mỹ là nguồn cầu tiêu dùng, và nền kinh tế
toàn cầu sẽ an toàn hơn. Nhật không tạo ra được một môi trường đầu tư nội địa có khả
năng sinh lợi, nên đã dẫn tới những dòng xuất vốn lớn đã góp phần tạo ra vụ bùng nổ
đầu tư gây ra cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997. Như vậy, trong một thế giới hội
nhập kinh tế, thất bại ở nơi này thường có tác động đến những nơi khác.

lương hưu nếu lực lượng lao động không tăng nhanh hơn. Tuy nhiên, khu vực này lại
không ủng hộ cho dân nhập cư, và tỉ lệ sinh sản lại thấp hơn nhiều so với mức đủ thay
thế lao động. Như vậy, dần dà, lực lượng lao động sẽ – và hiện ở Đức đã xảy ra tình
trạng này – thực sự giảm xuống. Điều này có nghĩa là sẽ ngày càng có ít người lao
động hỗ trợ cho số lượng ngày càng nhiều những người hưu trí hy vọng sẽ nhận được
những khoản lương hưu cao từ chính phủ. Thuế hiện đã rất cao, và tỉ lệ thất nghiệp của
những người trẻ tuổi cũng rất cao. (Mức lương tối thiểu cao, cùng với thuế cao đánh
vào lao động, và khó khăn trong việc tuyển dụng khiến cho chuyện tạo thêm việc làm
mới trong khu vực tư nhân trở nên rất rủi ro.) Như vậy, hệ thống này về lâu về dài
không bền vững. Giải pháp là cắt giảm mức hứa hẹn trợ cấp hưu trí, buộc thêm nhiều
người làm việc cho đến một độ tuổi già hơn, và yêu cầu bắt buộc người lao động phải
tiết kiệm cho lúc về hưu. Ngoài ra, nếu luật lệ về lao động linh hoạt hơn, thì sẽ tạo
thêm được nhiều công việc hơn, và tỉ lệ thất nghiệp thấp hơn. Tuy nhiên, những biện
pháp này không được công chúng ủng hộ và gặp sự phản đối kịch liệt của những ai hiện
đã hưởng trợ cấp hưu trí và các trợ cấp khác. (Ở Ý, một giáo sư kinh tế ủng hộ cải cách
thị trường lao động đã bị ám sát vì những quan điểm của ông.)

Điều này thì nhiều người đã hiểu, và ta sẽ cho rằng người ta sẽ có biện pháp hữu hiệu.
Điều chỉnh càng sớm thì càng ít đau đớn. Một vài quốc gia, chẳng hạn như Hà Lan,
đã chuyển sang tình trạng có mức tiết kiệm hưu trí cao hơn, và tỉ lệ thất nghiệp thấp
hơn. Những nước lớn trong khu vực dùng đồng euro như Pháp, Đức, và Ý thì chưa.
Vẫn còn phải đợi xem liệu những liên minh ủng hộ các chính phủ khác nhau có thể
tìm ra được một cách để chuẩn y những cải cách cần thiết hay không, hay liệu họ tiếp
tục phản đối những thay đổi tất yếu. Nhưng phát biểu của các chính phủ châu Âu
hiện tại cho thấy rằng họ sắp sửa công nhận một cách muộn màng rằng cần phải ra tay
giải quyết, và có thể họ sắp bắt đầu hành động. Tuy nhiên, nếu để lỡ mất cơ hội, có
thể họ khó mà nắm bắt lại được vì những biện pháp cần thiết sẽ trở nên khắc nghiệt
hơn do tình hình ngân sách và dân số trở nên tồi tệ hơn.

Có vẻ như là các nước nghèo chẳng cần quan tâm liệu các nước giàu có phải cắt giảm

5
Tuy nhiên,
những biến động về tỉ giá hối đoái có thể có tác động lớn đối với Nhật và khu vực
dùng đồng euro. Khi giá trị đồng đô-la giảm nhẹ trong năm nay, triển vọng tăng
trưởng của cả hai khu vực đó đã giảm sút vì mỗi khu vực dường như đều dựa vào xuất
khẩu, nhất là xuất sang Mỹ, để đạt được mức tăng trưởng GDP thỏa đáng. Đồng đô-
la không thể đủ mạnh để hỗ trợ cho tăng trưởng của khu vực dùng đồng euro và Nhật
trong khi còn yếu chưa đủ để giảm thâm hụt tài khoản vãng lai quá lớn của Mỹ, hiện ở
mức khoảng 400 tỉ đô-la hay 4% GDP. Những biến động tỉ giá hối đoái này cũng có
thể gây khó khăn cho các nước nghèo, trong đó có nhiều nước đã khánh kiệt vì vay
mượn bằng loại tiền tệ này nhưng có thu nhập bằng loại tiền tệ khác. Kết quả có thể
là những điều chỉnh đau đớn vì các gánh nặng nợ vay biến đổi không lường trước
được.

Một số nước nghèo thậm chí ràng buộc đồng nội tệ của mình với đồng đô-la, để rồi
thấy đồng nội tệ có giá trị quá cao khi đô-la mạnh, và có giá trị quá thấp khi đô-la yếu.
Một phần – nhưng chỉ là một phần thôi – trong những vấn nạn của Argentina xuất
phát từ việc gắn chặt đồng nội tệ với đô-la. Một phiên bản hơi khác của việc “gắn
chặt” với đô-la – như Thái Lan và Malaysia đã làm – đã dẫn đến những kiểu vay và
cho vay không an toàn góp phần gây ra khủng hoảng châu Á. Sẽ dễ dàng hơn nhiều
cho các nhà quản lý kinh tế ở các nước nghèo nếu tỉ giá hối đoái giữa các khối kinh tế
lớn ổn định hơn.
4
Một ước tính cho thấy hiện nay lượng tiền gởi về các nước đang phát triển là gần 100 tỉ đô-la - gần
gấp đôi lượng viện trợ chính thức ròng đã cấp! Việc người lao động từ các nước nghèo có thể hưởng
lương tại nước giàu với mức cao ít nhất gấp năm lần (so với ở quê nhà) cho thấy ở các nước nghèo
cũng có thất bại thể chế.

thấy hoạt động kém cỏi, và đưa ra những đề xuất “Mua” cổ phiếu của những công ty
mà họ biết là dưới mức trung bình. Tất cả những cơ chế chế ngự và kiểm tra lẫn nhau
đã thất bại. Nhiều nhà đầu tư đã mất lượng tiền rất lớn khi thực trạng cuối cùng được
phơi bày.

Đây là những thất bại cực kỳ trầm trọng và căn bản. Nếu các công ty không báo cáo
chính xác sổ sách tài khoản, thì vốn không thể được phân bổ một cách hợp lý. Toàn
bộ lý do cơ bản cho sự tồn tại của các thị trường tài chính là chúng tạo nên “bộ não”
của một nền kinh tế thị trường, đưa các nguồn vốn đến những nơi sử dụng có hiệu quả
nhất. Quá trình này đòi hỏi phải có thông tin tốt. Không những điều này đã không
xảy ra, mà còn có những dòng vốn quốc tế - cũng một phần dựa vào dữ liệu xấu – gây
ra những tình trạng mất cân đối kinh tế vĩ mô (một đồng đô-la quá mạnh) và đầu tư dư
thừa mà hiện nay cần phải được giải quyết để có thể tăng trưởng bình thường trở lại.
Quá nhiều dòng vốn nước ngoài đổ vào Mỹ đã tạo nên thâm hụt thương mại lớn.

Tính đến nay đã có nhiều phản ứng đáng kể trước các thất bại này. Một vài công ty
rất lớn và một hãng kế toán lớn đã buộc phải phá sản. Những nhà quản trị của một số
công ty đã bị bắt và tống giam. Một số khác đã bị sa thải. Quốc hội Mỹ đã thông qua
một luật mạnh tay chống gian lận nhắm vào những tập quán như thế, và tổng thống
Bush đã ký ban hành luật đó. Luật mới này lập ra một ban giám sát kiểm toán độc
lập, tách biệt dịch vụ tư vấn và kiểm toán, và quy định phạt đến 20 năm tù cho hành vi
gian lận trong doanh nghiệp. Luật này cũng giúp cho nhà đầu tư dễ dàng hơn trong
việc thu hồi những khoản mất mát do các nhà quản trị gian lận, và yêu cầu các nhà
quản trị phải báo cáo kịp thời những đợt bán cổ phiếu của mình.

Giá cổ phiếu của những công ty chỉ mới bị nghi ngờ kế toán không minh bạch đã
giảm mạnh, khiến cho ngay cả những công ty trung thực cũng phải làm sổ sách kế
toán minh bạch hơn. SEC đã yêu cầu tất cả các nhà quản trị trong 1000 công ty hàng
những nền kinh tế hàng đầu, rồi sau đó thực sự suy sụp trong nhiều năm, trừ những
trường hợp lâm vào các cuộc chiến tranh tàn hại. Đúng là bước tiến kinh tế của Anh
và Mỹ có bị chậm đi trong một số giai đoạn, nhưng họ chưa hề thoái lui lâu đến một
thập niên. Tại sao như thế? Có thể là ta chưa chứng kiến đủ để thấy những kết quả
tồi tệ như vậy xảy ra. Hoặc có thể những nước đã vươn lên đến hạng đầu phải xác
định và khắc phục các vấn nạn trong suốt quá trình phát triển của mình, và kỹ năng
này cũng giúp họ khắc phục những thất bại thể chế. Chí ít thì nó cũng có thể giúp cho
họ ít bị thất bại hơn.

Thông tin và Cạnh tranh thể chếCho đến đây bài viết chủ yếu nhấn mạnh đến các thất bại kinh tế và tài chính, nhưng ý
nghĩa không chỉ giới hạn trong những lĩnh vực đó. Ví dụ việc quản lý điều tiết các
nhà máy điện hạt nhân, thuốc men hay các hãng hàng không cũng chịu nhiều áp lực
tương tự. Thông thường ngành bị quản lý sẽ “khống chế” cơ quan quản lý và làm suy
giảm tính nghiêm khắc của việc giám sát. Kết quả là hoạt động không an toàn.
Tương tự, các thể chế y tế và giáo dục cũng thường bị thất bại. Vì các thể chế này
thường là độc quyền hoặc gặp đối thủ cạnh tranh yếu, họ cần phải cung cấp cho người

6
Ví dụ, nếu một chuyên viên phân tích cổ phiếu làm việc cho một hãng môi giới thuộc một công ty có
ngân hàng đầu tư làm ăn với công ty mà anh ta đang phân tích, có thể anh ta sẽ bị áp lực nói những
điều tốt đẹp về cổ phiếu của công ty đó, để giữ mối kinh doanh chứng khoán cho hãng của mình.
Chuyện này bây giờ đã được nêu rõ ràng, chứ không phải ngầm hiểu trong các cuộc phỏng vấn truyền
hình hay trên báo chí. 8
tiêu dùng thông tin tốt về hoạt động của họ. Nếu có lợi thế nhờ đạt được danh tiếng

năm 1950, ngoại trừ một vài cú sốc dầu hỏa. Chắc chắn là không có gì giống với giai
đoạn đại suy thoái 1929-1939 trong nửa thế kỷ vừa qua. Tuy mức tăng trưởng các thị
trường nhập khẩu ở các nước giàu có thể không đều đặn hay nhanh chóng, hiếm khi
tổng kim ngạch xuất khẩu sang những thị trường này giảm trong vòng hơn một năm,
và nếu có giảm thì không giảm bao nhiêu.
7
Tất nhiên, một số loại mặt hàng cụ thể –
đặc biệt là hàng điện tử – đã cho thấy là có nhiều biến động. Nhưng nhìn chung, khó
mà lập luận rằng tình hình bất ổn ở các nước giàu là một cản trở lớn cho việc xuất
khẩu.

Một lập luận khác là các dòng vốn có tính bất ổn. Đúng vậy. Các dòng vốn ngắn hạn
hết sức bất ổn. Các dòng vốn dài hạn nhìn chung ít dao động hơn, nhưng vẫn có thể
biến thiên rất nhiều đối với một quốc gia riêng rẽ. Vì các nước nghèo chỉ thu hút
được một phần nhỏ trong lượng tiết kiệm của các nước giàu, biến số quan trọng
thường nằm ở điều kiện thay đổi ở các nước nghèo, chứ không phải những thay đổi
lớn về các nguồn vốn có thể đầu tư của các nước giàu. (Các nước giàu mỗi năm tiết 7
Tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu ở các nước giàu đạt 6-7% mỗi năm trong vòng 20 năm qua. Mức
sụt giảm lớn nhất là vào năm 2001 khi kim ngạch nhập khẩu của các nước giàu giảm 1,5%, và 2,7% ở
Mỹ. Theo IMF, tăng trưởng sẽ chậm nhưng sẽ là số dương trong năm 2002, và dự kiến lại vượt mức
6% vào năm 2003. 9
kiệm hơn 4000 tỉ đô-la, trong khi toàn bộ các dòng vốn ròng đổ vào các nước nghèo
hiếm khi đạt đến mức 5-6% của con số đó, ngay cả vào năm 1996 trước khủng hoảng
châu Á. Năm 2001, tỉ số này là 2%.) Một vấn đề ít được chú ý hơn là: thông thường

giai đoạn đó là sức mạnh của các hệ thống ngân hàng trong nước có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc tránh tình trạng người dân trong nước di tản vốn ra nước ngoài. Tuy
các nhà đầu cơ nước ngoài chắc chắn là đã gây ra sự mất giá ban đầu của đồng baht
Thái, chính việc người tiết kiệm và người vay tiền trong nước đổ xô chuyển đồng nội
tệ sang đô-la đã khiến cho cuộc khủng hoảng châu Á lan rộng và ăn sâu. Một tỉ giá
hối đoái linh hoạt, một chính sách cẩn thận về vay nợ bằng đô-la, và việc báo cáo
trung thực các dữ liệu kinh tế vĩ mô và tài chính – tất cả các biện pháp này đã được
thực hiện sau đó – có xu hướng làm giảm các dòng vốn của người dân trong nước đổ
ra nước ngoài.

Hình thành khả năng mau chóng hồi phục thể chếLàm sao có thể thiết kế một hệ thống sao cho thất bại thể chế ít có cơ may xảy ra, hay ít
nhất là được công nhận sớm hơn và giải quyết hiệu quả hơn? Một nguyên tắc đầu tiên
là cần phải có thông tin. Nếu người ta không biết chuyện gì đang xảy ra, khó mà đánh
giá được tình thế hay biết liệu có cần thay đổi hay không. Những hệ thống nào cung
cấp được thông tin có chất lượng tốt một cách rộng rãi thì thường sẽ đạt kết quả tốt hơn 10
những hệ thống không làm được chuyện đó. Như kinh nghiệm của các doanh nghiệp
Mỹ cho thấy, tham nhũng cũng hoành hành khi thông tin bị bưng bít hay bóp méo. Như
tục ngữ đã nói, “ánh nắng mặt trời diệt vi trùng” và hệ thống càng minh bạch thì càng
dễ phát hiện và xử lý vấn đề.

Một khía cạnh thứ hai của thất bại thể chế là thông thường những nhóm tương đối nhỏ
nhưng có thế lực có khả năng cản trở các biện pháp chỉnh sửa. Hệ thống nào có thể
hình thành các liên minh tập hợp từ đại đa số và chế ngự được những đặc quyền hạn
hẹp thì thường có khả năng tự cải cách dễ dàng hơn. Tại Nhật, điều này đã bị cản trở

toàn cầu hiện tại gặp nhiều thách thức, nhưng không phải là quá bất ổn nếu so với tình
hình hồi đầu thế kỷ 20 hay thậm chí trong thập niên 1970. Tình hình bất ổn và những
rủi ro hiện đang tồn tại cần phải được quản lý. Phương án tránh hoàn toàn các rủi ro
không phải là phương án tốt, nếu như Bắc Triều Tiên hay Myanmar có thể cho ta thấy
điều gì. Nếu xe gắn máy là nguy hiểm, giải pháp là đội mũ bảo hộ và lái xe cẩn thận,
chứ không phải chọn cách đi bộ. Đi bộ thì chẳng tiến được bao xa trong khi người khác
cưỡi xe phía trước! 8
Từ cạnh tranh có thể hiểu theo bất cứ nghĩa gì từ cuộc tranh giành đầy bạo lực của các doanh nghiệp
mafia ở Nga cho đến việc những nhà hàng gần nhau nỗ lực cải thiện thức ă n và cung cách phục vụ
khách hàng. Hiểu được khi nào cạnh tranh cải thiện nền kinh tế , và khi nào nó không công bằng hay có
tính phá hoại là một phần của chính sách đúng đắn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status