Đề tài: “Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và tác đông qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trường” pot - Pdf 12



1
Đề tài:
“Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và tác đông qua lại giữa
tăng trưởng kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trường”
2

Mở đầu
Hơn 20 năm qua, kể từ khi bước vào thực hiện mô hình kinh tế thị trường
định hướng XHCN, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng nhanh, đạt được nhiều
thành tựu lớn, làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước. Kinh tế ra khỏi tình trạng
khủng hoảng, hoạt động ngày càng năng động và có hiệu quả. Của cải xã hội
ngày càng nhiều, hàng hóa ngày càng phong phú. Đời sống nhân dân từng bước
được cải thiện. Đất nước chẳng những giữ vững được ổn định chính trị trước
những chấn động lớn trên thế giới mà còn có bước phát triển đi lên. Tổng sản
phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân 7%/năm. Nông nghiệp phát triển liên tục,
đặc biệt là về sản xuất lương thực, nuôi trồng và khai thác thủy sản. Giá trị sản
xuất công nghiệp tăng 13,5%/năm. Hệ thống kết cấu hạ tầng được tăng cường.
Các ngành dịch vụ, xuất khẩu và nhập khẩu phát triển. Quan hệ đối ngoại và hội
nhập kinh tế quốc tế không ngừng được mở rộng,
Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng cao của nền kinh tế, chúng ta đang

người cho rằng, các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ với nhau và mối liên hệ rất
đa dạng, phong phú, song các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng
chuyển hóa lẫn nhau. Chẳng hạn, giới vô cơ và giới hữu cơ không có liên hệ gì
với nhau; tồn tại độc lập, không thâm nhập lẫn nhau; tổng số đơn giản của những
con người riêng lẻ tạo thành xã hội, v.v
Trái lại, những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng, các sự vật,
hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác
động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau.
Trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan
và chủ nghĩa duy tâm chủ quan trả lời rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển 4
hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên (như trời)
hay ở ý thức, cảm giác của con người.
Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống
nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng. Các
sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao
nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất,
thống nhất - thế giới vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại
biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau
theo những quan hệ xác định. Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng
khẳng định rằng, liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác
động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các
mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới.
1.2. Các tính chất của mối liên hệ:
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối liên hệ có ba tính
chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.
- Tính khách quan của mối liên hệ biểu hiện: các mối liên hệ là vốn có của
mọi sự vật, hiện tượng; nó không phụ thuộc vào ý thức của con người.

tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh cách xem xét phiến diện.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên
hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và
trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ
trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về
sự vật.
Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng
mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối 6
liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên, và lưu ý đến sự chuyển hoá lẫn nhau giữa
các mối liên hệ để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù
hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân.
Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự
vật, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà
còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác. Đồng
thời, chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác
nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.
- Vì các mối liên hệ có tính da dạng, phong phú - sự vật, hiện tượng khác
nhau, không gian, thời gian khác nhau các mối liên hệ biểu hiện khác nhau nên
trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan
điểm lịch sử - cụ thể.
Quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác
động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ
thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển. Thực tế cho thấy rằng, một luận
điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này, nhưng sẽ không là luận
điểm khoa học trong điều kiện khác.
2.Các khái niệm, nội dung, vai trò cơ bản của tăng trưởng kinh tế và bảo vệ
môi trường:

giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp cho giáo dục, y tế, văn hoá
phát triển.
- Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất
nghiệp. Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên
nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động. Vì vậy, tăng trưởng
kinh tế nhanh thì thất nghiệp có xu hướng giảm. 8
- Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề vật chất để củng cố an ninh quốc phòng,
củng cố chế độ chính trị, tăng uy tín và vai trò quản lý của nhà nước đối với xã
hội.
- Đối với các nước chậm phát triển như nước ta, tăng trưởng kinh tế còn là
điều kiện tiên quyết để khắc phục sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước
đang phát triển.
Như vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh là mục tiêu thường xuyên của các quốc
gia, nhưng sẽ là không đúng nếu theo đuổi tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá.
Thực tế cho thấy, đôi khi quá trình tăng trưởng mang tính hai mặt.Vì vậy, mỗi
quốc gia trong từng thời kỳ phải tìm ra những biện pháp tích cực để đạt được sự
tăng trưởng hợp lý, bền vững. Tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh
tế đạt mức tương đối cao, ổn định trong thời gian tương đối dài (ít nhất từ 20 - 30
năm) và giải quyết tốt vấn đề tiến bộ xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.
2.1.3. Các nhân tố tăng trưởng kinh tế:
Theo quan điểm hiện đại, muốn có tăng trưởng kinh tế cao phải sử dụng có
hiệu quả các yếu tố cơ bản sau:
- Vốn: Vốn hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ của cải vật chất do con người
tạo ra, tích luỹ lại và những yếu tố tự nhiên được sử dụng vào quá trình sản
xuất. Nói một cách khái quát, vốn là toàn bộ tài sản được sử dụng để sản xuất,
kinh doanh. Vốn tồn tại dưới hai hình thức: vốn tài chính và vốn hiện vật.
- Con người: Trong các yếu tố hợp thành quá trình lao động sản xuất, sức

2.2.1. Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường:
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có
quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản
xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. 10
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học,
sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động
của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi, sông, biển cả, không khí, động thực
vật, đất và nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây nhà
cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản
phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch
đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các
hậu quả xấu do con người, thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng
hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.
2.2.2. Các chức năng chủ yếu của môi trường:
Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật.
Trên không gian do môi trường cung cấp, con người thực hiện các hoạt động
sống của mình, trong đó có quá trình sản xuất của cải vật chất. Nói một cách cụ
thể, đối với quá trình sản xuất, môi trường đã cung cấp mặt bằng và phông tự
nhiên cho sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp.
Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống
và sản xuất của con người. Xét về bản chất thì mọi hoạt động của con người để
duy trì cuộc sống đều nhằm vào việc khai thác các hệ thống sinh thái của tự nhiên
thông qua lao động cơ bắp, vật tư công cụ và trí tuệ. Với sự hỗ trợ của các hệ
thống sinh thái, con người đã lấy từ tự nhiên những nguồn tài nguyên thiên nhiên
cần thiết phục vụ cho việc sản xuất ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu của
mình. Thiên nhiên là nguồn cung cấp mọi nguồn tài nguyên cần thiết. Nó cung

- Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hoá của vật
chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người. 12
- Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu và
báo động sớm các hiểm hoạ đối với con người và sinh vật sống trên Trái Đất như
phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các
hiện tượng tai biến tự nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa
- Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài
động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá
trị thẩm mỹ để thưởng ngoạn, tôn giáo văn hoá khác.
2.2.3. Vì sao phải bảo vệ môi trường :
Như đã phân tích ở trên, môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với
đời sống con người cũng như các hoạt động sản xuất vật chất, chính vì vậy cần
phải tích cực, chủ động bảo vệ môi trường. Thực tế chứng minh rằng, con người
đã, đang và sẽ phải trả giá cho những hành vi phá hoại môi trường của mình.
Hàng loạt thách thức về môi trường đang đặt ra hiện nay trên thế giới bao
gồm :
- Khí hậu toàn cầu biến đổi và tần xuất thiên tai gia tăng
- Sự suy giảm tầng ôzôn
- Tài nguyên thiên nhiên bị suy thoái
- Ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở quy mô rộng
- Sự gia tăng dân số
- Sự suy giảm tính đa dạng sinh học trên Trái Đất
Những hiện tượng trên đe doạ nghiêm trọng tới môi trường, ảnh hưởng lớn
đến sức khoẻ và các hoạt động sống của con người nhưng nguyên nhân chủ yếu
lại xuất phát từ chính con người. Nếu không có các biện pháp thích hợp để giảm
sự huỷ hoại môi trường thì con người sẽ có lúc bị diệt vong. Chính vì vậy, bảo vệ
môi trường là vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay để con người cứu lấy môi trường


14
Tuy vậy, tình trạng khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên đã và đang diễn ra ở
nước ta. Các loại tài nguyên khoáng sản, rừng, đất, nước, năng lượng đều bị
khai thác và sử dụng bừa bãi, vô kế hoạch dẫn đến tình trạng cạn kiệt, suy thoái
tài nguyên, gây ảnh hưởng rất xấu đến môi trường đồng thời xảy ra các hiện
tượng như mất cân bằng sinh thái, giảm đa dạng sinh học Chẳng hạn như việc
khai thác dầu mỏ tại các vùng biển với các thiết bị không đảm bảo chất lượng có
thể gây ra rò gỉ dầu ra biển, vừa gây lãng phí dầu, vừa gây ô nhiễm môi trường
biển, làm chết các loại sinh vật biển dẫn đến mất cân bằng sinh thái ở khu vực ô
nhiễm
Muốn tăng trưởng kinh tế cao thì phải đầu tư phát triển mạnh cho công
nghiệp. Điều này dẫn tới sự ra đời của hàng loạt khu công nghiệp và các xí
nghiệp công nghiệp. Những xí nghiệp, khu công nghiệp này hàng ngày, hàng giờ
thải trực tiếp vào môi trường các loại khí độc, nước thải, rác thải hầu như chưa
qua xử lý gây ô nhiễm trầm trọng không khí, đất, nguồn nước xung quanh. Sự ô
nhiễm này tác động lớn đến sức khoẻ con người, gây ra các bệnh về đường hô
hấp, tiêu hoá, thần kinh, thậm chí là các bệnh hiểm nghèo như ung thư. Ngoài ra,
nhiều loài sinh vật sống trong vùng bị ô nhiễm sẽ chết hoặc bị biến dạng, gây tác
động tiêu cực đến cân bằng sinh thái.
Sự đòi hỏi phải đạt năng suất cao trong nông nghiệp dẫn đến việc nhiều
người lạm dụng các loại phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật Các loại chất
này khi bị sử dụng qua liều lượng cho phép không những làm cho nhiều loại thực
phẩm tích tụ độc tố, gây ra nhiều bệnh tật cho con người mà còn làm môi trường
nước, đất bị ô nhiễm nghiêm trọng, rất khó để cải tạo.
Tăng trưởng kinh tế cao giúp đời sống nhân dân nâng cao, do đó nhu cầu
về giải trí, du lịch cũng tăng lên. Điều này có thể dẫn tới việc đất nông nghiệp,
đất rừng bị cắt xén để làm các khu vui chơi giải trí, khu du lịch gây ra những hậu
quả nghiêm trọng về môi trường do nhiều loại sinh vật mất chỗ trú ngụ dẫn đến


16
ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất, kìm hãm sự phát triển. Chẳng hạn nói
về nước, nếu thiếu nước sạch thì đời sống người lao động sẽ mất ổn định gây ảnh
hưởng lớn đến quá trình sản xuất xã hội, thiếu nước cho các hồ thuỷ điện sẽ dẫn
tới tình trạng cắt điện thường xuyên gây nhiều thiệt hại cho hoạt động kinh
doanh, sản xuất
Môi trường cung cấp các địa điểm du lịch, khu vui chơi, giải trí tự nhiên,
đem về nguồn lợi không nhỏ cho nền kinh tế
Thời tiết, khí hậu ổn định là tiền đề quan trọng cho quá trình sản xuất.
* Tiêu cực:
Nước ta có khí hậu rất thất thường, thiên tai như hạn hán, lũ lụt, sạt lở
đất thường xuyên xảy ra. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nhân dân và
quá trình sản xuất, đặc biệt là đến sản xuất nông nghiệp. Nhiều đợt hạn hán, lũ lụt
xảy ra đã gây mất mùa nghiêm trọng tại nhiều địa phương, dẫn đến tình trạng
thiếu lương thực, đời sống người nông dân gặp nhiều khó khăn, nguồn cung cấp
nông sản cho công nghiệp chế biến thiếu hụt, giảm tỷ trọng xuất khẩu
Môi trường ngày càng bị ô nhiễm dẫn đến các hiện tượng như mưa axit,
hiệu ứng nhà kính, sự suy thoái ôzôn trong tầng bình lưu Những hiện tượng đó
trước hết ảnh hưởng trước hết đến sức khoẻ con người, gây ra nhiều bệnh tật về
đường hô hấp, về thần kinh Sức khoẻ bị giảm sút kéo theo hiệu suất lao động
giảm.

4. Thực trạng đáng báo động của môi trường Việt Nam:
4.1. Các loại tài nguyên ở nước ta đang ngày càng cạn kiệt, suy thoái:
Về tài nguyên rừng: Độ che phủ của rừng liên tục giảm sút, chỉ có dấu hiệu
tăng trong gần 10 năm trở lại đây. Năm 1943, diện tích rừng Việt Nam ước tính
có khoảng 14 triệu ha, tỷ lệ che phủ là 43 %. Năm 1976 giảm xuống còn 11 triệu 17

dạng sinh học, đồng thời chúng cũng tác động ngược trở lại làm các quá trình xói
mòn, thoái hoá đất diễn ra nhanh hơn.
Về tài nguyên nước: Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, về chất
lượng, tài nguyên nước của Việt Nam tốt nhưng đã có dấu hiệu suy thoái và ô
nhiễm. Việt Nam là quốc gia có lượng mưa trong nước phân bố không đều theo
mùa và theo khu vực, lượng nước mặt dự trữ có tới hơn 2/3 bắt nguồn từ nước
ngoài và lượng nước dưới đất có dấu hiệu cạn kiệt. Một số khu vực đã xảy ra
mưa có độ pH thấp (mưa axít) và hệ thống các hồ, ao, kênh rạch và các sông nhỏ
chảy qua các khu đô thị lớn hầu hết đều bị ô nhiễm nghiêm trọng, vượt quá mức
cho phép từ 5 - 10 lần. Nước dưới đất tại các vùng ven biển đều bị nhiễm mặn.
Mực nước dưới đất ngày càng hạ thấp, gây ra tình trạng thiếu nước cho sinh hoạt
và nước phục vụ nông nghiệp. Ở nhiều nơi đã phát hiện dấu hiệu ô nhiễm phốt
phát và asen trong nước ngầm. Tại Hà Nội, số giếng có hàm lượng phốt phát cao
hơn cho phép chiếm tới 71 %. Nước biển Việt Nam cũng đã bắt đầu ô nhiễm bởi
chất rắn lơ lửng, dầu và kim loại kẽm.
Về tài nguyên năng lượng: Theo những kết quả được đưa ra tại hội thảo
"Phát triển năng lượng bền vững ở VN" diễn ra trong năm 2006, mức độ tổn thất
điện năng ở Việt Nam có thể đến 15,8 % trong khi nhiều nước trên thế giới chỉ
khoảng 7 - 9 %. Để làm ra 1 USD giá trị gia tăng, VN tiêu tốn năng lượng nhiều
hơn các nước trong khu vực khoảng 30-40%. Theo một đại diện của Tập đoàn
Than – Khoáng sản Việt Nam, hiện nay, chỉ riêng tổn thất năng lượng trong khâu
thăm dò than cũng đã lên tới 10-20%; còn tổn thất trong khâu thăm dò dầu khí
lên tới 70%. Với tốc độ gia tăng mức khai thác năng lượng như hiện nay, các
nguồn năng lượng của Việt Nam sẽ trở thành khan hiếm, các mỏ dầu và khí đốt
sẽ cạn kiệt trong vòng 40-60 năm tới. Cho đến nay, vẫn còn nhiều nguồn năng
lượng khác gọi là “năng lượng tái tạo” như gió, mặt trời, nhiên liệu sinh khối (từ
thực thực vật, động vật) mặc dù dồi dào nhưng vẫn chưa được thúc đẩy sử dụng.
VN hiện có hơn 25 triệu tấn sinh khối gỗ năng lượng, hơn 53 triệu tấn sinh khối 20
nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là
rất nặng, các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ôxy hoà tan trong nguồn
nướcở nơi tiếp nhận nước thải đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần tiêu chuẩn
cho phép. Ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, phần lớn các chất thải
của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi,
làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng
cao. Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các
nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường
nước và sức khoẻ nhân dân. Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch,
không tuân theo quy trình kỹ thuật cũng đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi
trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất
trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông
làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài
sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện
thuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam.
Ô nhiễm không khí và tiếng ồn: Theo số liệu điều tra mới đây của Viện
Quy hoạch đô thị-nông thôn (Bộ Xây dựng), cùng với ô nhiễm nước, ô nhiễm
không khí xảy ra tại hầu hết các đô thị trong vùng và các tuyến quốc lộ, những
nơi có mật độ xây dựng và giao thông cao ở VN. Nồng độ bụi tại nhiều khu đô
thị hiện vượt tiêu chuẩn cho phép 2 - 3 lần, các nút giao thông vượt 2 - 5 lần, khu
vực xây dựng vượt quá 10 - 20 lần. Một trong những nguyên nhân dẫn đến ô
nhiễm không khí, tiếng ồn, ùn tắc, tai nạn giao thông là do hệ thống giao thông
đô thị và công nghiệp còn nhiều bất cập, lưu lượng giao thông ngày một tăng
nhanh, trong khi đó thì đường đô thị hẹp, khó cải tạo và nâng cấp. Ô nhiễm các
loại khí độc như SO
2
, CO, NOx tại các đô thị tuy chưa đến mức độ báo động

nhiễm ảnh hưởng đến rừng.
+ Hạn chế tiến tới chấm dứt du canh du cư 22
+ Sử dụng các phương pháp khai thác rừng hợp lý, giảm việc sử
dụng lãng phí gỗ
+ Quản lý bền vững các vùng đệm
- Ngăn chặn ô nhiễm, xói mòn và hoang mạc hoá đối với tài nguyên đất:
+ Thực hiện các kế hoạch quốc gia về sử dụng và quản lý đất bền
vững.
+ Tuyên truyền, huấn luyện cho người dân về việc bảo vệ đất
+ Cải tạo lại các vùng đất đã bị suy thoái
+ Hạn chế việc thải các hoá chất độc hại trong công - nông nghiệp
vào lòng đất
- Bảo vệ và quản lý chặt chẽ việc khai thác và sử dụng tài nguyên biển:
+ Có các hình thức sử phạt nặng đối với các cá nhân, tổ chức gây ô
nhiễm hoặc khai thác trái phép tài nguyên biển
+ Nâng cao chất lượng sống và ý thức cho người dân ven biển để họ
tích cực tham gia vào công tác bảo vệ môi trường biển
+ Xây dựng và duy trì các hệ thống xử lý nước thải, tránh thải nước
thải gần các bãi cá, bãi tắm
+ Phát triển nuôi trồng thủy sản, giảm lãng phí trong đánh bắt, bảo
quản và chế biến thuỷ hải sản,
+ Cấm dùng các hình thức khai thác, đánh bắt cá mang tính chất huỷ
diệt
+ Bảo vệ các hệ sinh thái (HST) nhạy cảm như: HST rạn san hô,
HST cửa sông, HST rừng ngập mặn
- Bảo vệ và quản lý nguồn nước ngọt:


+ Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượngở gia đình, các khu công
nghiệp, các công trình công cộng
+ Phát động các chiến dịch tuyên truyền quảng cáo để đẩy mạnh
hoạt động tiết kiệm năng lượng và bán các sản phẩm tiêu thụ ít năng lượng
* Có các chính sách, biện pháp xử lý nghiêm minh với những doanh nghiệp, xí
nghiệp gây ô nhiễm môi trường đồng thời cũng có những hình thức khen thưởng
xứng đáng cho những cá nhân, đơn vị, tổ chức có hành động tích cực góp phần
bảo vệ môi trường
* Đầu tư xây dựng những trung tâm xử lý chất thải hiện đại, tích cực cải tạo môi
trường những khu vực bị ô nhiễm
* Lập các quỹ hoạt động vì môi trường nhằm hỗ trợ kinh phí cho việc phòng
tránh, khắc phục, xử lý các vấn đề môi trường, bảo vệ môi trường
* Hoàn thiện Luật Bảo vệ môi trường
* Hợp tác với các tổ chức quôc tế về môi trường nhằm cải thiện, nâng cao chất
lượng môi trường, chủ động tham gia vào các hiệp định, thoả thuận về bảo vệ
môi trường

25
Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá về mối liên hệ mật thiết giữa
tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trưòng ở nước ta dựa trên nguyên lý về mối
liên hệ phổ biến, chúng ta đã thấy rõ rằng việc tìm ra giải pháp góp phần cân
bằng hai yếu tố này là vô cùng quan trọng. Trong quá trình tăng trưởng kinh tế,
phải đặt vấn đề bảo vệ môi trường lên hàng đầu, cần đảm bảo môi trường luôn
xanh, sạch, đẹp, có như vậy tăng trưởng mới bền vững
Giới trẻ ngày nay đặc biệt là sinh viên cần có nhận thức đúng đắn, sâu sắc
về vấn đề này. Ngay khi còn ngồi trên giảng đuờng, phải luôn tập trung vào học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status