Chương I:
Quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính.
1.1. Tổng quan về hoạt động cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính thực sự là một kênh dẫn vốn quan trọng, được đánh giá
là khá hữu hiệu, tạo điều kiện thu hút vốn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh
đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quy mô hoạt động kinh doanh cho thuê
tài chính trên thế giới hiện nay phát triển khá nhanh và tăng trưởng vượt bậc qua
các năm. Các sản phẩm của hình thức tín dụng này ngày càng đa dạng hơn, từ
máy fax, máy photocopy, máy tính đến xe tải, máy bay, tàu thủy...Trước khi đi
vào phân tích về lĩnh vực quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính, việc
tìm hiều những nét tổng quan về hình thức tín dụng này sẽ giúp chúng ta có thể
hiểu sâu sắc hơn.
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển hoạt động cho thuê tài chính
Hoạt động cho thuê tài chính có nguồn gốc từ việc cho thuê tải sản. Từ
những năm 2800 trước Công nguyên tại thành phố Sumerian gần vịnh Ba Tư
( hiện nay thuộc Iraq ), giao dịch cho thuê tài sản đầu tiên ra đời với việc cho
thuê các công cụ sản xuất nông nghiệp, súc vật kéo, ruộng đất, nhà cửa. Sau đó,
vào khoản năm 1700 trước Công nguyên, vua Babylon đã ban hành nhiều văn
bản quy định về cho thuê tài sản.
Ở các nước có nền văn minh cổ đại như Hy Lạp, La Mã, Ai Cập, giao dịch
cho thuê tài sản cũng đã xuất hiện hàng ngàn năm trước công nguyên. Người Hy
Lạp cổ đại là những người đầu tiên phát triển việc cho thuê hầm mỏ. Người Hy
Lạp cổ đại cũng tiên phong tạo ra khái niệm ngân hàng cho thuê. Tài sản thuộc
1
quyền sở hữu của ngân hàng cho thuê đầu tiên được kí kết vào năm 370 trước
công nguyên trong đó bao gồm tên ngân hàng, tiền kí quỹ, tên văn phòng và đội
ngũ nhân viên.
Đến đầu thế kỷ 19 do sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền kinh tế
hàng hóa hoạt động thuê tài sản đã có sự thay đổi về tính chất của giao dịch và
xuất hiện hình thức cho thuê tài chính đầu tiên ở Mỹ. Hoạt động cho thuê tài
chính thời kỳ này đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng, chủng loại thiết bị tài
chính 100% vốn nước ngoài, lại có doanh nghiệp thuộc hình thức đa sở hữu như
Công ty cho thuê tài chính liên doanh. Lượng vốn cấp theo hình thức cho thuê tài
chính chiếm tỷ lệ khá nhỏ so với hình thức cấp vốn của ngân hàng. Trong khi đó,
với lợi thế của mình, đáng lẽ loại hình dịch vụ cho thuê tài chính phải được phát
triển nhanh chóng ở Việt Nam, nơi các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang cần thu
hút một lượng vốn lớn cho đầu tư cũng như cho tái đầu tư mở rộng. Dù vậy cũng
phải nhìn nhận hoạt động cho thuê tài chính đã phần nào giảm sức ép và gánh
nặng cho hệ thống ngân hàng thương mại trong việc cung ứng vốn đối với doanh
nghiệp, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn.
Các Công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam hiện nay gồm:
+ Các công ty cho thuê tài chính của các Ngân hàng: Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn, Công thương, Ngoại thương, Sài Gòn Thương Tín, Đầu tư
và Phát triển Việt Nam;
3
+ Công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài gồm: Công ty cho thuê
tài chính ANZ-VTRAC; Cty cho thuê tài chính Kexim và Công ty cho thuê
tài chính Quốc tế Chailease;
+ Các loại hình khác: Công ty cho thuê tài chính Quốc tế VN (liên doanh);
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho thuê tài chính Ngân hàng
Á Châu; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho thuê tài chính
Công nghiệp tàu thủy.
1.1.2. Khái niệm hoạt động cho thuê tài chính
• Theo Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC), một giao dịch thuê tài
sản thỏa mãn một trong bốn tiêu chuẩn dưới đây đều được gọi là thuê tài chính:
- Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao khi hết hợp đồng.
- Hợp đồng có quy định quyền mặc cả mua bán tài sản tại thời điểm chấm
dứt hợp đồng.
- Thời hạn hợp đồng bằng phần lớn thời gian hoạt động hữu dụng của tài
sản.
Trên cơ sở phân loại của IASC, các nước có những quy định cụ thể trong
+ Thời gian của hợp đồng thuê chiếm phần lớn thời gian sử dụng hữu ích
của tài sản thuê.
+ Giá trị hiện tại của toàn bộ tiền thuê tối thiểu do người thuê trả tiền lớn
hơn hoặc bằng giá trị thị trường của tài sản thuê tại thời điểm ký hợp đồng
5
- Đa phần các hợp đồng cho thuê tài chính được hai bên ký kết là để đầu tư
cho các tài sản thuê mới. Quyền lựa chon tài sản thuê trong các trường hợp đều
thuộc về bên thuê, công ty cho thuê tài chính có nghĩa vụ phải mua đúng loại tài
sản thuê mà bên thuê đã thỏa thuận hay cam kết với bên cung cấp tài sản.
- Tài sản thuê tài chính phải được mua bảo hiểm vật chất đầy đủ trong suốt quá
trình thuê. Phí bảo hiểm cho tài sản có thể do bên thuê hoặc bên cho thuê thanh
toán và được quy định cụ thể trong hợp đồng cho thuê tài chính nhưng người
hưởng thụ trong suốt quá trình thuê phải là bên cho thuê tài chính.
- Hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng không hủy ngang nên bên thuê
không được quyền chấm dứt hợp đồng trước hạn, trừ trường hợp do lỗi của bên
cho thuê hoặc bên thuê đề nghị xin chấm dứt hợp đồng trước hạn và phải được
bên cho thuê đồng ý.
- Thuê tài chính là một hình thức vay vốn, tài trợ vốn. Tổng số tiền thuê tài
chính được trả theo một lịch thanh toán do bên cho thuê và bên thuê thỏa thuận
và được quy định cụ thể trong hợp đồng cho thuê tài chính. Thông thường số tiền
thuê tài chính được trả theo định kỳ nhất định mà bên thuê đề nghị. Các khoản
tiền phải trả trong một kỳ bao gồm tiền gốc và tiền lãi thuê.
So sánh giữa cho thuê tài chính và cho vay trung dài hạn
Để các đặc trưng của hoạt động cho thuê tài chính trở nên nổi bật và dễ nhận
biết, ta có thể làm phép so sánh sau:
Về cơ bản, có thể coi cho thuê tài chính như một loại hình tín dụng trung và
dài hạn vì nó mang những đặc trưng cơ bản của loại hình tín dụng này:
- Bên cho vay (hay bên cho thuê) chuyển giao có thời hạn cho bên đi vay
(hay bên đi thuê) một lượng giá trị dựa trên những cơ sở tín nhiệm.
6
đảm trong tài sản thế chấp. Đồng thời, cũng nhờ vậy mà khi xảy ra tình huống
xiết nợ thì điều đó dễ dàng cho công ty cho thuê tài chính để thu hồi tài sản.
- Trong tín dụng trung và dài hạn, ngân hàng thường yêu cầu người vay
phải có tài sản đảm bảo và kéo theo nhiều thủ tục giấy tờ. Còn trong cho thuê tài
chính, tài sản vẫn thuộc sở hữu của bên cho thuê nên người thuê không bị đòi hỏi
có tài sản thế chấp và nhờ đó giảm bớt một số công đoạn thủ tục, giấy tờ.
1.1.4. Phân loại hoạt động cho thuê tài chính.
Việc áp dụng cho thuê tài chính có sự cải biến tùy theo điều kiện kinh tế và
môi trường kinh doanh của mỗi quốc gia, nhưng sự khác biệt là không nhiều do
quan hệ cho thuê hiện nay đã có mối quan hệ toàn cầu, doanh nghiệp của một
nước hoàn toàn có thể sử dụng sản phẩm được thuê từ một tổ chức nước ngoài.
Bên cạnh đó, các công ty cho thuê tài chính, các ngân hàng, tổ chức tài chính của
các nước phát triển cũng đã thâm nhập vào các nước đang phát triển dưới hình
thức thành lập công ty 100% vốn nước ngoài, mở chi nhánh hoặc liên doanh.
Điều này giúp cho thuê tài chính thâm nhập sâu hơn vào các nước đang phát
triển và sự khác biệt về quan điểm cho thuê tài chính giữa các quốc gia dần dần
thu hẹp lại.
Theo số đối tác tham gia giao dịch, cho thuê tài chính thường có hai hình
thức chủ yếu sau:
a, Cho thuê tài chính giản đơn (có sự tham gia của hai bên)
8
Theo hình thức này, trước khi nghiệp vụ cho thuê xuất hiện, tài sản được
dùng để tài trợ đã thuộc quyền sở hữu của người cho thuê bằng cách mua tài sản
hoặc tự xây dựng. Đây là hình thức được các công ty kinh doanh bất động sản và
các công ty sản xuất máy móc thiết bị thực hiện. Các tổ chức tài chính rất ít khi
áp dụng hình thức tài trợ này.
Ký hợp đồng thuê (1)
Bàn giao tài sản thuê (2)
Thanh toán tiền thuê (3)
chính.
Đây là hình thức cho thuê được sử dụng phổ biến nhất, có đến 80% hợp đồng
thuê tài chính trên thế giới áp dụng theo phương thức này. Các công ty cho thuê
tài chính đã áp dụng phương thức này là chủ yếu để tài trợ cho doanh nghiệp,
đặc biệt là đối với cho thuê thiết bị. Sở dĩ như vậy là vì, phương thức này có
những ưu điểm nổi trội sau đây:
10
Nhà cung cấp
Bên thuê Bên cho thuê
- Về phía bên thuê: Bên thuê được quyền lựa chọn nhà cung cấp, trực tiếp
thỏa thuận, đám phán cho nhà cung cấp về những đặc tính của sản phẩm nhằm
lựa chọn ra sản phẩm phù hợp nhất, thỏa mãn tối đa yêu cầu của bên thuê.
- Về phía bên cho thuê: Bên cho thuê không phải mua sản phẩm trước, như
vậy sẽ giảm bớt những chi phí về kho bãi, hao mòn trong quá trình dữ trự và hơn
nữa còn giúp quay vòng vốn nhanh hơn nhờ không phải dự trữ hàng tồn kho.
Mặt khác bên thuê trực tiếp nhận sản phẩm từ nhà cung cấp, nhờ vậy bên
thuê giảm được rủi ro xảy ra khi bên thuê từ chối nhận hàng do những sai sót về
mặt kỹ thuật. Việc lắp đặt bảo dưỡng, sửa chữa sản phẩm đều thuộc nhà cung
cấp và bên thuê nên bên cho thuê không phải quan tâm đến tình trạng hoạt động
của tài sản.
Trên đây là hai hình thức cho thuê cơ bản. Từ hai hình thức này còn có
nhiều hình thức biến tướng, đó là hình thức cho thuê hợp vốn, mua và cho thuê
lại, cho thuê giáp lưng...
c, Cho thuê hợp vốn:
Đây là hình thức cho thuê đặc biệt kết hợp từ hai hình thức cho thuê cơ bản
trên. Trong hình thức cho thuê này, nhiều bên cho thuê cùng tài trợ cho một bên
thuê, trong đó bên cho thuê đứng ra làm đầu mối. Hình thức này được áp dụng
khi nhu cầu thuê tài chính của bên thuê vượt quá giới hạn cho thuê của một công
ty cho thuê tài chính hoặc nhằm phân tán rủi ro hoặc cũng có trường hợp do bên
thuê yêu cầu ( Ở Việt Nam, tổng dư nợ cho thuê tài chính của một công ty cho
những trường hợp doanh nghiệp đã không thực hiện được những hợp đồng trong
quá khứ, hay doanh nghiệp chưa được bên cho thuê biết đến (như các công ty
nước ngoài chỉ chấp nhận tài trợ cho những công ty lớn của Việt Nam ). Trong
những trương hợp này, dưới sự đồng ý của bên cho thuê, bên thuê thứ nhất sẽ
cho bên thuê thứ hai (người thực sự cần sử dụng tài sản vào thời điểm đó ) thuê
lại tài sản mà mình đã thuê từ bên cho thuê. Kể từ khi hợp đồng cho thuê lại
được kí kết, mọi quyền lợi và nghĩa vụ cùng tài sản thuê được chuyển giao từ
bên thuê thứ nhất sang bên thuê thứ hai. Các chi phí pháp lý, di chuyển tài sản
phát sinh từ hợp đồng này do bên thuê thứ nhất và bên thuê thứ hai thỏa thuận
với nhau. Dù bên đi thuê thứ nhất chỉ là trung gian giữa bên cho thuê và bên đi
thuê thứ hai nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý về việc thực hiện hợp đồng
đối với bên cho thuê. Bù lại, bên đi thuê thứ nhất sẽ nhận được phần chênh lệch
giữa hai khoản tiền thuê như là hoa hồng trách nhiệm.
f, Cho thuê bằng vốn vay:
Đây cũng là một biện pháp trong trường hợp công ty cho thuê không đủ
điều kiện tự tài trợ cho khách hàng. Không giống như quan hệ đồng tài trợ trong
cho thuê hợp vốn, bên cho thuê sẽ vay vốn từ các ngân hàng hoặc các định chế
tài chính khác để mua tài sản cho thuê. Bên cho thuê vẫn là trái chủ trong quan
hệ cho thuê, còn bên cho vay là trái chủ của bên cho thuê. Hay nói cách khác,
vốn tài trợ trong phương thức này bao gồm hai phần, một phần là vốn của bản
thân bên cho thuê và một phần là vốn vay được cung cấp từ các bên cho vay.
Vốn vay thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tiền tài trợ nhưng không được
vượt quá 80% và khoản cho vay được đảm bảo bằng chính tài sản cho thuê và
cam kết chuyển nhượng hợp đồng cho thuê và các khoản tiền thuê.
13
1.1.5. Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính
a) Đối với bên đi thuê:
- Bên đi thuê dễ dàng tiếp cận nguồn tài trợ từ cho thuê tài chính: Do đặc
thù của cho thuê tài chính là quyền sở hữu tài sản thuộc về bên cho thuê, các
công ty cho thuê tài chính, các công ty tài chính không quá khắt khe trong việc
không bị đọng vốn, có thể sử dụng số tiền đó để phục vụ cho những hoạt động
khác nhằm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Mặt khác, lịch trả nợ cũng thường
được các công ty cho thuê tài chính điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với chu kỳ sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Cho thuê tài chính giúp doanh nghiệp hạn chế sự lạc hậu, bắt kịp tôc độ
phát triển của khoa học công nghệ, qua đó nâng cao năng lực sản xuất: để tăng
cường khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn phải chú ý đến việc đổi mới
công nghệ, dây chuyền sản xuất nhằm tăng năng suất hoạt động, tạo ra những
sản phẩm tiến tiến, hạ giá thành sản phẩm. Cho thuê tài chính là một kênh đáp
ứng nhu cầu đó của khách hàng. Lợi ích này đặc biệt quan trọng nếu ngành kinh
doanh của doanh nghiệp phải dựa nhiều vào các công nghệ tân tiến như thế hệ
máy tính mới nhất, các công cụ truyền thông, dây chuyền công nghệ mới hoặc
các thiết bị khác. Nhiều hợp đồng thuê ngắn hạn có thể sẽ tiết kiệm hơn là việc
sau một hai năm lại mua thiết bị mới. Ngoài ra, do các tài sản đều thuộc sở hữu
của bên cho thuê nên bên đi thuê không phải quan tâm đến rủi ro về mặt pháp lý.
15
- Cho thuê tài chính giúp doanh nghiệp hưởng lợi ích từ lá chắn thuế: Tài
sản cho thuê tài chính vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê nên bên cho
thuê được phép khấu hao tài sản đó, làm giảm thuế thu nhập phải nộp. Mặt khác,
bên đi thuê phải trả chi phí thuê, chi phí đó được khấu trừ trước thuế nên cũng
làm giảm thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp. Như vậy cả hai doanh nghiệp
đều nhận được lợi ích từ tấm chắn thuế.
b, Đối với nhà cung cấp:
Hoạt động cho thuê tài chính giúp nhà cung cấp thúc đẩy việc tiêu thụ sản
phẩm. Mặt khác, đối với loại hình cho thuê tài chính có sự tham gia của ba bên,
dù người muốn sử dụng sản phẩm chưa có điều kiện để thanh toán, nhà cung cấp
vẫn được nhận tiền ngay mà không phải sử dụng đến những biện pháp như cho
mua trả góp, vay trả chậm để bán được hàng.
c, Đối với nền kinh tế:
- Cho thuê tài chính là một kênh dẫn vốn cho nền kinh tế: cũng như các hoạt
hoạt động tín dụng, rủi ro là một phạm trù rất quan trọng mà cho thuê tài chính
cũng không phải là ngoại lệ. Có nhiều quan niệm về rủi ro và những hậu quả mà
rủi ro gây ra, tuy nhiên khái niệm chung nhất về rủi ro có thể được đưa ra như
sau: Rủi ro là bất cứ điều gì không chắc chắn có thể ảnh hưởng tới các kết quả
so với những gì chúng ta mong đợi.
17
Lĩnh vực tài chính nói chung, tài chính ngân hàng nói riêng không chỉ là
lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế mà còn là một trong những lĩnh vực nhạy
cảm nhất về rủi ro. Hoạt động tín dụng chiếm từ 60% đến 70% các chỉ số trong
hoạt động tài chính ngân hàng. Do đó nói đến rủi ro trong lĩnh vực tài chính thì
rủi ro tín dụng là rủi ro thường được quan tâm nhất. Đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu đưa ra khái niệm về rủi ro tín dụng:
Theo ý kiến của các chuyên gia kinh tế, rủi ro tín dụng là rủi ro mất vốn do
bên đối tác không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Ở Việt Nam, quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước
ban hành ngày 22/04/2005 “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong
hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc
không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Tại sổ tay tín dụng của Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam cho rằng
“Rủi ro tín dụng là tình trạng khách hàng không thực hiện nghĩa vụ tài chính đã
cam kết”.
Từ các khái niệm về rủi ro tín dụng, xuất phát từ đặc thù hoạt động cho thuê
tài chính thì có thể hiểu:
Rủi ro hoạt động cho thuê tài chính là những tổn thất mà công ty cho thuê
tài chính phải gánh chịu khi bên thuê không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của
mình theo cam kết tại hợp đồng cho thuê tài chính.
1.2.2. Các loại rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính
Rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính tồn tại khách quan cùng với sự tồn
tại của hoạt động này. Về bản chất, cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng
trung dài hạn, vì vậy hoạt động cho thuê tài chính có những rủi ro giống như
công ty cho thuê tài chính cần phải có biện pháp mạnh, dứt khoát quyết liệt
nagya từ đầu buộc bên thuê phải thực hiện các nghĩa vụ của mình.
• Tiền thuê nhận được không đủ bù đắp số tiền bỏ ra tài
trợ, trong các trường hợp như
- Xảy ra vi phạm hợp đồng cho thuê tài chính dẫn tới tranh chấp, phải tố
tụng tại các cơ quan chức năng, dẫn tới trì trệ hoạt động sản xuất, tài sản thuê
phải ngừng hoạt động, không được bảo dưỡng và bị xuống cấp dẫn tới giá trị thu
hồi thấp.
- Công ty cho thuê tài chính tài trợ khách hàng với lãi suất cố định trong khi
phải đi huy động vốn với lãi suất thả nổi. Khi lãi suất huy động vốn trên thị
trường biến động theo chiều hướng tăng lên thì lãi suất cho thuê thu về không đủ
bù đắp cho chi phí bỏ ra để có số vốn tài trợ ban đầu gây thiệt hại vốn cho công
ty.
1.1.2.2. Rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động là những rủi ro liên quan trực tiếp đến quá trình thực hiện
cho thuê. Các rủi ro hoạt động bao gồm:
• Rủi ro về dự án đầu tư:
Hoạt động thuê tài chính gắn liền với quá trình thực hiện dự án đầu tư của bên
thuê. Vì vậy hiệu quả của dự án đầu tư quyết định đến khả năng trả tiền thuê của
bên thuê tài chính.
• Rủi ro trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng thuê tài chính, hợp
đồng mua tài sản, hợp đồng bảo hiểm tài sản
20
Hợp đồng cho thuê tài chính là văn bản pháp lý cao nhất xác định giao dịch
thuê tài chính giữa bên thuê và bên cho thuê. Các rủi ro pháp lý thường gặp trong
quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng có thể là: người ký hợp đồng không đúng
quy định, loại tài sản thuê trong hợp đồng không đúng với tài sản thuê trong thực
tế, hay một số điều khoản thỏa thuận không đúng quy định của pháp luật...
Các rủi ro về pháp lý trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng mua tài
sản có thể là do nhà cung cấp tài sản không có thực hoặc đã phá sản giải thể
móc thiết bị, khả năng trả lãi cho thuê cũng giảm do lợi nhuận của các doanh
nghiệp giảm.
-Rủi ro do tiến bộ khoa học kĩ thuật: Khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển,
nếu không kịp thời đổi mới, tài sản cho thuê sẽ trở nên lạc hậu hoặc ngày càng
suy giảm chất lượng-hao mòn vô hình.
-Rủi ro bất khả kháng: do các nguyên nhân như: thiên tai, dịch bệnh, hỏa
hoạn, khủng bố...
1.2.3. Các chỉ tiêu phản ánh mức độ rủi ro hoạt động cho thuê tài chính
a, Nợ xấu:
Nợ xấu và phân loại nợ xấu của các tổ chức tín dụng được pháp luật nước ta
quy định trong Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thống đốc
Ngân hàng nhà nước. Theo Nghị định này, Nợ xấu là các khoản nợ quá hạn từ 90
ngày trở lên và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày
22
theo thời hạn đã cơ cấu lại hoặc các khoản nợ (kể cả các khoản nợ trong hạn và
các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại)
mà công ty cho thuê tài chính có đủ cơ sở đánh giá là khả năng trả nợ của khách
hàng bị suy giảm thì công ty cho thuê tài chính chủ động tự quyết định phân loại
các khoản nợ đó vào các nhóm nợ thuộc nợ xấu.
Trong trường hợp một khách hàng có nhiều hơn một khoản nợ với công ty
cho thuê tài chính mà có bất kỳ khoản nợ nào bị xếp vào nhóm nợ xấu thì các
khoản nợ còn lại của khách hàng đó cũng bị xếp vào nhóm nợ xấu đó.
Để có thể đánh giá mức độ nợ xấu của công ty cho thuê tài chính ta dùng
công thức sau:
Nợ xấu
Công thức : Tỷ lệ nợ xấu (%) = x 100%
Tổng dư nợ cho thuê
Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu số nợ gốc là nợ xấu trong một trăm đồng
dư nợ cho thuê. Chỉ tiêu này là căn cứ để đánh giá chất lượng cho thuê tài chính.
b, Nợ quá hạn:
a, Các nhân tố khách quan:
∗ Chính sách kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý:
Chính sách kinh tế vĩ mô có tác động lên toàn bộ nền kinh tế, từ đó có
những tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bên
thuê. Một khi Chính phủ có những chính sách phù hợp, tạo nhiều điều kiện thuận
lợi cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng trả lãi cho
24
thuê của các doanh nghiệp thuê tài chính cao hơn, giảm thiểu rủi ro cho các công
ty cho thuê tài chính.
Môi trường pháp lý cũng có những tác đến động rủi ro hoạt động cho
thuê tài chính. Pháp luật quy định tất cả các yếu tố trong quy trình cho thuê tài
chính, từ loại tài sản thuê, đến đăng kí quyền sở hữu, lãi suất, các nghiệp vụ bảo
lãnh...Vì vậy, môi trường pháp lý tốt tạo niềm tin cho những người tham gia, có
thể bảo vệ quyền lợi cho tất cả các bên, đồng thời không có kẽ hỡ cho những kẻ
có ý định xấu. Môi trường pháp lý thuận lợi còn là nhân tố thúc đẩy hoạt động
cho thuê tài chính hoạt động có trật tự, hiệu quả.
∗ Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội:
Sự ảnh hưởng này dễ thấy trong thời gian vừa qua (2008), khi nền kinh tế
thế giới lâm vào tình trạng khủng hoảng, mà đặc biệt là ngành Ngân hàng-Tài
chính, các hoạt động kinh doanh đều bị thu hẹp lại. Khi đó, đối tượng khách
hàng của cho thuê tài chính không chỉ ít đi mà việc thu hồi lãi cũng trở nên khó
khăn, khả năng gặp phải rủi ro của công ty cho thuê tài chính cao lên. Môi
trường chính trị-xã hội cũng có những ảnh hưởng nhất định, thể hiện qua lối
sống, thói quen, phong tục sử dụng tài sản của người kinh doanh, người tiêu
dùng. Ví dụ như thói quen sử dụng đồ rẻ tiền không đảm bảo chất lượng có thể
dẫn tới việc tài sản nhanh chóng xuống cấp, hư hỏng không thu hồi về được.
∗ Môi trường tự nhiên:
Bên cạnh các yếu tố của tự nhiên như về thiên tai, địch họa có ảnh hưởng
đến hoạt động sản xuất kinh doanh, yếu tố khí hậu của từng quốc gia cũng có
ảnh hưởng đến hoạt động cho thuê tài chính. Khí hậu phức tạp, điều kiện tự