Lịch sử phát triển của NH Điện tử trên thế giới - Pdf 12


Lời mở đầu
Khi nhắc tới hệ thống ngân hàng, chúng ta thường liên tưởng ngay tới
một hệ thống những quầy làm việc, những toà nhà cao ốc. Giờ làm việc của
ngân hàng thì bị bó hẹp từ 7-8 giờ sáng đến 4-5 giờ chiều (Brick and mortar
banking). Nhưng đối với khách hàng, vốn bận rộn với công việc và luôn
thiếu thời gian, họ không thể nào thoả mãn với một hệ thống cứng nhắc như
vậy. Ngày nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của công nghệ mới như
Internet, mạng điện thoại di động, Web TV…đã thúc đẩy sự xuất hiện của
một mô hình ngân hàng mới - ngân hàng điện tử (click and mortar banking).
Bằng những bước phát triển vượt bậc trong những năm qua, ngân hàng điện
tử đã tự khẳng định được vai trò tất yếu của mình đối với hệ thống ngân
hàng.
Kể từ khi những ngân hàng đầu tiên cung cấp dịch vụ ngân hàng qua
mạng đầu tiên ra đời, đến nay, đã có rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm, thành
công cũng như thất bại trên con đường xây dựng một hệ thống ngân hàng
điện tử hoàn hảo, phục vụ tốt nhất cho khách hàng, và nó đã khẳng định
được xu hướng tất yếu của hệ thống ngân hàng trong thế kỷ 21 chính là phát
triển hệ thống ngân hàng điện tử. Xu hướng phát triển này đòi hỏi các ngân
hàng Việt Nam, hiện còn đang đứng ngoài cuộc, phải luôn nỗ lực nhằm đi
trước, đón đầu, tiếp thu kinh nghiệm để xây dựng một hệ thống hiệu quả và
phù hợp cho chính mình. Đặc biệt, trong môi trường hội nhập và tự do hoá
tài chính hiện nay, với những cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn
nhưng cũng như những cơ hội lớn, thành công chắc chắn chỉ đến với những
ai đủ bản lĩnh và tự tin, biết nắm bắt thời cơ, tiếp thu kinh nghiệp cũng như
có những bước đi vững chắc trên đôi chân của chính mình.
Trong đề án của mình em chia làm hai phần: phần đầu em xin được
trình bày khái quát về vấn đề ngân hàng điện tử và phần hai em đi sâu vào
phản ánh tình hình chung của ngân hàng điện tử Việt Nam hiện nay.
Do khả năng hạn chế chỉ mới dừng ở lý thuyết vì vậy đề tài của em có
nhiều khiếm khuyết, rất mong được sự góp ý, giúp đỡ của thầy, cô. Em rất

các chủ ngân hàng cho biết ngân hàng điện tử là sự lựa chọn chiến lược của
ngành công nghiệp ngân hàng hiện nay. Những ứng dụng của thương mại
điện tử trong lĩnh vực công nghiệp ngân hàng đã trở thành chủ đề được quan
tâm nhất tại hội nghị.
Giới chủ ngân hàng thừa nhận rằng, mức độ phát triển nhanh chóng
của mạng và công nghệ thông tin đã mạng lại thay đổi chưa từng thấy trong
lĩnh vực công nghiệp ngân hàng truyền thống và các ngân hàng ngày nay
không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc đẩy nhanh các giải pháp ứng dụng
thương mại điện tử. 2

Wang Xuebing, Chủ tịch Ngân hàng tái thiết Trung Quốc (CCB) cho
biết sự phát triển công nghệ thông tin và mạng đã đem lại cho giới công
nghiệp ngân hàng những cơ hội to lớn. Ðể phát triển được, các ngân hàng
buộc phải tìm kiếm những giải pháp kết hợp công nghệ thông tin và mạng
cùng với các phương thức kinh doanh ngân hàng truyền thống.
Wang Xuebing nói: "Sự xuất hiện của nền kinh tế mới và công nghệ
thông tin đã làm thay đổi bộ mặt của ngành công nghiệp tài chính và trên
thực tế ngành công nghiệp tài chính toàn cầu đã được liên kết với nhau qua
hệ thống máy tính đồ sộ. Những thay đổi có tính cách mạng đã đưa lại mọi
người có những nhận thức hoàn toàn khác trước kia về phương hướng đầu
tư. Ngoài ra, các công ty quản lý tài chính và những quy định pháp luật tài
chính cũng đang có sự thay đổi lớn".
Thực tế, ngành công nghiệp ngân hàng đang đóng vai trò quan trọng
trong việc thúc đẩy phát triển thương mại điện tử cùng với sự xuất hiện hàng
ngày các sản phẩm mới có liên quan đến ngân hàng như thẻ tín dụng, giao
dịch ngân hàng qua điện thoại di động, ngân hàng tự phục vụ... và tiền điện
tử hay ví điện tử cũng đang trở thành hiện thực.

xem thông tin tài khoản, nhận thông tin giao dịch chứng khoán. Internet ở
đây chỉ đóng vai trò như một dịch vụ cộng thêm vào để tạo thêm sự thuận
lợi thêm cho khách hàng. Hầu hết các ngân hàng vừa và nhỏ đang ở hình
thái này.
E-business: trong hình thái này, các xử lý cơ bản của ngân hàng cả ở
khách hàng và cả ở người quản lý đều được tích hợp với Internet và các
kênh phân phối khác. Giai đoạn này được phân biệt với hai giai đoạn sơ khai
ở trên bởi sự gia tăng về sản phẩm và chức năng của ngân hàng với sự phân
biệt sản phẩm theo nhu cầu và quan hệ của khách hàng đối với ngân hàng.
Hơn thế nữa, sự phối hợp, chia sẻ dữ liệu giữa hội sở ngân hàng và các kênh
phân phối như chi nhánh, mạng Internet, mạng không dây…giúp cho việc
xử lý yêu cầu và phục vụ khách hàng được nhanh chóng và chính xác hơn.
Internet và khoa học công nghệ đã tăng sự liên kết, chia sẻ thông tin giữa
ngân hàng, đối tác, khách hàng, cơ quan quản lý…
E-bank: chính là mô hình lý tưởng của một ngân hàng trực tuyến
trong nền kinh tế điện tử, một sự thay đổi hoàn toàn trong mô hình kinh
doanh và phong cách quản lý. Những ngân hàng này sẽ tận dụng sức mạnh
thực sự của mạng toàn cầu nhằm cung cấp toàn bộ những giải pháp tài chính
cho khách hàng với chất lượng tốt nhất. Từ những bước ban đầu là cung cấp
những sản phẩm, dịch vụ hiện hữu thông qua nhiều kênh riêng biệt, ngân
hàng có thể sử dụng nhiều kênh liên lạc này nhằm cung cấp nhiều giải pháp
khác nhau cho từng đối tượng khách hàng chuyên biệt.
1.4 Sự ra đời của các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng điện tử.
Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới, các sản phẩm và dịch vụ của
ngân hàng điện tử đã phát triển khá phổ biến, đa dạng về loại hình. Tại các
nước phát triển, trong thập niên 60, hệ thống chi nhánh ngân hàng đã đóng
vai trò là kênh phân phối duy nhất tới thị trường, thập niên 70 là sự xuất hiện
của ATM-hệ thống máy rút tiền tự động- sau đó mạng lưới ATM đã nhanh
chóng lan rộng, cuối những năm 80 là Phone banking-dịch vụ ngân hàng qua
điện thoại, và những năm 90 chứng kiến sự ra đời của Internet banking, có

khách hàng tiềm năng. Mạng lưới ATM còn cho phép sử dụng các thẻ tín
dụng quốc tế do các tổ chức quốc tế phát hành như Visa, Master, American
express…Tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại đã và đang tiếp tục phát
triển mạng lưới kênh phân phối ATM. Theo thống kê, Việt Nam hiện nay có
khoảng 2,1 chủ thẻ. Xét về sản phẩm thẻ quốc tế, ngày càng có nhiều ngân
hàng tham gia vào thị trường thẻ quốc tế nên số lượng và chủng thẻ này
cũng gia tăng nhanh chóng.
1.4.2 Phone Banking- dịch vụ ngân hàng qua điện thoại.
Phone banking là kênh phân phối các dịch vụ ngân hàng cung cấp tới
khách hàng thông qua điện thoại, cho phép khách hàng kết nối tới ngân hàng
và thực hiện các giao dịch với ngân hàng. Khi khách hàng kết nối tới ngân
hàng, thông qua các cấu trúc như thư mục Voice, khách hàng lựa chọn các
dịch vụ ngân hàng theo mong muốn của mình.5

Việc sử dụng Phone Banking có thể đem lại cho khách hàng tiện ích
như vấn tin số dư tài khoản, nhận được các thông tin về các khoản tín dụng,
chuyển tiền giữa các tài khoản và đặt lệnh dừng hoặc dỡ bỏ lệnh dừng đối
với các tài khoản séc. Hiện nay tại Việt Nam ngân hàng cổ phần á Châu-
ACB đang triển khai kênh phân phối này.
1.4.3 Internet banking.
Với Internet banking, khách hàng có thể sử dụng dịch vụ ngân hàng
một cách thuận tiện tại nhà, tại công sở hay thậm chí tại bất cứ con phố nào,
vào bất cứ thời điểm nào. Khách hàng sẽ tiết kiệm được thời gian và dành
thời gian quý báu để sử dụng cho việc khác. Khách hàng có thể sử dụng dịch
vụ ngân hàng 24/24. Chỉ với một thao tác đơn giản, khách hàng có thể thực
hiện các giao dịch: vấn tin số dư tài khoản, kiểm tra các giao dịch trong quá
khứ trong thời gian lên tới 90 ngày, chuyển tiền, thanh toán hoá đơn, quản lý

dụng các kênh phân phối face-to-face như tại các chi nhánh của ngân hàng.
Thời gian vừa qua, các ngân hàng dã tiếp tục đào tạo khách hàng của họ về
các tiện ích mà khách hàng có thể có được từ việc sử dụng Internet banking,
đặc biệt là tại các nước mà Internet được nhiều người sử dụng. Thực tế, các
ngân hàng mong muốn rằng khách hàng có thể thực hiện các giao dịch với
máy tính của họ, sự giản đơn và tiện dụng đã thực sự hấp dẫn được khách
hàng. Tại Việt Nam, các ngân hàng cũng đang bước đầu tiên triển khai kênh
phân phối này, trong số đó có VCB, BIDV, ACB, ICB.
1.4.4 Mobile banking.
Mạng điện thoại di động đã trở thành rất phổ biến, đó là cơ sở quan
trọng cho sự khẳng định khả năng cao trong việc thâm nhập thị trường và
rằng dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng qua kênh phân phối này đã
tạo ra sự kết dính giữa khách hàng hiện tại, trong đó có tính tới khả năng
cung cấp dịch vụ tại mọi nơi, mọi lúc cho khách hàng. Chúng ta có cơ sở để
khẳng định rằng các dịch vụ mà kênh phân phối này có thể tạo ra còn tốt hơn
ngay cả công nghệ của chính nó- công nghệ không dây Wireless-và dịch vụ
sẽ là thứ sẽ đem lại lợi nhuận chứ không phải công nghệ.
Tiện ích đem lại từ việc cung cấp đường truy cập qua mạng không
dây-wireless là các thông tin tài chính đặc thù tại mọi thời điểm và mọi nơi
sẽ đem lại sự tăng trưởng trong số lượng giao dịch của mỗi khách hàng.
Điều này tới lượt nó đem lại lợi nhuận cho ngân hàng đồng thời cũng làm
mở rộng và nổi bật sự xuất hiện của mạng lưới chi nhánh.
Chúng ta cần biết rằng, không có một tiêu chuẩn nào trong công nghệ
không dây của ngân hàng và mỗi ngân hàng có những yêu cầu đặc thù.
Mobile banking có hai kênh phân phối nhỏ là SMS và WAP, trong đó kênh
SMS cho phép khách hàng nhận được dịch vụ với mức phí thấp nhất, đặc
biệt hữu dụng đối với các quốc gia đang có mức phí viễn thông cao.
Đối với những khách hàng không muốn sử dụng dịch vụ qua Internet,
ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ cho họ thông qua Mobile banking. Thực
tế, Mobile banking không phảI là một khái niệm mới, hơn thế lịch sử của nó

khách hàng sẽ là thành viên chính thức và đủ điều kiện để thanh toán thông
tin qua điện thoại di động.
1.4.5 Home banking.
Ngân hàng tại nhà, khách hàng giao dịch với ngân hàng qua mạng
nhưng là mạng nội bộ (Intranet) do ngân hàng xây dựng riêng. Các giao dịch
được tiến hành tại nhà thông qua hệ thống máy tính nối với hệ thống máy
tính của ngân hàng. Thông qua dịch vụ Home banking, khách hàng có thể
thực hiện các giao dịch chuyển tiền, liệt kê giao dịch, tỷ giá, lãi suất, báo nợ,
báo có,…Để sử dụng được dịch vụ home banking khách hàng chỉ cần có
máy tính kết nối với hệ thống máy tính của ngân hàng thông qua modem-
đường điện thoại quay số, khách hàng phải đăng ký số điện thoại và chỉ
những số điện thoại này mới được kết nối với hệ thống Home banking của
ngân hàng.
1.4.6 Call center.
Callcenter bắt đầu hình thành vào những năm 80, đã tạo ra một cách
thức mới trong chiến lược phát triển kênh phân phối, một loạt những dịch vụ
được cung cấp với mức giá cạnh tranh tới khách hàng thông qua phone bằng 8

việc đào tạo nhân viên của ngân hàng. Việc sử dụng TDMF (Dial tone mutil
frequency) đã giảm đi điều gây khó chịu cho nhiều khách hàng do cấu trúc
thư mục cuả Telephone banking. Đây được xem là bước tiếp theo của việc
tiếp tục giảm chi phí và tăng hiệu quả, tiện ích cho khách hàng.
Việc thực hiện các dịch vụ mới đã đạt được khách hàng mới. Thị phần
các khách hàng này thường coi trọng trạng thái độc quyền trong khả năng
giao dịch với ngân hàng bán lẻ. Với đặc thù đó, các tỷ lệ phí cao đối với việc
đề nghị thấu chi, các khoản tín dụng… các ngân hàng đã nhận ra được giá trị
tiềm năng mà đối tượng khách hàng này mang lại cho mình.


9

nhưng lớn hơn khoảng 20% so với giao dịch B2C (Business to Consumer).
Tại Pháp, số lượng tài khoản ngân hàng điện tử đã tăng 75%/năm và dự
đoán sẽ đạt tới con số 10.000 tài khoản vào năm 2003.
1.5.2 Thị trường B2B (khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp).
Đây là một thị trường đầy tiềm năng và tăng trưởng nhanh chóng. Với
sự hiện diện ngày càng nhiều của các công ty trực tuyến, các cửa hành “ảo”
và xu hướng gia tăng ngày càng nhiều người tiêu dùng mua bán hàng hoá và
sử dụng dịch vụ trên mạng, Internet và thương mại điện tử đã có những bước
tăng trưởng đáng kinh ngạc. Theo nghiên cứu của Gartner Group và Forester
Research, doanh thu từ giao dịch B2B chỉ riêng năm 1999 là 91 triệu USD
và ước đạt 2,7 tỷ USD vào năm 2003. Tính tới năm 2003, chỉ riêng tại Mỹ
đã có gần 16.000 tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ qua mạng, tăng gấp bội
lần so với con số 1.150 tổ chức vào năm 1998.
1.6 Một số phương tiện giao dịch thanh toán điện tử được sử
dụng trong ngân hàng điện tử.
1.6.1 Tiền điện tử-Digital cash.
Tiền điện tử là một phương thức thanh toán trên Internet. Người muốn
sử dụng tiền điện tử yêu cầu tới ngân hàng. Ngân hàng phát hành tiền điện tử
sẽ phát hành một bức điện được ký phát bởi mã cá nhân (private key) của
ngân hàng và được mã hoá bởi khoá công khai (Public key) của khách hàng.
Nội dụng bức điện bao gồm thông tin xác định người phát hành, địa chỉ
Internet, số lượng tiền, số seri, ngày hết hạn (nhằm tránh việc phát hành và
sử dụng hai lần). Ngân hàng sẽ phát hành tiền với từng khách hàng cụ thể.
Khách hàng cất giữ tiền điện tử trên máy tính cá nhân.
Khi thực hiện một giao dịch mua bán, khách hàng gửi tới nhà cung
cấp một thông điệp điện tử được mã hoá bởi khoá công khai của nhà cung
cấp hàng hoá, dịch vụ. Nhà cung cấp dùng khoá riêng của mình để giải mã

Luật về chữ ký điện tử- hướng dẫn 1999-93 EC (Châu Âu). Mục tiêu
là khuôn khổ pháp lý và các điều kiện kỹ thuật của chữ ký điện tử.
Hướng dẫn về các tổ chức kinh doanh tiền điện tử- hướng dẫn số
2000-45-EC ngày 18/9/2000. Mục tiêu là thúc đẩy niềm tin của khách hàng
vào việc sử dụng đồng tiền điện tử, xây dựng một khuôn khổ quy định cho
các tổ chức kinh doanh tiền điện tử.
Kiến nghị về an toàn điện tử. Kiến nghị của uỷ ban Châu Âu ngày
6/6/2001 mục tiêu là đảm bảo tính bảo mật và khả năng truy cập của mạng
lưới thông tin.
Luật về ngân hàng và các giao dịch tài chính điện tử (Libăng)- thông
tư số 1810 ngày 30/3/2000. Mục tiêu của luật này là hiện đại hoá, điều chỉnh
và tổ chức ngành ngân hàng điện tử.
Đạo luật về chữ ký điện tử, cơ quan ban hành SEC năm 1999. Mục
tiêu là giữ lại các hồ sơ giao dịch điện tử theo yêu cầu của các quy định, đạo
luật hay luật, quy tắc các điều khoản xác minh, lưu trữ hồ sơ và thời hạn.
Nhình chung, để các giao dịch điện tử đI vào hoạt động ổn định thì ở các 11

nước phát triển, việc xây dựng luật giao dịch điện tử đã được triển khai khá
tốt, đặt nền móng để đưa giao dịch điện tử đến gần hơn với người sử dụng.
II. Tiền đề để phát triển ngân hàng điện tử.
2.1 Sự xuất hiện mạng Internet - một gợi ý phát triển ngân hàng
điện tử.
Vai trò của mạng Internet đối với nền kinh tế thế giới hiện nay thực sự
không thể nào phủ nhận. Mỗi ngày, số người sử dụng Internet tăng lên
không ngừng và rất nhiều ứng dụng của mạng toàn cầu được con người
khám phá. Vào cuối năm 2001, trên thế giới đã có trên 670 triệu người sử
dụng Internet và theo dự báo của ETFORECASTS, số người sử dụng

Sự tương tác và trao đổi thông tin giữa ngân hàng và khách hàng
thông qua mạng máy tính đã giúp cho ngân hàng có thể nắm bắt cụ thể nhu
cầu của khách hàng và “cá biệt hoá” dịch vụ ngân hàng cho từng nhu cầu
riêng biệt và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Theo Wah năm 2003,
65% giao dịch giữa khách hàng và ngân hàng là thông qua những kênh điện
tử (electronic channels). Điều này chứng tỏ khách hàng đã quen dần và chấp
nhận sử dụng những tiến bộ công nghệ mới trong dịch vụ ngân hàng.
Thực hiện giao dịch ngân hàng qua hệ thống mạng điện thoại di động
cũng được các khách hàng trên thế giới ưa chuộng tuy nhiên do chi phí còn
hơi cao nên còn ít người chấp nhận sử dụng. Hiện nay, một số ngân hàng chỉ
mới tạm dừng trong việc cung cấp những dịch vụ đơn giản và tiện lợi cho
khách hàng như cung cấp thông tin tài khoản qua tin nhắn (SMS), cung cấp
thông tin thị trường như tỷ giá, giá cả…và tại một vài nước Châu Âu, kết
hợp với hệ thống định vị toàn cầu GMS và phần mềm ACI, khách hàng có
thể sử dụng hệ thống liên lạc này để xác nhận thanh toán tại các điểm point-
of –sales, thanh toán tiền taxi, vé đI lại…tuy nhiên đây là một thị trường rất
lớn cho các ngân hàng do sự thuận tiện và nhanh chóng của nó, chỉ riêng
Châu Âu đã có trên 30% người sử dụng mạng không dây tỏ ra thích thú với
dịch vụ ngân hàng qua mạng di động (Datamonitor IMPACT stuy 4, 2003)
iTV (TV tương tác) ra đời cũng là một công nghệ mới trong giảI trí, từ
đây những người xem tivi không phảI thụ động và chờ trực những chương
trình giảI trí mình thích mà có thể chọn chương trình, xem lại, lưu giữ
chương trình mình thích. Cùng với sự phát triển của iTV, dịch vụ ngân hàng
quan TV tương tác cũng rất được ưa chuộng và hứa hẹn nhiều triển vọng,
Datamonitor đã dự đoán vào năm 2003, số người sử dụng iTV tại Châu Âu
sẽ đuổi kịp số người sử dụng Internet vào năm 2005.
III. Những vấn đề cần chú trọng khi phát triển ngân hàng điện tử.
3.1 Vấn đề bảo mật và an ninh mạng - một yếu tố quan trọng
trong tiến trình xây dựng ngân hàng điện tử.
Bảo mật và an ninh mạng luôn là vấn đề được xét đến đầu tiên trong

Nếu các ngân hàng mong muốn tiếp tục phát triển nền khách hàng và
có được sự tăng trưởng giao dịch thông qua ngân hàng điện tử, chắc hẳn họ
còn phải làm nhiều việc để có thể thuyết phục khách hàng - các thế hệ khách
hàng truyền thống - về tính bảo mật và an toàn dù là các dịch vụ ngân hàng
trực tuyến phục vụ cố định hay thông qua các thiết bị di động. Vấn đề chính
là khi các ngân hàng quản lý một giao dịch thông qua mạng không dây,
khách hàng chỉ cần duy nhất một số PIN để bắt đầu thực hiện các giao dịch
và chính số PIN duy nhất đó đã không đảm bảo rằng người đang giao dịch là
chủ tài khoản đích thực. Một vấn đề khác cũng rất quan trọng là nhiều vụ tấn
công vào tính bảo mật và hệ thống bảo mật của ngân hàng. Hiện nay, không
có tiêu chuẩn nào về tính bảo mật, các giải pháp được đưa ra hiện nay bao
gồm: hạn chế các loại giao dịch để có thể giảm thiểu rủi ro cho khách hàng,
ví như việc chuyển tiền tới một đối tượng thứ 3, sử dụng một số PIN khác
cho Mobile banking ví như việc sử dụng một số dịch vụ thông qua kênh
phân phối của Mobile banking của Citibank thông qua MPIN (Mobile
banking personal indentification numrber); cấu trúc mạng phải vững chắc…
Hệ thống bảo mật đang được sử dụng phổ biến hiện nay là PKI (phublic key
infrastructure), một cấu trúc mã hoá sử dụng cho PDA và smart_phone, PKI
chứa hai mã, một mã cho công chúng và một mã cho cá nhân, được sử dụng
để xác thực người sử dụng và mã hoá dữ liệu.
Với mạng Internet, các ngân hàng có thể thực hiện các giao dịch với
khách hàng 24h trong ngày và 7 ngày trong tuần – điều này cũng tiềm ẩn 14

nguy cơ rủi ro về giao dịch tăng lên rất lớn và phát sinh yêu cầu quản trị rủi
ro đó. Các ngân hàng đang rất dè dặt trong việc đi ra trước công chúng nhằm
tránh khỏi những phá hoại có thể ảnh hưởng tới danh tiếng của ngân hàng.
Điều đáng quan tâm này có thể trở nên trầm trọng hơn bởi nhiều khách quan

mất mô hình ngân hàng bán lẻ truyền thống và mở đường cho những người
mới ở ngoài lĩnh vực ngân hàng. Nhưng quan điểm thống trị hiện nay đó là
sự thành công của ngân hàng điện tử chỉ đến khi nó được xây dựng trên nền
tảng ngân hàng truyền thống, đó là sự kết hợp giữa “click” và “mortar” (hiện 15

đại và cổ điển). Mạng Internet toàn cầu được coi như là một kênh phân phối
mới, bổ sung cho những kênh phân phối hiện tại như ngân hàng qua điện
thoại hay mạng lưới ATM (máy giao dịch tự động – Automatic teller
machine)…
Hai ví dụ tiêu biểu chính là ngân hàng Well Fargo tại Mỹ và Nordea
tại Scandinavia. Hai ngân hàng đã áp dụng mô hình này ngay từ những ngày
đầu của kỷ nguyên Internet. Well Fargo đã có số tài khoản ngân hàng điện tử
cao nhất thế giới hiện nay, 3triệu trong số 24 triệu tài khoản, còn Noredea thì
có số khách hàng trực tuyến qua mạng đông nhất, khoảng 2,3 triệu khách
hàng, chiếm khoảng 20%. Và nguyên nhân thành công được tổng kết như
sau:
Cả hai ngân hàng đều là ngân hàng dẫn đầu trên thị trường của họ, họ
có hệ thống khách hàng lớn và nhiều tiềm năng (tỷ lệ sử dụng Internet tại 2
khu vực này rất cao).
Cả hai ngân hàng đều có mong muốn “ảo hoá ngân hàng”, sử dụng
mạng Internet để phân phối những sản phẩm, dịch vụ mới.
Cả hai đều ứng dụng công nghệ Internet từ rất sớm: ví dụ như Well
Fargo năm xuất hiện trên mạng là từ 1989 và cung cấp dịch vụ trực tuyến
vào năm 1995.
Mô hình thứ hai là ngân hàng ảo, E-bank, là một tổ chức tín dụng chỉ
tồn tại trên môi trường mạng Internet mà không hề có một chi nhánh truyền
thống nào. Ngân hàng có thể tồn tại mà không bị hạn chế bởi bất cứ giới hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status