Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
PHM TH MINH
S PHT TRIN KHOA HC - K THUT
CA CNG HềA N T 1950 N 2010
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
2
nghÖ an - 2012
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
PHM TH MINH
S PHT TRIN KHOA HC - K THUT
CA CNG HềA N T 1950 N 2010
Chuyên ngành: lịch sử thế giới
Mã số: 60.22.50
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS. ts. nguyễn công khanh
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề...........................................................................11
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu...................................................................13
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu................................................14
5. Đóng góp của luận văn................................................................................15
6. Bố cục luận văn...........................................................................................15
B. NỘI DUNG.................................................................................................16
Chương 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA KHOA HỌC - KỸ THUẬT ẤN ĐỘ TỪ 1950 ĐẾN 2010....................16
1.1. Nhân tố quốc tế.........................................................................................16
1.1.1. Cách mạng khoa học - kỹ thuật trên thế giới.........................................16
1.1.2. Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa....................................................17
1.2. Nhân tố trong nước ..................................................................................20
1.2.1. Thuận lợi...............................................................................................20
1.2.2. Khó khăn...............................................................................................22
1.3. Khoa học - kỹ thuật Ấn Độ trong lịch sử.................................................23
1.4. Chính sách khoa học - kỹ thuật của nhà nước Ấn Độ..............................25
Tiểu kết chương 1............................................................................................30
Chương 2
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THÀNH TỰU CHÍNH
CỦA KHOA HỌC - KỸ THUẬT ẤN ĐỘ TỪ 1950 ĐẾN 2010....................32
2.1. Trong nông nghiệp: “Cách mạng xanh”, “Cách mạng trắng”..................32
2.1.1. “Cách mạng xanh”.................................................................................32
2.1.2. “Cách mạng trắng”................................................................................38
2.2. Trong Công nghệ thông tin......................................................................40
2.3. Khoa học vũ trụ........................................................................................49
2.4. Vũ khí tên lửa...........................................................................................58
2.5. Năng lượng hạt nhân................................................................................66
2.5.1. Chính sách năng lượng hạt nhân Ấn Độ................................................66
2.5.2. Thành tựu trong lĩnh vực hạt nhân Ấn Độ............................................69
Công nghiệp hóa
CNTT
Công nghệ thông tin
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
DAE
Ủy ban Năng lượng nguyên tử quốc gia Ấn Độ
DRDO
Tổ chức Nghiên cứu và phát triển quốc phòng
FPT
Tập đoàn tin học Việt Nam
H.
Hà Nội
IAEA
Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế
Nghiên cứu và phát triển
TES
Chương trình phát triển vệ tinh trinh sát
Tr.CN
trước Công nguyên
TTX VN
Thông tấn xã Việt Nam
UBKHKHNN
Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước
USD
Đồng đô la Mỹ
9
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Khoa học - kỹ thuật (KH-KT) có vai trò cực kỳ quan trọng đối với
sự phát triển KT-XH loài người nói chung, mỗi một quốc gia nói riêng. Trong
lịch sử, nhất là thời cận, hiện đại, để thay thế hình thái kinh tế xã hội này bằng
cháu của ông tổ Bharat. Nhiệm vụ đó đã được nhân dân Ấn Độ dưới sự lãnh
đạo của J.Nehru, I.Gandhi, N.Rao, M.Singh... giải quyết có hiệu quả. Nếu thế
kỷ XIX được đánh giá là thế kỷ phát triển của nước Anh, thế kỷ XX là thế kỷ
của Mỹ thì thế kỷ XXI được xem là “Thế kỷ châu Á” với sự nổi lên của hai
trung tâm Trung Quốc và Ấn Độ. Với tốc độ phát triển kinh tế vượt bậc Ấn
Độ được mệnh danh là “con voi” đang không ngừng phát huy ảnh hưởng sâu
rộng ở khu vực châu Á Thái Bình Dương cũng như trên trường quốc tế. Quá
trình phát triển kinh tế Ấn Độ đầy thử thách trong đó quốc gia Nam Á này đã
đi theo một cách thức riêng của mình và đã đạt được những thành quả rực rỡ.
Từ những ngày đầu đầy khó khăn sau ngày độc lập đến những bước đi tập
tễnh trong công cuộc cải cách, những kết quả an ủi trong thập kỷ 90 của thế
kỷ trước. Cho đến nay những cố gắng của giới lãnh đạo và nhân dân Ấn Độ
đã thực sự được được bù đắp. Một trong những nguyên nhân tạo nên thành
công đó là do nhà nước Ấn Độ đã lựa chọn cho mình một hướng đi phù hợp,
chú trọng đầu tư về khoa học - kỹ thuật, cụ thể là các cuộc “Cách mạng xanh”
“Cách mạng trắng”, với những biện pháp mạnh mẽ trong nông nghiệp, công
nghệ thông tin, năng lượng nguyên tử … đã đưa đất nước phát triển mạnh mẽ
với tốc độ đáng kinh ngạc.
Sự phát triển của kinh tế nói chung và khoa học - kỹ thuật Ấn Độ nói
riêng ảnh hưởng lớn đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đến Việt Nam,
nó sẽ tạo ra những thời cơ cũng như những thách thức đối với nhiều nước
trong khu vực. Chính vì vậy nghiên cứu khoa học - kỹ thuật Ấn Độ giai đoạn
này có ý nghĩa rất quan trọng.
11
Về ý nghĩa lí luận, việc tìm hiểu quá khoa học - kỹ thuật Ấn Độ sẽ cung
cấp cho chúng ta một cái nhìn toàn diện, sự hiểu biết sâu sắc về thành tựu
cũng như tác động của khoa học thế giới. Mặt khác từ việc hiểu biết lĩnh vưc
này của Ấn Độ chúng ta có thể rút ra nhiều điều bổ ích, rút ra được nguyên
Ban, Nguyễn Công Khanh, Đinh Trung Kiên (NXB Giáo dục H.1995) đã khái
quát về đất nước, con người và nền văn hóa Ấn Độ; giới thiệu các thời kì cổ
-trung đại, chặng đường dài từ một thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập
và quá trình xây dựng đất nước phồn vinh. Quyển sách cũng đề cập đến khoa
học - kỹ thuật Ấn Độ thời cổ trung đại, Tuy nhiên nội dung tác phẩm mang
tính khái quát trình bày khá rộng quá trình lịch sử đất nước nên khoa học - kỹ
thuật ko được chuyên sâu.
- Tác giả Đinh Trung Kiên với Ấn Độ hôm nay và hôm qua đề cập đến
thành tựu nổi bật mà Ấn Độ đạt được nói chung trong đó có những cố gắng về
khoa học - kỹ thuật trong sự so sánh với giai đoạn trước trong lịch sử.
- Đỗ Đức Định với chuyên luận Nông nghiệp Ấn Độ đề cập đến điều
kiện thuận lợi của nền nông nghiệp Ấn Độ, những thành tựu mà Ấn Độ đạt
được trong lĩnh vực này. Trong đó, tác giả có nhắc đến vai trò của các cuộc
“Cách mạng xanh” và “Cách mạng trắng”.
Sự phát triển khoa học - kỹ thuật của Cộng hòa Ấn cũng được đề cập
trong một số công trình, bài viết:
- J.Nehru - Tiểu sử và sự nghiệp của Nguyễn Công Khanh (NXB Giáo
dục H.2002) đề cập đến cuộc đời và cống hiến của lãnh tụ J.Nehru trong đấu
tranh giành độc lập cho Ấn Độ và phong trào hoà bình thế giới. công lao của
ông đối với Ấn Độ trong quá trình xây dựng kinh tế từ 1947-1964, với việc
xây dựng nền khoa học - kỹ thuật trong giai đoạn đầu khó khăn. Bài viết
I. Gandhi- một bản lĩnh chính trị lớn của Nguyễn Công Khanh (Tạp chí
Nghiên cứu lịch sử 1995) đã khắc họa chân dung nhân vật I. Gandhi, công
13
lao của Bà đối với lịch sử Ấn Độ, đối với sự phát triển kinh tế, khoa học của
quốc gia này.
Tuy nhiên, lĩnh vực khoa học chỉ được nhắc đến để làm nổi bật đóng
góp toàn diện của nhân vật.
- Các văn bản của Chính phủ Ấn Độ;, các công trình khoa học của các
nhà nghiên cứu nêu lên các vấn đề liên quan đến đề tài.
- Những công trình nghiên cứu gồm sách, báo, tạp chí, luận văn, luận
án … về sự phát triển khoa học - kỹ thuật của Cộng hòa Ấn Độ.
- Nguồn tài liệu chủ yếu là Thông tấn xã Việt Nam (TTX VN): Tin thế
giới và các tài liệu Tham khảo đặc biệt…, từ các báo Nhân dân, báo Hà Nội
mới, báo Lao động, báo Quân đội nhân dân, báo Sài Gòn giải phóng…, sự
phát triển của KH-KT của Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1950 đến 2010 là rất
quan trọng và có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn, nhất là đối với
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở có những nguồn tài liệu đã thu thập được, với những yêu
cầu về đối tượng và phạm vi nghiên cứu đã đặt ra, trong quá trình nghiên cứu,
chúng tôi đã vận dụng những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và hai phương pháp chuyên ngành cơ bản của khoa học
lịch sử là phương pháp lịch sử, phương pháp logic. Đây là công cụ cơ bản để
chúng tôi định hướng đề tài, xác định trọng tâm nghiên cứu vấn đề để xử lý
nguồn tư liệu một cách khoa học, chân thực và khách quan.
Ngoài ra để giải quyết các yêu cầu khoa học của đề tài, chúng tôi cũng
vận dụng cơ sở phương pháp luận, các phương pháp liên ngành khác như
phương pháp quan hệ kinh tế, phân tích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu, suy
luận, trong quá trình hoàn thành luận văn.
15
5. Đóng góp của luận văn
- Làm rõ sự phát triển của KH-KT ở CH Ấn Độ và vai trò của nó đối
với nước này.
- Bài học kinh nghiệm về tầm quan trọng của việc phát triển KH-KT
đối với sự nghiệp phát triển và hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn này.
tư bản bước sang một giai đoạn mới - giai đoạn Tư bản độc quyền nhà nước
và nó trực tiếp tác động vào mọi ngành kinh tế quốc dân, mọi lĩnh vực xã hội.
Nền sản xuất xã hội chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang thời đại hậu
công nghiệp hay văn minh truyền tin [24, 10].
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đã đẩy chủ nghĩa tư bản phát
triển lên một bước mới về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, quốc tế
hóa, khu vực hóa các tổ chức kinh tế. Cũng nhò ứng dụng những thành tựu
mới của KH và CN, cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất,
điều chỉnh các hình thức sở hữu và chính sách xã hội mà các nước tu bản
17
tiếp tục phát triển với tốc độ chưa từng có.. Cuộc cách mạng khoa học - kỹ
thuật diễn ra rất nhanh chóng và sâu rộng trên phạm vi toàn cầu cũng làm
thay đổi cục diện chính trị thế giới, chuyển cuộc đấu tranh về chính trị quân
sự sang cuộc chạy đua giành ưu thế về kinh tế, khoa học - kỹ thuật và công
nghệ giữa các nước, giữa các trung tâm. Đồng thời cũng làm cho quá trình
quốc tế hóa nền kinh tế diễn ra mạnh mẽ tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách
thức đối với các quốc gia.
1.1.2. Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa.
Toàn cầu hóa, mà chủ yếu là toàn cầu hóa kinh tế, là quá trình gia tăng
mạnh mẽ sự lưu thông hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động giữa các quốc gia,
các khu vực trên toàn thế giới. Hay nói khác đi, toàn cầu hóa kinh tế là các
mối quan hệ kinh tế song phương và đa phương tác động lẫn nhau, phụ thuộc
lẫn nhau của các quốc gia trên toàn thế giới. Các mối quan hệ đó đã trở thành
phổ biến, ngày một sâu sắc và gia tăng mạnh mẽ.
Trước kia, các quốc gia dân tộc thường cát cứ, biệt lập, ít có quan hệ
với nhau. Biên giới quốc gia dân tộc còn là địa bàn cho lực lượng sản xuất
phát triển. Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ mà biên giới
quốc gia dân tộc đã trở nên chật hẹp thì nó đòi hỏi phải tháo bỏ hàng rào biên
thất bại thì mất mát không phải ít. Toàn cầu hóa làm trầm trọng thêm sự bất
công xã hội, làm cho khoảng cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các
nước ngày một doãng ra. Hiện nay, các nước công nghiệp phát triển với
khoảng 1,2 tỉ người chiếm tới 86% GDP toàn cầu, 4/5 thị trường xuất khẩu,
trong khi các nước nghèo nhất chiếm 1/5 dân số thế giới chỉ tạo ra 1% GDP
của thế giới. Mặc dù sản xuất thực phẩm cơ bản toàn thế giới đã ở mức 110%
nhu cầu, nhưng hằng năm vẫn có khoảng 30 triệu người nghèo tiếp tục bị chết
đói và khoảng trên 800 triệu người đang thiếu ăn (2).
Toàn cầu hóa đã làm suy yếu vai trò của quốc gia dân tộc, thu hẹp
quyền lực, phạm vi và hiệu quả tác động của các nhà nước dân tộc. Ranh
19
giới quốc gia dường như bị xóa nhòa, bản sắc dân tộc dường như cũng bị
phai nhạt dần do sự xâm nhập của lối sống và văn hóa phương Tây. Và,
điều nguy hại nhất là nó đẩy một bộ phận người nghèo, thất nghiệp vào tâm
trạng chán chường, bất mãn, tự hủy hoại đời mình bằng ma túy, mại dâm,
trộm cướp...
Toàn cầu hóa đã làm cho mọi mặt hoạt động và đời sống của từng con
người, từng gia đình, từng quốc gia và toàn thế giới trở nên kém an toàn hơn.
Chính các mặt tiêu cực này, nói rộng ra là những thách thức của toàn
cầu hóa đã thôi thúc chủ nghĩa dân tộc kinh tế trỗi dậy mạnh mẽ. Chủ nghĩa
dân tộc kinh tế hướng các nhà nước dân tộc vào việc bảo vệ lợi ích quốc gia.
Tư tưởng chỉ đạo chính của chủ nghĩa dân tộc kinh tế là mọi hoạt động kinh tế
phải phục vụ cho mục tiêu lớn xây dựng nhà nước giàu mạnh. Vì vậy, việc
theo đuổi lợi nhuận tối đa bằng mọi cách có thể là thủ đoạn chính để đạt mục
tiêu. Nó kiên quyết chống lại toàn cầu hóa nếu vi phạm lợi ích kinh tế của
quốc gia dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc kinh tế hoài nghi và thậm chí phủ định
lợi ích thế giới của toàn cầu hóa. Nó cho rằng, lợi ích kinh tế của quốc gia dân
tộc này chỉ đạt được bằng sự hy sinh lợi ích kinh tế của quốc gia dân tộc khác.
đồng cỏ chăn nuôi như cao nguyên Đê Can, cao nguyên Arvalli,…
Vùng rừng núi Ấn Độ chiếm phần lớn diện tích đất nước (21,9% đất
đai), với nguồn tài nguyên thực vật và động vật phong phú có giá trị kinh tế
cao dành cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Các loại gỗ có giá trị thương
mại cao như gỗ tếch, gỗ hồng mộc, tre... Đặc biệt, Ấn Độ có nguồn gien sinh
vật phong phú với hơn 45000 giống cây trong đó 33% là cây bản địa, 15000
giống cây có hoa quý, gần 5000 loài thú lớn, quý hiếm như hổ, báo, sư tử…
có thể phục vụ cho sự phát triển kinh tế [7, 31]. Nhiều vùng rừng ở Ấn Độ với
sự phong phú của động thực vật trở thành những địa bàn phát triển du lịch
thuận lợi (du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm…).
21
Dưới lòng đất, Ấn Độ chứa nhiều tài nguyên khoáng sản quý, phân bố
khắp mọi nơi. Các mỏ có trữ lượng lớn như than đá với 120 tỷ tấn, bao gồm
một vành đai trải rộng từ bang Mahrshtra qua vùng đồi núi của các bang
Madhya Pradesh và Bihr đến bang Ben gan... quặng sắt chiếm 1/4 trữ lượng
của thế giới với khoảng 22,4 tỉ tấn. Man gan khoảng 180 tỉ tấn, đứng thứ 3 thế
giới tập trung chủ yếu ở miền Trung Ấn Độ. Ngoài ra các khoáng sản như
crôm, bô xit, đồng, kẽm, vàng, dầu mỏ đều có trữ lượng lớn ở Ấn Độ.
Ấn Độ còn có một vùng biển rộng lớn giàu về hải sản và các nguồn lợi
khác nhau… là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế. Hiện nay Ấn Độ là
một trong những nước xuất khẩu hải sản mạnh nhất thế giới.
Ấn Độ là nước có dân số đông, lực lượng lao động dồi dào. Tính đến
tháng 7 năm 2006 dân số Ấn Độ lên đến 1,1 tỉ người, kết cấu dân số trẻ (trong
độ tuổi lao động chiếm 64,3%) là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế. Giá
nhân công tương đối rẻ cùng với trình độ tiếng Anh cao đang là một lợi thế
trong cạnh tranh nói chung và thu hút nguồn đầu tư FDI nói riêng của Ấn Độ.
Lao động của Ấn Độ được đào tạo bài bản, có tay nghề cao, trình độ được cả
thế giới thừa nhận. Ấn Độ còn có nhiều nhà khoa học tầm cỡ thế giới. Đặc
kể nhất là những xung đột, tôn giáo, sắc tộc đẫ dẫn đến những vụ bạo loạn, li
khai. Những bất ổn này không những ảnh hưởng đến các dự án đầu tư nước
ngoài ở những vùng này mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến chương trình phát
triển kinh tế- xã hội nói chung của toàn thể đất nước. Sự xuất hiện, tồn tại
nhiều đảng phải chính trị cũng gây nhiều khó khăn cho nền kinh tế Ấn Độ, sự
chống đối, công kích lẫn nhau của các đảng phái dẫn đến những chính sách
kinh tế không được thống nhất [20, 8].
Trong quá trình phát triển kinh tế, giới lãnh đạo Ấn Độ đã có nhiều cố
gắng hạn chế dần những khó khăn, phát huy lợi thế vốn có nhằm đưa Ấn Độ
tiến những bước dài trên trường quốc tế.
23
1.3. Khoa học - kỹ thuật Ấn Độ trong lịch sử
Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại. Người
Ấn Độ từ rất sớm đã có những đóng góp cho loài người về KH-KT.
Về Thiên văn, người Ấn Độ cổ đại đã làm ra lịch, họ chia một năm ra
làm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày. (Như vậy năm bình thường có 360
ngày). Cứ sau 5 năm thì họ lại thêm vào một tháng nhuận. Về Toán học, các
tri thức về lĩnh vực này đã có từ thời Veđa, với Shatapatha Brahmana (khoảng
thế kỉ IX Tr.CN), trong đó có xấp xỉ số π chính xác tới 2 chữ số thập phân và
Sulba Sutras (khoảng 800-500 Tr.CN) là các văn bản hình học sử dụng số vô
tỉ, số nguyên tố, luật ba, và căn bậc ba; tính căn bậc hai của 2 tới năm chữ số
thập phân; đưa ra phương pháp cầu phương hình tròn, giải phương trình tuyến
tính và phương trình bậc hai; phát triển bộ ba Pythagore theo phương pháp đại
số, phát biểu và nêu chứng minh cho Định lý Pythagore. Panini (khoảng thế kỉ
V Tr.CN) đã lập công thức cho ngữ pháp của tiếng Phạn. Kí hiệu của ông
tương tự với kí hiệu toán học, và sử dụng các ngôn luật, các phép biến đổi, đệ
qui với độ phức tạp đến mức ngữ pháp của ông có sức mạnh tính toán ngang
với máy Turing. Công trình của Panini cũng đi trước cả lý thuyết hiện đại ngữ
Về Vật lí, người Ấn Độ cổ đại cũng đã có thuyết nguyên tử. Thế kỉ V
Tr.CN, có một nhà thông thái ở Ấn Độ đã viết “...trái đất, do trọng lực của
bản thân đã hút tất cả các vật về phía nó”. Y học cũng khá phát triển. Người
Ấn Độ cổ đại đã mô tả các dây gân, cách chắp ghép xương sọ, cắt màng mắt,
theo dõi quá trình phát triển của thai nhi. Họ để lại hai quyển sách là “Y học
toát yếu” và “Luận khảo về trị liệu”.
Các thành phố được kế hoạch hóa hoàn hảo và xây dựng có tính kỹ
thuật là bằng chứng cho một mức độ phát triển cao của khoa học thời bấy giờ.
Con người của nền văn hóa sông Ấn đạt đến một mức độ chính xác đáng kinh
ngạc trong đo lường về chiều dài, khối lượng và thời gian. Người dân nền văn
25
hóa sông Ấn có lẽ là những người đầu tiên phát triển và sử dụng các trọng
lượng và kích thước thống nhất. Đo lường của họ hết sức chính xác. Đơn vị
chiều dài nhỏ nhất được tìm thấy trên một thước đo làm bằng ngà voi tại
Lothal tương ứng với khoảng 1,704 mm, là đơn vị nhỏ nhất trên một thước đo
thuộc thời kỳ đồ đồng đã từng được tìm thấy. Trọng lượng dựa trên đơn vị
0,05; 0,1; 1; 2; 5; 10; 20; 50; 100; 200 và 500, trong đó mỗi đơn vị nặng vào
khoảng 28 gram. Hệ thống thập phân cũng đã được biết đến và sử dụng. Được
dùng làm vật liệu xây dựng lần đầu tiên trong lịch sử của loài người là gạch
được nung với tỷ lệ kích thước toàn hảo 1:2:4 vẫn còn thông dụng cho đến
ngày nay. Trong luyện kim, nhiều kỹ thuật mới cũng được phát triển, thợ thủ
công của nền văn hóa Harappa đã sử dụng những kỹ thuật này trong lúc gia
công đồng, đồng thau, chì và thiếc.Các khai quật được tìm thấy trong năm
2001 từ Merhgarh cho thấy ngay cả cơ bản về y học và nha khoa cũng được
biết đến.
Chính sự phát triển khoa học - kỹ thuật Ấn Độ trong lịch sử đã đạt nền
móng cho sự phát triển của Ấn Độ thời hiện đại nói chung và nền khoa học kỹ thuật nói riêng.
1.4. Chính sách khoa học - kỹ thuật của nhà nước Ấn Độ