1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ NGUYỆT HẰNG
TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐÔNG TIMOR
TỪ 2002 ĐẾN 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ THẾ GIỚI
Nghệ An - 2012
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ NGUYỆT HẰNG
TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐÔNG TIMOR
TỪ 2002 ĐẾN 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ THẾ GIỚI
MÃ SỐ: 60.22.50
MỤC LỤC
1
2
3
4
5
6
Trang
1
A. MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài............................................................................. 1
Lịch sử nghiên cứu vấn đề............................................................... 2
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................. 4
Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu..................................... 4
Đóng góp của luận văn..................................................................... 4
Bố cục của luận văn......................................................................... 5
6
B. NỘI DUNG
Chương 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐÔNG ĐẾN SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA ĐÔNG TIMOR GIAI ĐOẠN 2002 - 2012
1.1
Nhân tố trong nước.......................................................................
1.1.1
Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên của Đông Timor...............
1.1.2
Dân cư và tôn giáo........................................................................
KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐÔNG
2.1.
2.1.1
2.1.2
2.2.
2.2.1
2.2.2
2.3.
TIMOR TRONG 10 NĂM (2002 - 2012)
33
Tình hình chính trị, an ninh……………………………………. 33
Cuộc bầu cử Tổng thống và bầu cử Quốc hội lần hai ở
Đông Timor................................................................................. 37
Cuộc bầu cử Tổng thống và bầu cử Quôc hội lần ba ở
Đông Timor.................................................................................
Sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội........................................
Sự phát triển kinh tế....................................................................
Tình hình văn hóa - xã hội..........................................................
Chính sách đối ngoại của Đông Timor.......................................
44
46
46
53
59
5
90
90
96
96
100
102
108
111
1
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vào thập niên 90 của thế kỷ XX, sau khi cuộc chiến tranh lạnh kết thúc,
xu thế phát triển của thế giới diễn ra theo hướng đa cực với nhiều mối quan hệ
quốc tế mới, trên nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao. Bối
cảnh toàn cầu hóa tác động mạnh mẽ đến nhiều khu vực, nhiều quốc gia trong
đó có khu vực Đông Nam Á (ĐNA).
Trải qua một quá trình tìm hiểu, nghiên cứu lâu dài, khu vực ĐNA từ
rất lâu đã được thừa nhận là có 10 quốc gia, bao gồm: ĐNA lục địa: Việt
Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma và ĐNA hải đảo: Malaixia,
Singapo, Philipin, Brunây và Indônêxia với diện tích khoảng 40 triệu km 2.
ĐNA trải rộng từ 92o đến 140o độ kinh Đông và kéo dài từ 28o vĩ Bắc, vượt
qua xích đạo đến 150 độ vĩ Nam. Điều này đã được công nhận trong 1 thời
gian dài. Nhưng cho đến ngày 20/5/2002, trên bản đồ thế giới xuất hiện quốc
gia độc lập từ 192, còn khu vực ĐNA chào đón thành viên thứ 11, đó là nước
Cộng hòa dân chủ Đông Timor.
Sự kiện Đông Timor tuyên bố độc lập và nước Cộng hòa dân chủ Đông
Timor ra đời đã trở thành vấn đề nóng hổi không chỉ đối với tình hình chính
khoa học xã hội và chính trị ở khu vực chúng ta.
Từ lý do trên, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Công Khanh,
tôi đã quyết định chọn đề tài: “Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và chính
sách đối ngoại của Đông Timor từ 2002 đến 2012” cho luận văn của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đến nay, Đông Timor vẫn là một quốc gia trẻ trên thế giới, nghiên cứu
về đất nước này còn là vấn đề hết sức mới mẻ. Nghiên cứu về Đông Timor
một cách chi tiết, hệ thống và toàn diện về lịch sử, đất nước, con người thì
đến nay chưa có một công trình độc lập nào ra đời, mặc dù vấn đề Đông
3
Timor đã nổi lên từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX. Việc đề cập đến vấn
đề Đông Timor chủ yếu được nghiên cứu chung trong các sách viết về lịch sử
Indônêxia.
Cuốn Lịch sử Đông Nam Á do GS.Lương Ninh chủ biên (NXB Giáo
dục, Hà nội, 2005) đã đề cập khái quát về lịch sử của Indônêxia, vấn đề Đông
Timor được nêu ra nhưng lại ở khía cạnh tình hình chính trị - xã hội của
Indônêxia, ngoài ra không nói gì đến lịch sử, kinh tế, xã hội của Đông Timor
như một vấn đề cụ thể. Cuốn Đông Nam Á sử lược của D.G.E Hall (Nhà sách
Khai Trí, Sài Gòn. 1966) cũng chỉ đề cập rất khái quát về vùng Đông Timor.
Trong chuyên đề Tại sao Đông Timor lại trở thành điểm nóng do Thư
viện Quân đội sao lưu năm 1999 đã đề cập đến thực trạng Đông Timor trong
thế kỷ XX và mối quan tâm của các nước lớn, cụ thể là Australia, Mỹ, khối
ASEAN đến vấn đề Đông Timor. Song chuyên đề này chưa nói rõ về sự phát
triển của Đông Timor một cách toàn diện.
Cuốn Lịch sử của Đông Timor (2003) cũng chỉ nêu khái quát quá trình
giành độc lập còn vấn đề phát triển đất nước sau độc lập chưa đề cập tới.
Trên các tạp chí, báo: Sự kiện và nhân vật nước ngoài, kỷ yếu hội thảo
khoa học, tạp chí nghiên cứu quốc tế, tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, tài
các kỷ yếu hội thảo khoa học và các trang websites trong và ngoài nước.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu của một công trình nghiên cứu khoa học lịch sử,
từ nội dung, ý nghĩa, tính thời sự của đề tài, chúng tôi đã sử dụng phương
pháp bộ môn để nghiên cứu đề tài này. Trước hết chúng tôi thực hiện phương
pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, so sánh để
phân loại, chọn lọc, xác minh nguồn tư liệu. Khi nghiên cứu, tôi đã dựa trên
quan điểm phương pháp luận Macxit trong nghiên cứu lịch sử đồng thời kết
hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic.
5. Đóng góp của luận văn
Qua quá trình nghiên cứu về Đông Timor, tôi mong muốn được đóng
góp phần nào những hiểu biết về đất nước Đông Timor trên một số phương
5
diện như kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao nhằm phục vụ cho việc nghiên
cứu về quốc gia trẻ tuổi này được đầy đủ hơn, có cái nhìn toàn diện về lịch sử,
quá trình phát triển những thành tựu mà Đông Timor đã đạt được trong 10
năm qua cũng như những khó khăn mà Đông Timor phải đối mặt, từ đó thấy
được triển vọng phát triển trong tương lai sắp tới.
6. Bố cục luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến sự phát triển của Đông Timor
giai đoạn 2002 - 2012.
Chương 2: Những nét chính về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội và
chính sách đối ngoại của Đông Timor trong 10 năm (2002 - 2012).
Chương 3: Một số nhận xét về sự phát triển của Đông Timor trong 10
năm (2002 - 2012)
lý và khí hậu cận xích đạo của Đông Timor cũng đã tạo điều kiện thuận lợi để
7
phát triển kinh tế nông nghiệp, chủ yếu là trồng và xuất khẩu sản phẩm cây
công nghiệp nhiệt đới như cà phê, cacao, dừa, gỗ đàn hương… Đây được coi
là ngành kinh tế mũi chủ đạo, nguồn thu nhập chính của người dân Đông
Timor hiện nay.
Đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Đông Timor cũng có vị trí
chiến lược đặc biệt quan trọng: nằm trên tuyến đường biển có lưu lượng hàng
vận chuyển lớn thứ hai thế giới từ Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương, án
ngữ con đường biển nối liền Đông nam Á và Đông bắc Á. Do đó, ngay từ rất
sớm Đông Timor đã là đối tượng nhòm ngó của nhiều nước tư bản phương
Tây và một số nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đặc biệt,
Đông Timor lại ở ví trí nằm giữa hai quốc gia lớn là Indonesia và Australia những nước đã từng có mối liên hệ lịch sử sâu sắc và nhạy cảm, có chung
biên giới với Đông Timor và đều quan tâm đến nguồn lợi dầu mỏ trên biển
Timor. Vị trí này khiến cho Đông Timor phải có đối sách về kinh tế, chính trị,
ngoại giao hết sức khôn khéo. Đây chính là một tác nhân ảnh hướng vô cùng
quan trọng, chi phối lịch sử phát triển của quốc gia còn non trẻ này trong suốt
thời gian dài và kể cả hiện nay.
Đông Timor cũng như nhiều quốc gia Đông Nam Á khác, do nằm trong
vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm nên nơi đây có tài nguyên lâm sản
tương đối phong phú. Theo tài liệu của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB),
Đông Timor là quốc gia có tỷ lệ diện tích đất rừng phủ cao, đứng thứ tư trong
khu vực Đông Nam Á.
Trong lịch sử, Đông Timor từng nổi tiếng với việc xuất khẩu đàn
hương - một loại cây có giá trị sử dụng cao, được người hồi giáo và Ấn Độ
giáo rất ưa thích. Không chỉ vậy, Đông Timor còn là nơi cung cấp gỗ đàn
hương quan trọng cho Bồ Đào Nha trong suốt 400 năm thuộc địa của quốc
gia này. Ngoài ra, Đông Timor còn cung cấp bông, mật ong cho các khu vực
Timor” [112], có thể giúp Đông Timor phát triển hoặc cũng có thể đẩy quốc
gia này đến bờ vực nội chiến như đã từng xẩy ra ở nhiều quốc gia giàu tài
nguyên năng lượng khác trên thế giới.
9
1.1.2. Dân cư và tôn giáo
1.1.2.1. Dân cư
Đông Timor là một hòn đảo nghèo, các cư dân ở đây kiếm sống bằng
nông nghiệp, đánh cá và trồng các loại cây công nghiệp như cà phê, cọ
dừa… Cộng đồng người ở hòn đảo này được cố kết trong một quá trình lịch
sử lâu dài.
Người dân Đông Timor còn có tên gọi là người Mauber, bao gồm nhiều
nhóm tộc người riêng biệt, hầu hết đều có sự pha trộn giữa các tộc người, có
nguồn gốc từ Malayo - Polynesia (Mã lai - Nam đảo), người Melanesia
(Papuan) ở quần đảo Tây Nam Thái Bình Dương.
Dân số Đông Timor tính theo độ tuổi là như sau:
Từ 0 - 14 tuổi:
35,8% (nam 1.291.147/nữ 1.237.53)
Từ 15 - 64 tuổi:
59%
(nam 1.987.671/nữ 2.179.620)
Và hơn 65 tuổi:
5,2%
việc sử dụng ngôn ngữ chính thống đã trở thành rào cản trong việc phổ biến
pháp luật, quản lý xã hội và quá trình xây dựng đất nước buổi đầu vốn còn rất
nhiều khó khăn này. Hơn nữa, chính sách dân tộc không được giải quyết hợp
lý đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng dẫn đến các cuộc xung đột sắc tộc,
đẩy lùi sự phát triển của quốc gia non trẻ này.
1.1.2.2. Tôn giáo
Vào năm 1511, cùng với người Bồ Đào Nha, đạo Thiên Chúa
(Catholic) đã đến Đông Timor. Cùng trong quá trình thống trị của người Bồ
Đào Nha, tín đồ theo tôn giáo này ngày càng gia tăng lên và dần dần trở thành
tôn giáo chính thống, chi phối nền chính trị của quốc gia này.
Cơ cấu tôn giáo ở Đông Timor được biểu thị như sau: Thiên chúa giáo
(97% dân số), Tin Lành (1%), Hồi giáo (1%). Các tôn giáo khác (1%) [184].
Sự chiếm ưu thế của đạo Thiên chúa có ý nghĩa to lớn thúc đẩy tính cố kết
của cộng đồng dân cư trên hòn đảo Timor. Sự cạnh tranh quyết liệt để giành
giật tín đồ giữa đạo Thiên chúa và đạo Hồi, đặc biệt trong những năm từ 1991
đến 1995 cũng đã từng xẩy ra, song về cơ bản sự kiện năm 1999 đã nói lên sự
thống nhất về sắc tộc, tôn giáo trên lãnh thổ Đông Timor. Cùng với quá trình
phát triển lịch sử, các giáo giới địa phương đã nỗ lực phát triển giáo dục, xúc
11
tiến một cách có ý thức việc xây dựng biểu tượng chung cộng đồng, đầu tư
xây dựng Dili - thủ đô của Đông Timor thành một trung tâm kinh tế, chính trị,
văn hóa của cả nước.
Tuy nhiên, từ sau khi độc lập đến nay, nhiều cuộc xung đột sắc tộc, tôn
giáo ở Đông Timor lại tiếp tục gia tăng khiến tình hình an ninh xã hội luôn
căng thẳng, phá hủy nhiều thành tựu và tiềm năng kinh tế, văn hóa, xã hội đất
nước. Quan trọng hơn, tôn giáo còn là một vấn đề có tác động không nhỏ đến
giới cầm quyền của quốc gia này, là nguyên nhân dẫn đến những mâu thuẫn,
những thay đổi trên chính trường Đông Timor, khi mà có những thế lực đứng
Hiện nay, khi Công giáo La Mã có vai trò thống trị, thì Giáo hội cùng
với các giám mục, linh mục và cá nhân khác rất được tôn trọng. Đó là những
thành phần duy nhất có khả năng hoạt động chính thức. Người ta thường đến
đến các nhà thờ để tìm kiếm nơi trú ẩn lúc loạn lạc hoặc thư giãn tinh
thần. Các Kitô hữu Tin Lành nhiều người nắm giữ các cấp bậc trong chính
quyền nhờ phục vụ trong quân đội Indonesia.
Tiếp đến, người Hồi giáo chiếm tỷ lệ cao nhất trong cộng đồng tôn giáo
chủ yếu là các binh sĩ Indonesia và người Ảrập đã di cư đến đất nước này để
kinh doanh. Như có một lực lượng đáng kể, người Hồi giáo được xem như là
một thách thức trong con mắt của những người Công giáo La Mã. Nhà thờ
Hồi giáo đang giữ mối quan hệ với nhiều nơi như với Indonesia. Nhờ vậy, số
lượng giáo dân đạo Hồi đang dần phát triển mạnh.
Liên quan đến tranh chấp tôn giáo, có trường hợp các nhà thờ Tin Lành
và các nhà thờ Hồi giáo bị tấn công và phá hủy, nhưng tất cả những điều này
thường được sắp xếp thông qua đối thoại và xin lỗi chung. Trong hầu hết các
trường hợp Giáo hội Công giáo La Mã đã can thiệp và thậm chí xây dựng lại
một số trong những nơi bị hư hỏng thờ phượng. Giống như hầu hết các quốc
gia khác, tôn giáo đóng một vai trò quan trọng trong nước, và Đông Timor là
không có ngoại lệ.
13
1.2. Quá trình ra đời của nhà nước Đông Timor
1.2.1. Khái quát lịch sử Đông Timor trước ngày 30/8/1999
Theo các nghiên cứu, cách đây 13000 năm đã có dân cư sinh sống trên
đảo Timo. Đến đầu thế kỷ XVI, các nhà thám hiểm châu Âu đã đặt chân lên
mảnh đất này và đảo Timo bị chia cắt thành nhiều lãnh địa nhỏ. Năm 1509,
các thương nhân Bồ Đào Nha bắt đầu đến đảo Timo và năm 1566 lập thuộc
địa đầu tiên ở Lifau (nay là quận Oecussi) ở phía Tây Bắc của đảo Timo. Năm
1642, Đông Timor chính thức trở thành thuộc địa của Bồ Đào Nha, cùng với
khôi phục kinh tế yếu kém của vùng lãnh thổ này, nỗ lực tái thiết Đông
Timor. Từ năm 1985, Indonesia tuyên bố tình trạng lãnh thổ mở cho Đông
Timor, xác định FRETILIN không còn đe dọa về an ninh nữa và bắt đầu tài
trợ cho vùng đất này.
Do đó, dưới thời kỳ sáp nhập vào Indonesia, so với thời kỳ là thuộc địa
của Bồ Đào Nha, đời sống của người dân Đông Timor phần nào được cải
thiện. “Số người biết đọc và biết viết đã tăng 40%, số trường học trong cả
nước tăng gấp 60 lần, khoảng 172 trường (năm 1996) so với 3 trường năm
1976)… Mức thu nhập bình quân đầu người chỉ có 40 USD (năm 1976) tăng
lên 398 USD (năm 1996). Điều kiện chăm sóc sức khỏe ý tế cộng đồng phát
triển hơn, số cơ sở y tế tăng từ 4 lên 525 cơ sở” [50; tr.3].
Tuy nhiên, trên thực tế, cho đến cuối thế kỷ XX, Đông Timor vẫn là
vùng đất nghèo nhất Indonesia. Kinh tế Đông Timor dựa trên một nền nông
nghiệp nghèo nàn, phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu từ Indonesia nên Đông
Timor phụ thuộc hoàn toàn và chính quyền trung ương. Mức sống của người
dân thấp nhất Indonesia. Đông Timor không tự mình phát triển được như
mong muốn của Indonesia. “Ngân sách của tỉnh thứ 27 trong năm 1994 1996 gần tới 92,4% là được tài trợ bởi trung ương còn thu nhập của địa
phương chỉ đạt con số khiêm tốn là 7,6%” [50; tr.3].
Sở dĩ có hiện trạng trên là do sự sáp nhập Đông Timor vào Indonesia
không nhận được sự ủng hộ của toàn thể nhân dân Đông Timor. Trong khi đó,
nội tình của Đông Timor lại luôn xẩy ra mâu thuẫn giữa các phe phái, lực
15
lượng chính trị nhằm tranh giành quyền lực và đòi độc lập. Hơn nữa, sự phân
hóa dân cư, mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo cũng đã dẫn đến các vụ bạo động xẩy
ra thường xuyên. Chính sách tái định cư của Indonesia không những không
đạt được mục đích hòa hợp dân cư mà còn làm cho sự phân hóa rõ hơn khi mà
phần lớn kinh tế Đông Timor nằm trong tay những người không phải gốc
Đông Timor. Theo thống kê, “trong suốt những năm 1977 - 1982, liên tiếp
trưng cầu dân ý ngày 30/8/1999
Trong suốt 24 năm là tỉnh thứ 27 của Indonesia, ở Đông Timor đã diễn
ra cuộc đấu tranh đòi độc lập không mệt mỏi của các lực lượng chống đối
chính phủ do tổ chức FRETILIN lãnh đạo. Các lực lượng này đã tổ chức các
nhóm vũ trang bạo động chống chính quyền khiến tình hình Đông Timor luôn
căng thẳng. Chính quyền Giacata đã phải dùng sức mạnh quân sự để đàn áp.
Đa số nhân dân Đông Timor cho rằng quân đội Indonesia không đủ tư cách là
lực lượng bảo vệ cho lợi ích của họ mà là một lực lượng thống trị tàn bạo.
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, các hoạt động biểu tình, đấu tranh
đòi độc lập được dấy lên và đã bị đàn áp đẫm máu. Tiêu biểu là “Cuộc thảm
sát ở nghĩa trang Santa Cruz năm 1991 làm 271 người chết, 382 người bị
thương và hơn 250 người mất tích” [55; tr.5].
Ngày 20/10/1992, thủ lĩnh lược lượng du kích Đông Timor, lãnh đạo
đảng FRETILIN là Jose Alexandre Gusmao (Xanana Gusmao) bị bắt giữ và bị
kết án tù chung thân vì tội âm mưu lật đổ chính quyền (sau đó bản án giảm
xuống còn 20 năm tù), nhưng cũng không ngăn được sự phát triển của phong
trào. Năm 1996, Jose Ramos Horta - đại diện cá nhân của Gusmao, cùng giám
mục Carlos Belo được trao giải thưởng Nobel Hòa bình. Từ đó, vấn đề độc lập
của Đông Timor trở lại vũ đài chính trị thế giới với một sự quan tâm đặc biệt.
Từ năm 1998, các cuộc đấu tranh giành độc lập ở Đông Timor ngày
càng quyết liệt hơn, Tổng thống Habibie lên thay Suharto đã đưa ra “Đề nghị
2 điểm” cho Đông Timor là: chọn “độc lập” hay “Tự trị”. Ngày 27/1/1999,
Ngoại trưởng Indonesia Ali Alatat tuyên bố “Chính phủ Indonesia sẵn sàng
17
trao độc lập cho Đông Timor nếu đề nghị của Indonesia dành cho lãnh thổ
này quy chế đặc biệt bị người Đông Timor bác bỏ”; “Chính phủ Indonesia đề
nghị tiến hành cuộc bỏ phiếu kín trực tiếp ở Đông Timor do Liên Hợp Quốc
bảo trợ để xây dựng ý nguyện của nhân dân vùng lãnh thổ này vào tháng
30/8/2001, “dưới sự giám sát an ninh chặt chẽ của 1.500 cảnh sát quốc tế
của Liên Hợp Quốc và 850 cảnh sát Đông Timor, khoảng 425.000 cử tri hòn
đảo này (chiếm 90% dân số) đã đi bỏ phiếu tại 248 điểm bầu cử của 13
huyện để bầu Hội đồng Lập hiến, cơ quan tiền thân của Quốc hội đầu tiên
của lãnh thổ này” [17]. Đây được coi là một sự kiện quan trọng trong lịch sử
Đông Timor trên con đường tiến gần hơn nữa tới độc lập hoàn toàn.
Tham gia tranh cứ có 1.138 ứng viên thuộc 16 chính đảng và 16 ứng
viên độc lập. Hầu hết các đảng đều mới được thành lập, như: Đảng Dân chủ
xã hội (PSD), Dân chủ (PD), Đảng xã hội Timor (PST), Liên minh Dân chủ
Timo (UDT)…, chỉ có FRETILIN là Đảng lớn nhất mà tiền thân là Mặt trận
kháng chiến Đông Timor FRETILIN. Các vấn đề đưa ra bao gồm: Đông
Timor sẽ theo hệ thống chính trị kiểu Cộng hòa Nghị viện hay Cộng hòa Tổng
thống, Quốc kỳ có mang dấu ấn của FRETILIN hay không?….
Ngày 10/9/2001, kết quả cuộc bầu cử được công bố: “FRETILIN giành
được 57,3% số phiếu, Đảng Dân chủ (PD) được 8,72%; Đảng Dân chủ xã
hội Đông Timor (PSD) được 8,18%; Hiệp hội Dân chủ xã hội Đông Timor
(ASDT) được 7,8%; Liên minh Dân chủ Timo (UDT) được 2,36%; Đảng dân
tộc Timo (PNT) được 2,13%; Đảng Nhân dân Timo (PDC) được 1,98%;
Đảng Xã hội Timo (PST) được 1,78%; Đảng độc lập và các đảng còn lại là
5,42%” [35; tr.929].
Quốc hội đầu tiên có 88 đại biểu được bầu, trong đó FRETILIN giành
được 55 ghế. Quốc hội soạn thảo và thông qua Hiến pháp mới, tạo khung
pháp lý cho cuộc bầu cử tương lai và chuyển tiếp tới độc lập hoàn toàn. Sau
đó, Hội đồng Bộ trưởng Timo (24 thành viên) tuyên thệ nhận chức. Quốc hội,
chính phủ mới các quản đất nước trong giai đoạn chuyển tiếp sang Nhà nước
19
dân chủ, có chủ quyền hoàn toàn. Ngày 22/3/2002, Quốc hội công bố bản
Hiến pháp đầu tiên của Đông Timor.
khổ, dưới sự lãnh đạo của tổ chức FRETILIN, đại đa số nhân dân Đông
Timor đã xác lập được chủ quyền của mình trên cơ sở pháp luật quốc tế. Có
thể sau khi tuyên bố độc lập, Đông Timor phải đối phó với vô vàn khó khăn
thử thách, song những gì mà nhân dân Đông Timor đã làm được chứng tỏ
rằng độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là lý tưởng, là nguyện
vọng tha thiết của nhân dân. Từng bước trên con đường đi tới độc lập không
phải là dễ dàng, thậm chí phải trả giá bằng sinh mạng của hàng trăm nghìn
người, đã tạo nên một vị thế mới cho quốc gia trẻ tuổi này. Trong khu vực
Đông Nam Á nói riêng và trên thế giới nói chung, xu hướng li khai đã diễn ra
ở nhiều nơi. Độc lập hoàn toàn chính là thời cơ, đồng thời cũng là thử thách
cho nhân dân Đông Timor tự khẳng định mình.
Từ những nhân tố trên, có thể khẳng định rằng, những nhân tố trong
nước của Đông Timor có tác động thuận lợi và có cả những khó khăn đan
xen, tác động nhiều đến công cuộc xây dựng đất nước Đông Timor sau độc
lập. Song cơ bản, diễn trình lịch sử đi đến độc lập hoàn toàn là nhân tố có ý
nghĩa quyết định đến khuynh hướng xây dựng và phát triển của Đông Timor.
Từ đây, nhân dân Đông Timor có điều kiện bước vào thời kỳ xây dựng và
phát triển kinh tế - xã hội, kiến thiết đất nước theo ý nguyện của mình.
1.3. Nhân tố quốc tế và khu vực
1.3.1. Mỹ, Australia và các nước phương Tây với vấn đề Đông Timor
Có thể nói, tiến trình diễn biến tại Đông Timor cho đến nay và triển
vọng của nó trong tương lai luôn nằm trong mối quan tâm của Mỹ, Australia
và phương Tây.
Đông Timor có vị trí chiến lược quan trọng mà cả Mỹ và phương Tây
muốn có làm thay đổi cục diện Đông Nam Á: “Vị trí chiến lược quan trọng,
án ngữ tuyến đường hàng hải Bắc - Nam từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ