Lý luận chung về đầu tư phát triển từ vốn NSNN - Pdf 12

Mục lục
Trang
Lời mở đầu
Ra đời từ năm 1992 cho đến nay Bảo hiểm y tế (BHYT) đã trải qua 15
năm thực hiện. Sự chuyển biến mạnh mẽ trong t tởng, quan điểm, định hớng
lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ đã nói lên thành tựu to lớn của
chính sách này. Từ một khái niệm còn xa lạ đối với mỗi ngời dân trong
những ngày đầu nay đã trở nên khá quen thuộc. BHYT là giải pháp hữu hiệu
1
trong việc thực hiện chủ trơng xã hội hoá công tác y tế, quỹ Bảo hiểm xã hội
(BHXH) là nguồn lực quan trọng góp phần nâng cao chất lợng và hiệu quả
công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời kỳ đổi mới. Chính
sách BHYT đã góp phần vào thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo và công
bằng xã hội. BHYT đã giúp cho hàng triệu ngời có thu nhập thấp, ngời
nghèo, ngời mắc bệnh nặng đợc khám chữa bệnh mà vẫn không ảnh hởng
đến sinh hoạt của gia đình, không lâm vào cùng quẫn về kinh tế khi mắc
bệnh phải điều trị với chi phí lớn.
Tuy nhiên một thực trạng đáng lo ngại hiện nay- đó là sự mất cân đối
thu- chi của quỹ BHYT mà chủ yếu sự mất cân đối này diễn ra ở khu vực
BHYT ngời nghèo và BHYT tự nguyện của nhân dân. Theo báo cáo, hầu hết
các quỹ BHYT tự nguyện ở địa phơng đều bị thâm hụt; BHXH các tỉnh,
thành phố đã thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT tự nguyện trên 743
tỷ đồng, vợt 50% so với dự kiến thu cả năm 2006. Sự mất cân đối thu- chi của
quỹ BHYT xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau: do hình thức thanh
toán không phù hợp, do chi phí khám chữa bệnh ngày càng tăng cao, do mức
đóng thấp hơn mức lơng, trong đó còn có cả nguyên nhân từ sự thiếu hợp lý
của hệ thống văn bản pháp luật về BHYT.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, em đã chọn đề tài Một số vấn đề về
tình trạng bội chi quỹ BHYT tự nguyện ở Việt Nam hiện nay làm đề tài đề
án môn học Kinh tế bảo hiểm.
Bài viết gồm 3 chơng:

trong hệ thống bảo hiểm. BHYT mang tính chất đặc trng riêng cho ngành,
lĩnh vực mà nó tham gia. Mỗi quốc gia khác nhau có những nhận định khác
nhau về loại hình bảo hiểm này, ở các nớc công nghiệp phát triển, họ cho
rằng: BHYT trớc hết là một tổ chức cộng đồng đoàn kết, tơng trợ lẫn nhau,
nó có nhiệm vụ gìn giữ sức khoẻ, khôi phục lại sức khoẻ hoặc cải thiện sức
khoẻ của ngời tham gia bảo hiểm. Còn ở Việt Nam, BHYT đợc định nghĩa:
Là loại hình bảo hiểm do Nhà nớc tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng
góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khoẻ, khám
bệnh và chữa bệnh cho nhân dân (Trích Từ điển Bách khoa Việt Nam 1,
xuất bản 1995, trang 151).
Tuy mỗi nớc đa ra một khái niệm khác nhau về BHYT nhng chung quy
lại, BHYT là một loại hình bảo hiểm mang tính cộng đồng, san sẻ rủi ro giữa
4
những ngời tham gia bảo hiểm trớc các rủi ro liên quan đến sức khoẻ của con
ngời, là một công cụ phúc lợi xã hội.
2. Sự cần thiết của BHYT :
Trong thực tế, con ngời ai cũng mong muốn có đợc cuộc sống khoẻ
mạnh, ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên không phải lúc nào con ngời cũng gặp
điều kiện thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và một cuộc sống bình thờng mà trái
lại, có thể có rất nhiều khó khăn và bất lợi phát sinh: ốm đau, tai nạn lao
động,... Khi đó nhu cầu cần thiết cho cuộc sống không mất đi mà ngợc lại
còn tăng thêm: xuất hiện thêm nhu cầu cần đợc khám và điều trị khi ốm đau,
cần đợc nghỉ ngơi dỡng sức để phục hồi sức khoẻ, Với những ng ời giàu có,
khá giả thì chi phí cho những nhu cầu này không phải là vấn đề phức tạp nh-
ng đối với những ngời nghèo thì việc vay mợn để chữa trị bệnh tật là điều
không tránh khỏi vì bên cạnh chi phí khám chữa bệnh còn là sự tổn hại về thu
nhập do ngời bệnh không có sức khoẻ để làm việc, từ đó có thể đe doạ đến
cuộc sống của ngời lao động và các thành viên- những ngời ăn theo trong gia
đình.
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con ngời ngày càng đợc nâng cao,

2. Chăm sóc y tế
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
5. Trợ cấp sinh đẻ
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp tuổi già
8. Trợ cấp mất ngời nuôi dỡng
9. Trợ cấp khi tàn phế
6
Theo đó BHYT là một trong 9 nội dung của BHXH. Với lịch sử phát
triển hơn 100 năm trên thế giới và 15 năm ở Việt Nam có thể thấy rõ hơn bản
chất của BHYT.
Thứ nhất, sự ra đời của BHYT là một tất yếu khách quan
Xuất phát từ nhu cầu đợc chăm sóc sức khoẻ, từ mong muốn có đợc một
cuộc sống khoẻ mạnh, dịch vụ y tế đã ra đời và ngày càng đáp ứng tốt hơn
nhu cầu của ngời dân. BHYT là một nội dung của BHXH mà BHXH là một
trong những bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, vì thế thực hiện
BHYT là điều cần thiết. Cùng với hệ thống cứu trợ xã hội và u đãi xã hội,
BHXH nói chung và BHYT nói riêng thật sự trở thành nền móng vững chắc
cho sự ổn định xã hội.
Thứ hai, BHYT chính là sự đoàn kết cộng đồng, cùng nhau chia sẻ
những rủi ro liên quan đến sức khoẻ.
BHYT là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ, BHYT
điều tiết giữa ngời khỏe mạnh và ngời ốm yếu, giữa thanh niên với ngời già,
giữa ngời có thu nhập cao hơn và ngời có thu nhập thấp hơn. Sự đoàn kết lẫn
nhau trong BHYT dựa trên cơ sở của sự tơng trợ không điều kiện, của sự hợp
tác cùng chung lòng, chung sức và gắn kết chắt chẽ với nhau.
Thứ ba, BHYT hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận
Sự tơng trợ trong BHYT không chỉ là quyền đợc nhận mà còn là nghĩa
vụ đóng góp. Nghĩa vụ và quyền lợi luôn là hai nhân tố luôn cùng tồn tại và

khác nhau, năng lực, thể chất, trình độ khác nhau dẫn đến thu nhập khác
nhau, mức sống của mỗi ngời khác nhau. Đối với những ngời giàu có, khá
giả, việc thoả mãn các nhu cầu tối thiểu, đợc chăm sóc y tế là tơng đối đơn
giản, dễ dàng, nhng với những ngời nghèo khi thu nhập của họ dờng nh
8
không đủ đảm bảo cuộc sống thì việc khám chữa bệnh trở nên khó khăn hơn.
Tham gia BHYT tất cả mọi ngời dân bất kể giàu nghèo đều đợc khám chữa
bệnh, chăm sóc sức khoẻ tại các cơ sở y tế. Do đó cũng nh thuế, BHYT cũng
là một công cụ thực hiện công bằng xã hội.
Thứ t, BHYT giúp nâng cao tính cộng đồng và gắn bó các thành viên
trong xã hội.
Cũng nh các loại hình bảo hiểm khác, BHYT hoạt động dựa trên cơ sở
quy luật số lớn, là sự chia sẻ rủi ro giữa những ngời tham gia BHYT với
nhau, là sự hỗ trợ của nhiều ngời cho một số ít ngời. Nó thể hiện tính nhân
đạo và nhân văn cao cả.
Thứ năm, thực hiện BHYT chính là góp phần nâng cao chất lợng khám
chữa bệnh, đổi mới cơ chế quản lý y tế.
Giống nh các loại hình bảo hiểm khác, BHYT cũng có sự đảo ngợc chu
kỳ kinh doanh. Phí BHYT đợc thu trớc để hình thành nên quỹ tài chính
BHYT sau đó sử dụng quỹ này để chi trả cho các khoản chi phí khám chữa
bệnh phát sinh trong năm. Nh vậy muốn tăng trởng quỹ, quỹ BHYT đợc phép
đầu t sinh lời nhng vấn phải đảm bảo an toàn theo quy định. Chính hoạt động
đầu t này đã bổ sung nguồn thu quỹ BHYT, tạo điều kiện cho cơ quan BHYT
thực hiện các công việc cần thiết để nâng cao chất lợng khám chữa bệnh.
Chính sự thay đổi này cũng là nhân tố làm đổi mới cơ chế quản lý y tế, giảm
bớt thủ tục hành chính phiền hà trong khám chữa bệnh đối với bệnh nhân có
thẻ BHYT, tránh tình trạng phân biệt đối xử giữa các bệnh nhân.
Thứ sáu, đề phòng hạn chế bệnh hiểm nghèo
Một thói quen trong cách nghĩ và cách sống của ngời dân Việt Nam là
chờ phát bệnh rồi mới chữa bệnh, rất ít ngời có điều kiện để định kỳ đến

thu-chi thì nguồn cấp phát của NSNN là vô cùng quan trọng.
10
Lãi do hoạt động đầu t phần quỹ nhàn rỗi: do phí bảo hiểm của
khách hàng đợc thu trớc, việc chi trả thực hiện sau nên trong thời
gian nhàn rỗi, quỹ BHYT đợc phép đầu t. Tuy nhiên hoạt động đầu t
của quỹ phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, thanh khoản, đầu t vì mục
đích phát triển xã hội và đảm bảo có lãi.
Việc ủng hộ từ thiện của tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ
thông qua viện trợ không hoàn lại, hoặc các cá nhân.
Vốn tín dụng hoặc vốn đầu t: tuỳ thuộc vào các hợp đồng BHYT mà
có thể có những dịch vụ y tế gia tăng, ngoài nhiệm vụ chính của
BHYT có thể đợc phép thực hiện bằng nguồn vốn tín dụng hoặc
nguồn vốn của nhà đầu t đóng góp, ở Việt Nam các khoản vốn tín
dụng và vốn đầu t này bị hạn chế sử dụng.
Các nguồn khác: các khoản tiền d hàng năm, các khoản thu khác
5.2 Mục đích sử dụng quỹ:
Sau khi hình thành, quỹ BHYT đợc sử dụng nh sau:
Chi thanh toán chi phí y tế cho ngời đợc hởng BHYT: đây là khoản
chi thờng xuyên và lớn nhất của quỹ BHYT.
Chi dự trữ, dự phòng lao động lớn: khoản chi này thờng đợc tồn tích
lại trong thời gian dài nhằm đảm bảo quyền lợi cho ngời tham gia
BHYT.
Chi đề phòng hạn chế tổn thất: khoản này đợc chi ra với mục đích
làm giảm thiểu tổn thất đáng lẽ ra rất lớn nếu các rủi ro xảy ra.
Thanh toán chi trả trong BHYT: chi phí y tế đợc quyết định bởi số lợng
thuốc đợc kê đơn và giá cả của chúng. Các nhân tố này đều bị ảnh hởng bởi
phơng thức đợc chọn để thanh toán cho ngời cung cấp dịch vụ. Tuỳ theo điều
kiện kinh tế, xã hội của mỗi nớc là khác nhau mà có những phơng thức thanh
toán khác nhau đợc sử dụng. Hiện nay có nhiều phơng thức thanh toán nh:
11

khả năng khống chế chi phí y tế và dễ quản lý.
Thanh toán tiền thởng: là phơng thức thanh toán đợc sử dụng để
khuyến khích ngời cung cấp dịch vụ thực hiện những mục tiêu xác
định, thờng liên quan đến chính sách quốc gia về y tế hoặc về lợi ích
kinh tế nhất định. Trong thực tế phơng thức này không đợc thực hiện
riêng lẻ mà đợc sử dụng để bổ sung cho các phơng thức khác.
Thanh toán theo tỉ tệ cố định: phơng thức này đợc thực hiện đối với
các hoạt động đầu t tài chính nhằm đảm bảo các chi phí mua sắm
máy móc thiết bị theo danh mục chi tiết thời gian nhất định. Mức
thanh toán đợc dựa trên chi phí mua trang thiết bị.
Thanh toán lơng: theo phơng thức này ngời cung cấp dịch vụ đợc trả
lơng hàng tháng không tính đến số bệnh nhân đợc chữa trị mà dựa
trên hợp đồng lao động giữa từng cá nhân và quỹ BHYT.
Thanh toán theo ngân sách: là phơng thức mà ngời cung cấp dịch vụ
y tế đợc chi trả tổng số tiền bao gồm tổng chi phí của các dịch vụ và
sản phẩm đợc cung cấp theo một thời gian nhất định, thờng là một
năm. Việc xác định ngân sách thờng dựa trên chi phí trớc đó hoặc
chi phí hiện tại của ngời cung cấp dịch vụ.
II. BHYT tự nguyện và kinh nghiệm của một số nớc trên thế giới:
1. BHYT tự nguyện:
BHYT tự nguyện là bớc quá độ, bớc tập duyệt cần thiết để tiến tới
BHYT toàn dân, là hình thức BHYT áp dụng cho những ngời có thu nhập
thấp, ngời không đủ điều kiện tham gia BHYT bắt buộc hoặc BHYT t nhân,
do ngời dân tự nguyện tham gia.
13
Bất kỳ một quốc gia nào khi mới triển khai BHYT hoặc cha thể triển
khai BHYT toàn dân hay BHYT cộng đồng thì đối tợng tham gia bắt buộc
chỉ chiếm một phần nào đó trong xã hội, phần còn lại sẽ không đủ điều kiện
tham gia BHYT. Để góp phần nâng cao công tác chăm sóc và bảo vệ sức
khoẻ, đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khoẻ của mọi tầng lớp dân c

mình một cách riêng để tổ chức thực hiện bởi để thực hiện thành công không
phải là đơn giản. Theo các nhà nghiên cứu, để thực hiện BHYT tự nguyện
thành công cần có một số điều kiện:
Đơn giản về thủ tục, rõ ràng về quyền lợi, đơn giản về thanh toán chi
phí, tạo điều kiện cho ngời dân hiểu và tự nguyện tham gia.
Mức đóng phù hợp với khả năng tài chính của nhân dân.
Phải giúp cho ngời tham gia tiếp cận với dịch vụ y tế, thuận tiện, đỡ
tốn kém chi phí đi lại, thời gian chờ đợi.
Yếu tố tự quản, ngời tham gia BHYT nắm nguồn quỹ mà mình đã
đóng góp, ngời dân tham gia quản lý quỹ bằng các hình thức phù
hợp, ngời dân tự quyết định mức hởng và mức đóng trong từng giai
đoạn.
Trên thực tế quá trình thực hiện BHYT ở các nớc thì loại hình bảo hiểm
này đã bộc lộ một số u, nhợc điểm sau:
Ưu điểm: mặc dù mô hình khác nhau nhng BHTY tự nguyện đều
thống nhất ở lợi ích cộng đồng cho ngời tham gia:
Làm tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cho ngời có thu nhập thấp
và ngời lao động tự do.
Góp phần cải thiện công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ
ban đầu tại cộng đồng.
15
Góp phần nâng cao sức khoẻ cộng đồng.
Thực hiện có hiệu quả công bằng trong khám chữa bệnh, nâng cao vị
thế của ngời nghèo trong xã hội.
Nhợc điểm: bên cạnh những u điểm đó, BHYT tự nguyện luôn gặp
phải một số hạn chế sau:
Mức đóng góp thờng thấp, số lợng ngời tham gia ít và không ổn
định.
Khả năng gánh vác rủi ro của quỹ thấp, rất ít quỹ BHYT tự nguyện
có khả năng cân đối thu-chi trong thời gian dài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status