Lời mở đầu
Việt Nam đang thực hiện chiến lợc phát triển kinh tế xã hội 10 năm giai đoạn
2001-2010. Mục tiêu phát triển đến năm 2010 là đạt mức tăng sản phẩm xã hội bình
quân đầu ngời lên gấp đôi hiện nay.
Để đạt đợc mục tiêu này thì một trong những việc mà chúng ta phải làm là đẩy
mạnh xuất khẩu nhằm phát triển sản xuất hàng hoá, phục vụ cho công nghiệp xuất khẩu,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Mở rộng giao lu quốc tế nhằm đa Việt nam thoát
khỏi nghèo nàn lạc hậu, hoà nhập với môi trờng trong khu vực và quốc tế. Với nền kinh
tế mới vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, nhiều khó khăn thử
thách mới đã và đang đặt ra cho các doanh nghiệp phải xem xét lại mình, đổi mới về tổ
chức và hoạt động sản xuất kinh doanh để đáp ứng với nhiệm vụ trong giai đoạn phát
triển của Đất nớc.
Bởi vậy, tại Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định: "...phát triển
hàng Dệt May xuất khẩu là điều kiện thúc đẩy tăng trởng và phát triển kinh tế với tốc
độ cao, tăng thu nhập quốc dân, là tiền đề thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nớc". Quá trình thực tập tại Công ty May Chiến Thắng - Tổng Công ty Dệt-May Việt
Nam và tìm hiểu hoạt động xuất khẩu tại đây, kết hợp nghiên cứu những lợi thế và khó
khăn mà Công ty gặp phải, tôi xin mạnh dạn đa ra một số ý kiến của mình về :" Một số
giải pháp nhằm đẩy mạnh Maketing xuất khẩu hàng Dệt - May của Công ty may
Chiến Thắng".
Kết cấu của đề tài này gồm 3 phần
Phần I: Những vấn đề cơ bản về hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
Phần II: Hoạt động xuất khẩu ngành Dệt-May Việt Nam và Công ty May
Chiến Thắng.
Phần III: Định hớng và những giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy chiến lợc hoạt
động của Công ty.
Đây là một chuyên đề rất rộng, vì vậy bài viết của tôi không thể tránh khỏi những
sai sót. Rất mong nhận đợc sự góp ý của các thầy cô giáo, các cô chú cán bộ trong Công
ty May Chiến Thắng và các bạn để bài viết của tôi đợc hoàn thiện hơn và có giá trị trọng
thực tiễn.
Rất cám ơn sự hớng dẫn tận tình của thầy giáo Đỗ Thanh Hà - Thạc sĩ, phó chủ
- Có thể nói xuất khẩu không chỉ đóng vai trò chất xúc tác hỗ trợ phát triển kinh tế
mà nó còn cùng với hoạt động nhập khẩu nh là yếu tố bên trong trực tiếp tham gia vào
việc giải quyết những vấn đề nội bộ nền kinh tế nh; vốn, kỹ thuật, lao động, nguồn tiêu
thụ thị trờng...
- Đối với nớc ta hớng mạnh mẽ về xuất khẩu là một trong những mục tiêu quan trọng
trong phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại, qua đó tranh thủ đón bắt thời cơ, ứng dụng
khoa học công nghệ hiện đại, rút ngắn sự chênh lệch về trình độ phát triển của Việt
Nam so với thế giới. Kinh nghiệm cho thấy, bất cứ một quốc gia nào và trong thời kỳ
nào đẩy mạnh đợc xuất khẩu thì nền kinh tế của nớc đó phát triển cao.
Tóm lại, thông qua xuất khẩu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội bằng
việc mở rộng trao đổi và thúc đẩy việc tận dụng các lợi thế, tiềm năng và cơ hội của đất
nớc.
II. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với các doanh nghiệp
Ngày nay, xu hớng vơn ra thị trờng nớc ngoài là một xu hớng chung của tất cả các
quốc gia và các doanh nghiệp. Việc xuất khẩu các loại hàng hoá và dịch vụ ra nớc ngoài
đa lại cho doanh nghiệp những lợi ịch sau đây:
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội mở rộng thị trờng, mở rộng
quan hệ kinh doanh với bạn hàng trong và ngoài nớc trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tăng
doanh số và lợi nhuận, đồng thời phân tán và chia sẻ rủi ro mất mát trong hoạt động
kinh doanh, tăng cờng uy tín kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trờng.
- Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nớc có cơ hội tham gia
vào cuộc cạnh tranh trên thị trờng quốc tế. Qua đó có điều kiện giữ gìn nâng cấp và phát
triển trình độ kỹ thuật công nghệ, phát triển hệ thống các kênh phân phối sản phẩm.
- Xuất khẩu đảm bảo cho doanh nghiệp luôn nâng cao việc sử dụng các kỹ năng
quản lý chuyên môn, chẳng hạn nh kỹ năng quản lý hoạt động xuất khẩu, bán hàng trên
thị trờng quốc tế, quản lý và dự đoán những xu hớng biễn động của tỷ giá hối đoái. Mặt
khác qua xuất khẩu doanh nghiệp có đợc nguồn ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết
bị, công nghệ, kỹ thuật để tái đầu t vào quá trình sản xuất kinh doanh.
- Ngoài ra sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút đợc nhiều lao động
vào làm việc, tạo ra thu nhập ổn định cho cán bộ công nhân viên, tạo ra ngoại tệ để nhập
1 Xuất khẩu trực tiếp.
Xuất khẩu trực tiếp là hình thức đơn vị ngoại thơng xuất khẩu các loại hàng hoá dịch
vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nớc tới
khách hàng nớc ngoài thông qua các tổ chức của mình. Về nguyên tắc xuất khẩu trực
tiếp có thể làm tăng rủi ro trong kinh doanh, song nó lại có những u điểm nổi bật sau:
giảm bớt chi phí trung gian, do đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Có thể liên hệ trực
tiếp và đều đặn với khách hàng và với thị trờng nớc ngoài, biết đợc nhu cầu của khách
hàng và tình hình bán hàng, do đó nên ta có thể thay đổi sản phẩm và những điều kiện
bán hàng trong trờng hợp cần thiết.
2 Xuất khẩu uỷ thác
Là hình thức kinh doanh, trong đó đơn vị ngoại thơng đóng vai trò là ngời trung gian
thay cho đơn vị sản xuất tiến hành ký kết hợp đồng mua bán ngoại thơng tiến hành các
thủ tục cần thiết để xuất khẩu và qua đó thu đợc một số tiền nhất định (thờng là tỷ lệ %
của giá trị lô hàng xuất khẩu).
Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là mức độ rủi ro thấp, đặc biệt là không cần bỏ
vốn vào kinh doanh, tạo đợc việc làm cho ngời lao động, đồng thời cũng thu đợc một
khoản lợi nhuận đáng kể. Ngoài ra trách nhiệm trọng việc tranh chấp và khiếu nại thuộc
về ngời sản xuất.
3 Xuất khẩu gia công uỷ thác.
Đây là hình thức kinh doanh mà trong đó đơn vị ngoại thơng đứng ra nhập nguyên
liệu hoặc bán thành phẩm cho đơn vị gia công, sau đó thu lại thành phẩm để xuất lại cho
nớc ngoài. Đơn vị đợc hởng phí uỷ thác theo sự thoả thuận với các xi nghiệp sản xuất.
Hình thức này có u điểm là đơn vị ngoại thơng không cần bỏ vốn vào kinh doanh nh-
ng vẫn thu đợc lợi nhuận, rủi ro ít hơn, việc thanh toán chắc chắn hơn. Tuy nhiên nó đòi
hỏi phải tiến hành nhiều công việc, nhiều thủ tục xuất nhập khẩu, các cán bộ kinh doanh
phải có kinh nghiệm và nghiệp vụ kể cả trong quá trình giám sát và kiểm tra công việc.
4 Buôn bán đối lu.
Buôn bán đối lu là phơng thức giao dịch, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với
nhập khẩu, ngời bán đồng thời là ngời mua và lợng hàng hoá mang ra trao đổi thờng có
giá trị tơng đơng. Mục đích xuất khẩu ở đây không phải nhằm thu về một khoản ngoại
7 Tái xuất khẩu
Nội dung của hình thức xuất khẩu này là xuất khẩu những hàng hoá mà trớc đây đã
nhập khẩu và cha tiến hành các hoạt động chế biến. Ưu điểm của hình thức này là
doanh nghiệp có thể thu đớc những lợi nhuận cao mà không phải tổ chức sản xuất, đầu
t vào nhà xởng máy móc thiết bị, khả năng thu hồi vốn cũng nhanh hơn.
Chủ thể tham gia hoạt động tái xuất khẩu nhất thiết phải có sự tham gia của ba quốc
gia: nớc xuất khẩu, nớc nhập khẩu và nớc tái xuất khẩu. Hàng hoá là đối tợng xuất khẩu
có thể đi thẳng từ nớc xuất khẩu tới nớc nớc nhập khẩu, hoặc từ nớc xuất khẩu sang nớc
tái xuất khẩu và sau đó mới tới nớc nhập khẩu. Sở dĩ có hoạt động tái xuất khẩu là do sự
thuận lợi và khó khăn trong quan hệ thơng mại giữa các nớc xuất khẩu và nớc nhập
khẩu, chẳng hạn nh bị cấm vận hay trừng phạt kinh tế...
Tóm lại các hình thức xuất khẩu có nhiều và rất đa dạng. Trong thực tế hoạt động
xuất khẩu, đối với một doanh nghiệp có thể thực hiện cùng một lúc một hay vài hình
thức xuất khẩu khác tùy thuộc vào điều kiện và khả năng thực tế của từng doanh nghiệp
cụ thể.
4. Một số nhân tố ảnh hởng đến kinh doanh xuất khẩu
4.1 Các quan hệ kinh tế quốc tế
Trong hoạt động kinh doanh thơng mại quốc tế, các mối quan hệ quốc tế có ảnh
hởng trực tiếp mạnh mẽ đối với hoạt động xuất khẩu. Khi xuất khẩu hàng hoá từ quốc
gia này sang quốc gia khác, nhà xuất khẩu phải đối mặt với hàng rào thuế quan, hàng
rào phi thuế quan. Các hàng rào này chặt chẽ hay nới lỏng phụ thuộc chủ yếu vào quan
hệ kinh tế song phơng giữa các nớc nhập khẩu hay xuất khẩu. Khi đố với xu hớng toàn
cầu hoá nền kinh tế hiện nay nhiều liên minh kinh tế ở mức độ khác nhau đợc hình
thành, nhiều hiệp định thơng mại song phơng và đa phơng giữa các quốc gia, các tổ
chức kinh tế cũng đợc ký kết với mục tiêu thúc đẩy hoạt động thơng mại trong khu vực
và toàn thế giới. Nếu một quốc gia thạm gia vào các liên minh kinh tế và các hiệp định
thơng mại là một tác nhân tích cực đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của quốc gia. Nếu
không chính nó lại trở thành vật cản đối với việc thậm nhập vào thị trờng trong khu vực
đó.
Tóm lại có đợc mối quan hệ quốc tế mở rộng, bền vững và tốt đẹp sẽ tạo những
Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp nh vốn cố định bao gồm các máy móc
thiết bị, hệ thống kho tàng, nhà xởng, hệ thống phơng tiện vận tải, các điểm thu mua
hàng, các đại lý chi nhánh và trang thiết bị của nó...cùng với vốn lu động là cơ sở cho
hoạt động kinh doanh. Các khả năng này quy định quy mô, tính chất, lĩnh vực hoạt động
xuất khẩu và vì vậy góp phần quyết định hiệu quả kinh doanh.
I. Hoạt động xuất khẩu ngành dệt may Việt nam
1. Chiến lợc xuất khẩu cho ngành Dệt - May Việt Nam
Ngành Dệt - May Việt Nam đang đứng trớc những cơ hội và thách thức trên con đ-
ờng hội nhập và phát triển. Từng doanh nghiệp phải đối mặt và cạnh tranh gay gắt.
Không chỉ với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nớc mà còn với cả các
doanh nghiệp nớc ngoài để tăng thị phần. Bản thân ngành Dệt - May Việt Nam cũng tự
nhận thấy năng lực còn quá nhỏ so với tiềm năng và so với ngành dệt may của một số n-
ớc trong khu vực
Việt Nam có dân số hơn 80 triệu ngời với 47% dân số đang ở độ tuổi lao động và là
nguồn cung ứng lao động nhân lực trẻ và dồi dào cho ngành Dệt - May. Lao động Việt
Nam thông minh cần cù chịu khó, rất phù hợp với ngành đệt - May. Lao động Việt Nam
có giá nhân công vào loại rẻ nhất thế giới.
Ví dụ: so sánh con số giá công lao động Việt nam với các nớc Asean và các nớc trên
thế giới. Giá công lao động Việt Nam là 0.24 USD/giờ so với 1.18USD /giờ của Thái
Lan, 0.32USD/ giờ của Indo, 1.13USD /giờ của Xingapo và 0.34USD /giờ của Trung
Quốc, 0.39 USD/ giờ của Hồng Kông, 12.63USD /giờ của Pháp và với 16.37 USD/giờ
của Nhật Bản...
Nớc ta nằm trong khu vực Châu á Thái Bình Dơng, hiện nay làm khu vực có tốc độ
phát triển kinh tế cao nhất thế giới, trung bình đạt từ 8-10%/năm. Cũng nh các nớc khác
trong khu vực, Việt Nam rất năng động trong việc phát triển kinh tế. Đặc biệt hơn cả là
Việt Nam có cảng biển lớn, dài, dọc theo đất nớc rất thuận lợi chi việc xuất nhập khẩu.
Trở lại vấn đề này, trong chiến lợc phát triển chung của toàn ngành đã đợc Chính
phủ phê duyệt đến năm 2010, ngành Dệt - May Việt Nam đã đạt mục tiêu, đạt kim
ngạch xuất khẩu 7 tỷ USD , thu hút 4 triệu lao động vào làm việc. Để đạt mục tiêu này,
ngành Dệt - May Việt Nam đang thiết kế một chơng trình tăng tốc khá hoàn chỉnh với
Việt Nam đã ký đợc hiệp định buôn bán hàng Dệt - May với liên minh Châu âu
(EU) ngày 15/12/1992. Trên đà thắng lợi đó, Việt Nam đã mở rộng đợc thị trờng phi
hạn ngạch ra hơn 20 nớc trên thế giới.
Đáp ứng đợc điều này, kể từ năm 1991 trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt
may nớc ta không ngừng tăng. Với con số khiêm tốn 150 triệu USD năm 1991 đã tăng
lên tới 1.9 tỷ USD năm 2000 tăng trung bình mỗi năm trên 174 triệu USD (tơng đơng
45.5%/năm), cao hơn tốc độ tăng trởng bình quân 27.5% của tổng kim ngạch xuất khẩu
cả nớc. Bên cạnh đó, tỷ trọng xuất khẩu hàng Dệt - May trong tổng kim ngạch xuất
khẩu cũng không ngừng tăng từ 7.6%/năm 1991 tới 16.5%/năm 2000 (chủ yếu là phơng
thức gia công chiếm từ 70-80% sản phẩm xuất khẩu). Kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt -
May của nớc ta ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
cả nớc.
Biểu 1
Tốc độ tăng trởng hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam
tính theo đơn vị tỷ USD (nguồn: Bộ thơng mại)
USD 1,9
1,7
1,52
1,3
năm
1997 1998 1999 2000
- Hiện nay làn sóng chuyển dịch sản xuất ngành dệt may đã chuyển sang giai đoạn
hai, tức là từ các nớc mới phát triển (NIC) Châu á sang các nớc Trung Quốc, ấn độ,
Indo, Bănglađet, Việt Nam...có lao động đông và rẻ. Vì vậy thời cơ phát triển dệt may
Việt Nam đang có cơ hội lớn để đẩy mạnh tốc độ tăng trởng trong giai đoạn 10 hoặc 20
năm nữa.
Ví dụ: thị trờng Hoa Kỳ, một thị trờng nhập khẩu hàng may mặc lớn nhất thế giới
với mức xuất khẩu hàng năm trên 50 tỷ USD; đang mở cửa cho hàng may mặc Việt nam
và sẽ tạo điều kiện cho ngành dệt may Việt Nam tăng cờng xuất khẩu.
bên sẽ ký kết một hiệp định riêng biệt về hạn ngạch hàng dệt nhng không nêu khi nào.
5. Những thách thức đối với ngành Dệt - May Việt Nam
Xuất phát từ áp lực cạnh tranh gay gắt, một khi tiến trình hội nhập khu vực và thế
giới đợc thực hiện hoàn toàn nh theo lộ trình hội nhập AFTA (CEPA), từ năm 2000 Việt
Nam đã xây dựng tiến trình giảm thuế nhập khẩu hàng Dệt - May từ các nớc Đông Nam
á ở mức bảo hộ cao nh trớc đây: sợi 20%, vải 40%, may mặc 50% xuống tối đa còn 5%
vào năm 2006
Tiến trình này đã bắt đầu đợc thực hiện từ 1/1/2000 với mức thuế nhập khẩu cho
sợi còn 15%, vải còn 30% và may mặc còn 35% (nghị định 09/NĐ-Chính phủ, ngày
21/3/2000).
Nh vậy, kể từ nay trở đi, hàng Dệt - May Việt Nam phải có cạnh tranh với các n-
ớc Đông Nam á ngay tại thị trờng nội địa với mức bảo hộ giảm dần cho đến không bảo
hộ vào 1/1/2006.
Trong khi đó, ngành công nghiệp Dệt - May của Việt Nam còn ở mức thấp so với
các nớc trong khu vực về năng lực sản xuất, về trình độ công nghệ, khối lợng, chủng
loại, mẫu mã hàng hoá còn nghèo nàn và năng suất còn thấp dẫn đến giá thành còn cao
hơn một số nớc trong khu vực . Điều này thể hiện qua số liệu năm 2000, kim ngạch
nhập khẩu hàng Dệt - May Thái Lan bằng 3,25 lần, Inđônêxia bằng 4 lần và Trung
Quốc bằng 25 lần của Việt Nam. Sản xuất may mặc còn ở dạng gia công là chính, do
vậy phần giá trị gia tăng trên sản phẩm còn thấp.
Những hạn chế trong lĩnh vực Dệt - May của Việt Nam so với các nớc ASEAN
đã thể hiện trong thực trạng buôn bán hàng dệt may hiện nay giữa Việt Nam và các nớc
ASEAN.
* Một số vấn đề còn tồn tại
- Đối với lĩnh vực sản xuất nguyên, phụ liệu cung cấp cho ngành may xuất khẩu
(bao gồm cả bông, xơ, sợi tổng hợp, vải và phụ liệu may, v.v...) hiện nay sản xuất trong
nớc mới chỉ đáp ứng đợc khoảng 10 đến 15% nhu cầu cho may xuất khẩu, số còn lại do
chính các doanh nghiệp may nhập khẩu hoặc do khách hàng đa vào may gia công và tái
xuất .
Những hạn chế trong khâu sản xuất nguyên phụ liệu dẫn đến việc khó có thể kết
sang nhiều thị trờng có uy tín nh EU, Bắc Mỹ, Nhật Bản, ASEAN...
Trải qua hơn 30 năm hình thành, đi lên từ sự phát triển vững bớc, đến nay, Công
ty đã đợc thành lập theo quyết định của Hội đồng quản trị Tổng Công ty Dệt - May Việt
Nam phê duyệt kèm theo điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty.
Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 4/12/1996, Công ty May Chiến Thắng là
doanh nghiệp Nhà nớc, thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty Dệt may Việt
Nam, hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nớc với các qui định của pháp luật và Điều
lệ tổ chức hoạt động của Tổng công ty.
- Tên Công ty:
+ Tên giao dịch Việt Nam : Công ty may Chiến Thắng
+ Tên giao dịch quốc tế : Chiên Thăng garment company.
+ Viết tắt : CHIGARMEX
- Trụ sở chính: Số 10 Thành Công - Quận Ba Đình - Hà Nội.
1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty hiện nay.
Công ty đợc tổ chức thành 17 phòng ban dới sự lãnh đạo của một Tổng giám đốc
và hai Phó Tổng giám đốc.
- Tổng giám đốc chịu trách nhiệm chung về mọi hoạt động chung của toàn bộ
Công ty và trực tiếp phụ trách công tác cán bộ, tài chính kế toán và nhập khẩu.
- Phó Tổng giám đốc thứ nhất: phụ trách mảng kinh doanh nội địa.
- Phó Tổng giám đốc thứ hai: Phụ trách kỹ thuật sản xuất.
Theo báo cáo mới nhất, tính đến ngày 31/12/2000, tổng số lao động của Công ty
có 2.640 ngời. Trong đó:
+ Lao động trực tiếp: 2.500 ngời, chiếm 94,69%
+ Lao động gián tiếp: 54 ngời, chiếm 2,05%
+ Lao động nữ: 2.245 ngời, chiếm 85%
+ Lao động có trình độ đại học trở lên: 68 ngời, chiếm 2,58%.
2. Cơ sở vật chất kỹ thuật.
2.1 Kho tàng nhà xởng
Công ty có tổng mặt bằng nhà xởng rộng 24.836 m2, đợc chia làm 3 cơ sở:
- Cơ sở số 10 phố Thành Công: đợc đầu t xây dựng hoàn hảo vào năm 1997 bao
thuộc và các phụ kiện khác. Các loại vật liệu này trong nớc cha sản xuất đợc nên Công
ty phải nhập ngoại, chi phí lớn, ảnh hởng đến giá thành tiêu thụ sản phẩm.
Đối với khách hàng gia công, khách hàng trực tiếp cung ứng nguyên vật liệu,
Công ty không những bị động về nguồn nguyên vật liệu sản xuất mà còn bị thiệt một
phần về lợi nhuận từ nguồn vốn kinh doanh nguyên vật liệu phù hợp với thị trờng tiêu
thụ. Do đó, Công ty phải tìm nguồn nguyên vật liệu phù hợp với thị trờng mà Công ty
muốn thâm nhập hoặc mở rộng.
(1): Xem bảng phụ lục 1
bảng 1
Kim ngạch nhập khẩu của Công ty trong 2 năm 1999-2000.
thị trờng
Năm 1999 Năm 2000
Trị giá USD Tỷ lệ% trị giá USD Tỷ lệ %
Hàn quốc
Đài loan
Nhật bản
Hồng kông
EC
Asean
Anh quốc
CH Séc
10.164.389
1.747.084
955.921
884.915
448.363
149.763
71,03
12,21
6,68
Bảng 2 : Tài sản của Công ty
Năm kinh doanh TSCĐ TSLĐ TÔNG TS
1998 22.580.755 12.651.076 35.231.851
1999 31.266.633 11.975.180 43.241.813
2000 28.732.583 16.891.181 45.623.764
(Nguồn báo cáo tài chính của Công ty từ năm 1998-2000)
Qua bảng tổng kết tài sản cho ta thấy so với năm 1998, năm 2000 tăng:
* Tổng tài sản: 129.5%
* Tài sản cố định: 125.6%.
* Tài sản lu động: 133.5%
Nhận xét:
Nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam đều thiếu vốn để kinh doanh, vốn nhà n-
ớc cấp cho Công ty May Chiến thắng chỉ đáp ứng đợc 50% nhu cầu sản xuất kinh
doanh. Vì vậy muốn đạt đợc mục tiêu sản xuất kinh doanh giai đoạn từ 2001-2005,
Công ty cần phải đợc bổ xung thêm vốn.
2.5 Sản phẩm chính.
Công ty May Chiến Thắng hiện nay có 3 mặt hàng chính là: sản phẩm may, găng
tay và thảm len. Trong đó sản phẩm may gồm có: áo jacket 1 lớp, 2 lớp, 3 lớp, quần, áo
váy, áo sơ mi các loại...
Hàng năm, Công ty sản xuất đợc hơn 5 triệu sản phẩm may mặc và hơn 2 triệu
sản phẩn da xuất khẩu ra nớc ngoài và tiêu thụ trong nớc.
a. Khách hàng của Công ty
Khách hàng của Công ty là những hãng nớc ngoài kinh doanh hàng may mặc..(2)
Nhìn vào bảng phụ lục (2) ta có thể thấy các khách hàng thờng xuyên của Công
ty từ năm 1995 đễn năm 1998 có 6 Công ty là: YOUNGSHIN, ITOCHU, JEANNES, HADONG,
FLEXCON Vvà LUISURE. Trong số đó khách hàng tiêu thụ nhiều nhất là hàng HADONG
với số lợng tiêu thụ trên 1 triệu sản phẩm mỗi năm, khách hàng lớn tiêu thụ lớn thứ hai
là ITOCHU. Tuy năm 1996 và 1997 khách hàng tiêu thụ nhiều nhng sang năm 1998 và
năm 1999 đã tăng lên hơn 1 triệu sản phẩm.
Trong 4 năm từ 1997 đến 2000 số lợng khách hàng chính của Công ty đã tăng từ
78.71% 71.69%
17.96%
2.36% 21.71% 2.30%
0.96% 4.28%
Với EU từ tháng 1/1995: EU đã thực hiện chơng trình mới đối với hàng nhập
khẩu. EU đã loại bỏ quy định giới hạn khối lợng của sản phẩm đợc u đãi, bỏ mức thuế
suất 0% và tất cả đợc thay thế bằng mức thuế suất u đẫi khác nhau giành cho các sản
phẩm dựa trên mức độ nhạy cảm. Theo quy định của EU, mặt hàng may mặc của Việt
Nam thuộc loại rất nhạy cảm, phải chịu thuế suất 85% mức thuế MFN (Tối huệ quốc).
Vậy EU thực hiện chơng trình này đối với các sản phẩm của Việt Nam theo hai giai
đoạn: giai đoạn I từ tháng 01 năm 1997, giai đoạn II từ tháng 01 năm 1998. Nh vậy
ngành Dệt - May Việt Nam nói chung và Công ty May Chiến Thắng nói riêng sẽ phải đ-
ơng đầu với những thách thức khó khăn trong những năm tới.
Đối với Nhật Bản là thị trờng phi hạn ngạch lớn nhất của ngành may mặc Việt
nam và Công ty May Chiến Thắng. Tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu của Công ty sang
thị trờng này không ổn định. Cụ thể năm 1997 doanh thu đạt 13.02 triệu USD; năm
1998 tụt xuống chỉ còn 9.33 triệu USD; năm 1999 tăng lên tới 25.4 triệu USD và trong 6
tháng đầu năm 2001 doanh thu từ thị truờng này đạt tới 10.24 triệu USD.
(Nguồn: báo cáo thực hiện xuất khẩu của Công ty May Chiến Thắng từ 1997-2000 và 6
tháng đầu năm 2001).
c. Thị trờng tiêu thụ nội địa.
Từ trớc đây Công ty May Chiến Thắng cha hề chú trọng việc mở rộng mạng lới
tiêu thụ nội địa, doanh thu nội địa chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng doanh thu
hàng năm của Công ty. Từ năm 1997 Công ty bắt đẩu mở rộng mạng lới kinh doanh
(có các đại lý và cửa hàng giới thiệu sản phẩm ở Hà Nội và các địa phơng khác) nhằm
từng bớc chiếm lĩnh thị trờng trong nớc còn đang bỏ ngỏ. Năm 1997 tỷ lệ này là
4.54% và tăng lên 8.19% năm 1998, nhng đến năm 2000 lại giảm chỉ còn 5.09%.
bảng 4
Doanh thu qua các năm của Công ty.
Chỉ tiêu
- DT nội địa
31.365
29.942
6.127
23.815
1.423
100
95,46
19,53
75,93
4,54
34.803
31.954
0.207
32.747
2.849
100
91,81
0,59
91,22
8,19
40.602
39.211
2.901
36.310
1.391
100
96,57
7,14
89,43
Công ty đảm bảo đủ công ăn việc làm cho 2640 lao động với thu nhập bình quân
913.000đ/ngời/tháng (3).
Nh nguồn báo cáo sản xuất kinh doanh của Công ty May Chiến Thắng thì tình
hình tiêu thụ sản phẩm trong 3 năm 1998,1999,2000 hầu nh không có biến động lớn;
xuất khẩu trực tiếp chiếm tới 80%, vấn chiếm u thế trong tổng sản lợng tiêu thụ.
Bảng 5
Tiêu thụ sản phẩm may của Công ty từ năm 1998-2000
Chỉ tiêu
ĐVT
1998 Tỷ lệ % 1999 Tỷ lệ % 2000 Tỷ lệ %
SL 98/97 SL 99/98 SL 2000/99
Tổng SPXK 1.146.600 130.2 1.126.595 82.2 890.496 79.0
XK trực tiếp SP 1.086.250 128.8 1.067.307 98.3 801.102 75.0
TT nội địa SP 18.382 339.9 9.829 53.5 10.783 109.5
(Nguồn: Báo cáo sản xuất KD của Công ty từ năm 1998-2000)
(3) : Xem bảng phụ lục số 3.
- Mặc dù năm 1996 Công ty đã mất đi một số thị trờng thơng mại nh: SNG, Phần
Lan, Mỹ, Canađa chỉ còn lại 5 thị trờng nhng nhờ có sự cố gắng mở rộng thị trờng của
Công ty nên năm 1998 sản phẩm của Công ty đã tiêu thụ trên 13 thị trờng khác nhau và
năm 1999 lại tăng lên 18 thị trờng nớc ngoài (4). Đó cũng là điểm khích lệ trong việc
tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng và tăng doanh số bán cho Công ty.
Bên cạnh đó tốc độ tăng doanh thu ngày càng lớn, năm 1998 tăng so với năm
1997 là 10.96%, năm 1999 tăng hơn năm 1998 là 16.66% và năm 2000 cao hơn năm
1999 là 37.76%. Trong đó doanh thu từ việc bán hàng trực tiếp (FOB) cũng có xu hớng
tăng lên ( năm 1998 đạt 10.56% trong tổng doanh thu của Công ty). Đây là dấu hiệu
đáng mừng giúp cho Công ty chuyển từ hình thức gia công sang hình thức kinh doanh
đứt đoạn với bạn hàng nớc ngoài nhằm tăng thu lợi nhuận hơn nữa.
Từ đó khách hàng của Công ty cũng ngày một đông: năm 1997 đến năm 1998 số
khách hàng của Công ty khoảng 12 Công ty kinh doanh hàng may mặc nớc ngoài nhng
đến năm 1999-2000 số khách hàng đã tăng lên 17-18 Công ty.
khu vực thị trờng nội địa mới chiếm khoảng 5% tổng doanh thu của Công ty.
- Hơn thế nữa, từ năm 1997-2000, Công ty kinh doanh đều có lãi nhng lợi nhuận
cha cao, bình quân chỉ đạt từ 1.2% đến 2% so với tổng doanh thu. Đó chỉ là mức lãi suất
quá nhỏ trong việc hoạt động kinh doanh.
Bảng 6 : Tình hình lợi nhuận của Công ty (1997-2000)
Đơn vị tính: 1000đ