PHẦN KHUNG XƯƠNG CỦA BÀI THUYẾT TRÌNH VỀ HIỆU ỨNG NHÀ KÍNH - Pdf 12




 !
• "#$"%%&'#()*
• "%+,"-./$0+,12
• "%%&'%&,345$0
• 4,167471%&,345$0
"#$"%%&'#()*
Để hiểu và biết về hiệu ứng nhà kính trước tiên chúng ta cần nắm được một số khái niệm
về các vấn đề liên quan
Môi trường: là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ
thống nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại
của nó. Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập
hợp con. Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với hệ
thống đó.
Một định nghĩa rõ ràng hơn: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã
hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống
của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế.
Khí hậu: Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển,
gió, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng khác trong khoảng
thời gian dài ở một vùng, miền xác định. Điều này trái ngược với khái niệm thời tiết về
mặt thời gian, do thời tiết chỉ đề cập đến các diễn biến hiện tại hoặc tương lai gần. Khí hậu
của một khu vực ảnh hưởng bởi toạ độ địa lí, địa hình, độ cao, độ ổn định của băng tuyết
bao phủ cũng như các dòng nước lưu ở các đại dương lân cận. Khí hậu phân ra các kiểu
khác nhau dựa trên các thông số chính xác về nhiệt độ và lượng mưa.
Biến đổi khí hậu: Biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí
quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên
nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ hay hàng
triệu năm. Sự biển đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự
kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một

3#89:%&-; có hai dạng: bức xạ trực tiếp và bức xạ khuếch tán. Có bước sóng khá
rộng từ bức xạ gamma đến sóng vô tuyến với năng lượng cực đại ở vùng quang phổ khả
kiến. Đây chính là nguồn năng lượng chủ yêu để chiếu sáng và duy trì các hoạt động sinh
hóa trên Trái Đất. Khi qua khí quyển Trái Đất, các bức xạ sóng ngắn có hại cho sự sống
gần như bị tầng ozon hấp thụ hoàn toàn. Ngày nay do công nghiệp phát triển, các chất
CFC thải vào khí quyển đang huỷ hoại dần dần tầng ozon, tạo ra nguy cơ bức xạ sóng
ngắn sẽ tiêu diệt sự sống trên Trái Đất.
Đơn vị Dobson: Đơn vị Dobson là đơn vị đo lường ôzôn trong khí quyển, đặc biệt là
trong tầng bình lưu. Một đơn vị Dobson bằng 2,69 × 10
20
phân tử ôzôn trên một mét
vuông, tương đương với một lớp ôzôn dày 0,001 cm trong điều kiện tiêu chuẩn
2
Đơn vị này được đặt theo họ của Gordon Dobson, là một nhà nghiêng cứu tại Đại học
Oxford. Vào thập niên 1920 ông đã tạo ra thiết bị đầu tiên (ngày nay gọi là máy đo ảnh
phổ ôzôn Dobson) để đo tổng lượng ôzôn từ mặt đất.
Khí nh* kính: Khí nhà kính là những khí có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài (hồng
ngoại) được phản xạ từ bề mặt trái đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, sau đó
phân tán nhiệt lại cho trái đất, gây nên hiệu ứng nhà kính.[1] Các khí nhà kính chủ yếu bao
gồm: hơi nước, CO2, CH4, N2O, O3, các khí CFC. Trong hệ mặt trời, bầu khí quyển của
sao Kim, sao Hỏa và Titan cũng chứa các khí gây hiệu ứng nhà kính. Khí nhà kính ảnh
hưởng mạnh mẽ đến nhiệt độ của Trái Đất, nếu không có chúng nhiệt độ bề mặt Trái Đất
trung bình sẽ lạnh hơn hiện tại khoảng 33 °C.
"%+,"-./-5<$0+,12
Thành phần trái đất khá ổn định theo phương nằm ngang và phân dị theo phương thẳng
đứng. Phần lớn toàn bộ khối lượng khí quyển tập trung ở tầng đối lưu và tầng bình lưu. Thành
phần khí quyển trái đất bào gồm chủ yếu là ni tơ, ôxi, hơi nước, hidro, ozon và các khí trơ…
4:=%>?, là tầng thấp nhất của khí quyển, ở đó luôn có chuyển động đối lưu của khối
không khí bị nung từ mặt đất, thành phần khí khá đồng nhất. Ranh giới trên của tầng đối lưu
trong khoảng 7 - 8 km ở hai cực và 16 - 18 km ở vùng xích đạo. Tầng đối lưu là nơi tập trung

tầng bình lưu. Trong tầng bình lưu, biên độ của các sóng trọng lực có thể trở thành đủ lớn làm
cho các sóng này trở nên không ổn định và bị tiêu tan. Sự tiêu tan này chuyển xung lượng vào
tầng trung lưu và là động lực chính trong lưu thông tại tầng trung lưu ở quy mô toàn cầu.
4:%&>%B-4%&-C: nằm từ 80–85 km đến khoảng 640 km, nhiệt độ tăng theo độ
cao có thể lên đến 2.000°C hoặc hơn. Ôxy và nitơ ở tầng này ở trạng thái ion, vì thế gọi là tầng
điện li. Sóng vô tuyến phát ra từ một nơi nào đó trên vùng bề mặt Trái đất phải qua sự phản xạ
của tầng điện li mới truyền đến các nơi trên thế giới. Tại đây, do bức xạ môi trường, nhiều phản
ứng hóa học xảy ra đối với ôxy, nitơ, hơi nước, CO2 chúng bị phân tách thành các nguyên tử
và sau đó ion hóa thành các ion và nhiều hạt bị ion hóa phát xạ sóng điện từ khi hấp thụ các tia
mặt trời vùng tử ngoại xa.
44D5% là lớp trên cùng nhất của khí quyển Trái Đất. Trên Trái Đất, ranh giới dưới
của nó với rìa trên của tầng nhiệt, ước tính theo các nguồn khác nhau, là khoảng 500 tới 1.000
km phía trên bề mặt Trái Đất, và ranh giới trên của nó là khoảng 10.000 km, tuy nhiên ranh giới
trên này không được định nghĩa rõ ràng do mật độ khí giảm liên tục nhưng không bao giờ đạt
tới 0. Phần lớn vật chất trong tầng ngoài nằm ở trạng thái ion hóa. Chỉ từ tầng ngoài thì các loại
khí của khí quyển (gồm các nguyên tử, phân tử) có thể, ở một mức độ nhất định, thoát ra để bay
vào không gian liên hành tinh. Các khí chính trong tầng ngoài là các khí nhẹ nhất, chủ yếu là
hidro, với một ít heli, điôxít cacbon, ôxy nguyên tử gần đáy của tầng ngoài. Tầng ngoài là lớp
cuối cùng trước khi tiến vào vũ trụ.
"%%&'%&,345$0
Hiệu ứng nhà kính, xuất phát từ effet de serre trong tiếng Pháp, do Jean Baptiste Joseph
Fourier lần đầu tiên đặt tên, dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi năng lượng bức xạ của tia sáng mặt
trời, xuyên qua các cửa sổ hoặc mái nhà bằng kính, được hấp thụ và phân tán trở lại thành nhiệt
lượng cho bầu không gian bên trong, dẫn đến việc sưởi ấm toàn bộ không gian bên trong chứ
không phải chỉ ở những chỗ được chiếu sáng.
Hiệu ứng này đã được sử dụng từ lâu trong các nhà kính trồng cây. Ngoài ra hiệu ứng nhà
kính còn được sử dụng trong kiến trúc, dùng năng lượng mặt trời một cách thụ động để tiết
kiệm chất đốt sưởi ấm nhà ở.
Khi bức xạ Mặt Trời chiếu xuống Trái Đất, một phần bức xạ này sẽ phản xạ lại vào vũ trụ
tại biên ngoài khí quyển, phần còn lại xuyên qua bầu khí quyển truyền đến bề mặt Trái Đất

3
o
C. Các số liệu nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trái đất đã tăng 0,5
o
C trong khoảng thời gian từ
1885-1940, do thay đổi của nồng độ CO2 trong khí quyển từ 0,027% đến 0,035%. Dự báo, nếu
không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,5- 4,5
o
C vào
năm 2050. Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của các chất khí được xếp theo thứ tự CO2, CFC,
CH4, O3, NO2. Sự gia tăng nhiệt độ trái đất do hiệu ứng nhà kính có tác động mạnh mẽ tới
nhiều mặt của môi trường trái đất. Kể từ những năm 1860, công nghiệp hóa đã tăng và những
cánh rừng bị thu hẹp làm mức CO2 trong khí quyển tăng lên tới mức 100 phần triệu và nhiệt độ
ở Bắc bán cầu cũng tăng lên. Nhiệt độ và các khí nhà kính gia tăng, thậm chí còn nhanh hơn kể
từ những năm 1950.
5
4,167471%&,345$0
Để đến được bề mặt trái đất, năng lượng mặt trời phải đi qua lớp không khí dày. Một phần
năng lượng mặt trời đến trái đất bị giữ lại nhờ các quá trình vật lý, hóa học, sinh học. Một phần
được phản xạ về vũ trụ. Bức xạ nhiệt từ trái đất phản xạ lại co bước sòng dài, kho xuyên qua
được lớp khí quyển và bị giữ lại bởi các khí nhà kính. Nếu các khí nhà kính tồn tại vừa phải thì
chúng giúp cho nhiệt độ trái đất không quá lạnh nhưng nếu chúng có quá nhiều trong khí quyển
thì kết quả là trái đất nóng lên. Sự gia tăng của CO2, CFC, CH4, O3, N2O và các khí khác
trong khí quyển là nguyên nhân gây hiệu ứng nhà kính. Ngoài ra còn có những loại khí nhân tạo
do con người tạo ra như các freon, và một số các chất phóng xạ tự nhiên cúng “góp phần” gây
nên hiệu ứng nhà kính.
Chúng ta hãy cùng xem một sơ đồ đơn giản nhất về ảnh hưởng của các khí nhà kính dẫn
đến hiệu ứng nhà kính:
“Bình thường tia nắng mặt trời chiếu đến trái đất
Phản xạ lên bề mặt trái đất phát tán vào khí quyển

hại này trên phạm vi toàn cầu một phần lớn bắt nguồn từ sự phục hồi kinh tế của các nước
thuộc hệ thống Liên bang Xô Viết.
Các kênh thải khí gaz ô nhiễm của Nga đã vượt qua 2,09 tỷ tấn vào năm 2004 lên 2,13 tỷ
tấn vào năm 2005. Tuy vậy, các kênh phát tán khí độc hại của Nga vẫn còn ở mức độ rất xa so
với “kỷ lục” của nước này vào năm 1990 với 3 tỷ tấn khí thải, chính xác là trước khi Nga ra
lệnh đóng cửa nhiều nhà máy sản xuất công nghiệp.
%GD-I4.J-*%
Sự phát triển nhanh các phương tiện giao thông vận tải của thế giới là nguyên nhân tiềm
tàng gây tăng Hiệu ứng nhà kính .
Trong quá trình hoạt động các phương tiện giao thông phát thải vào không khí một khối
lượng lớn các loại khói, khí độc như CO, CO2, hidro cacbon, NO2, SO2, khói đen, chì và các
dạng hạt khác. Tùy theo loại động cơ và loại nhiên liệu mà khối lượng các chất thải độc hại
chiếm tỷ lệ khác nhau trong khí xả. Trong những năm gần đây người ta chú ý nhiều đến giao
thông vận tải vì nó góp phần thải ra CO2 – khí nhà kính quan trọng nhất. Trên toàn thế giới
khoảng 15% CO2 trong không khí là do các phương tiện giao thông vận tải thải ra.
Khi dòng xe lưu thông trên đường, đặc biệt là khi hãm phanh, các lốp xe sẽ ma sát mạnh
với mặt đường làm mòn đường, mòn các lốp xe và tạo ra bụi đá, bụi cao su và bụi sợi. Các bộ
phận ma sát của phanh bị mòn cũng thải ra bụi kẽm, đồng, niken, crom, sắt và cadimi. Ngoài ra
quá trình cháy không hết nhiên liệu cũng thải ra bụi cacbon. Bên cạnh các nguồn bụi sinh ra từ
xe, còn có bụi đất đá, cát tồn đọng trên đường do chất lượng đường kém, do đường bẩn và do
chuyên chở các vật liệu xây dựng, chuyên chở rác.
G%-"#A;4
Việc gia tăng khai thác gỗ và ô nhiễm môi trường không khí ở các nước đang phát triển là
cho diện tích rừng suy giảm nhanh chóng. Tính trung bình, tốc độ mất rừng hàng năm của thế
giới vào khoảng 20 triệu ha. Bên cạnh suy giảm về diện tích, chất lượng rừng cũng bị suy giảm.
Những nguyên nhân trên đang làm giảm khả năng hấp thụ khí C02 của rừng thế giới theo thời
gian.
Sự mất rừng: chủ yếu là do chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp, vẫn ở một tốc độ
nhanh: khoảng 13 triệu ha mỗi năm.
7

Ngày nay, sự gia tăng nồng độ CO2 trong khí quyển đang là mối quan tâm của toàn cầu.
Các nhà nghiên cứu lo ngại rằng sự gia tăng các khí gây hiệu ứng nhà kính, đặc biệt là khí CO2
chính là nhân tố gây nên những biến đổi bất ngờ và không lường trước của khí hậu.
Sự tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch cùng với các hoạt động khác của con người là những
nguyên nhân chính gây nên những biến động về nồng độ CO2 trong khí quyển. Sự gia tăng khí
CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển làm nhiệt độ trái đất tăng lên. Theo sự tính toán
của các nhà khoa học, khi nồng độ của CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi thì nhiệt độ bề mặt
8
trái đất tăng khoảng 3
O
C. Các số liệu nghiên cứu cho thấy nhiệt độ của trái đất đã tăng 0,5
O
C
trong khoảng thời gian từ năm 1885 đến năm 1940 do thay đổi của nồng độ CO2 trong khí
quyển từ 0,027% lên 0,035%. Dự báo nếu không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính,
nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,5
O
C ÷ 4,5
O
C vào năm 2050. Sự gia tăng CO2 có tác động mạnh
mẽ tới nhiều mặt của môi trường trái đất. Kể từ năm 1860, khi nền công nghiệp phát triển cùng
với những cánh rừng bị thu hẹp đã làm cho CO2 trong khí quyển tăng lên tới 100 phần triệu và
nhiệt độ ở Bắc bán cầu cũng tăng lên. Và hiện tượng này có xu hướng gia tăng hơn kể từ năm
1950.
Nồng độ phát thải cacbon hóa thạch ngày càng tăng, ta có thể thấy rõ qua sơ đồ

Ước tính mỗi năm riêng việc đốt than đá đã thải vào khí quyển 25000 tỷ tấn cacbon điôxít.
Để đánh giá hàm lượng CO2 của khí quyển, các nhà khoa học đã lấy các mẫu băng trong các
chỏm núi băng dày 3400m (có niên đại 160 thiên niên kỉ) ở các độ sâu. Kết quả cho thấy rằng
không khí bị nhốt trong các khối băng chứa hàm lượng CO2 là 0,02% (200ppm). Giá trị đó thấp

Hiện nay người ta ước tính hàng năm việc đốt nhiên liệu hóa thách đã thải vào khí quyển
5,5 tỷ tấn CO2. Tỷ lệ phát thải CO2 trên toàn cầu được thống kê như sau:
Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới về ô nhiễm môi trường bởi CO2 và các loại khí thải
khác. Mỹ, Canada và Mêhicô đã tiêu thụ gần 40% năng lượng hóa thạch tiêu thụ trên thế giới.
Tại hội nghị Manila 1995, các quốc gia công nghiệp phương Tây bị tố cáo là thủ phạm gây
ra ô nhiễm môi trường, hàng năm đã phát thải vào khí quyển 23 tỷ tấn khí CO2 phá hoại lớp
ozon. Còn ở Châu Á, Trung Quốc là nước đứng đầu trong phát thải CO2 và các khí khác vào
môi trường (6,6% trong tổng số), tiếp theo đó là Nhật Bản (chiếm 3,9% trong tổng số).
10
Chính vì những lý do trên nên có thể nói CO2 la một trong những khí có tác động mạnh
mẽ nhất đến môi trường hiện nay.
0M
Chiếm 20% trong cơ cấu các khí gây hiệu ứng nhà kính. Là những hóa chất do con người
tổng hợp để sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp và từ đó xâm nhập vào khí quyển. Khí
CFC là một hợp chất bao gồm clo, flo và cacbon. Bình thường chúng là loại khí trơ nhưng trong
khí quyển, dưới tác dụng của tia bức xạ tử ngoại của mặt trời, nó giải thoát clo - mỗi nguyên tử
clo phản ứng dây chuyền với 100.000 phân tử ozon và biến ozon thành oxi theo phản ứng sau:
Cl + O3 → ClO + O2 ;
ClO + O → Cl + O2 ;
Và như vậy, theo các phản ứng trên khí ozon (O3) sẽ mất đi, còn khí clo (Cl) luôn tồn tại
và tiếp tục phá hủy tầng ozon.
Như đã biết, trong tầng bình lưu của khí quyển trái đất ở độ cao 18 ÷ 40km có một lớp
giàu khí ozon gọi là tầng ozon. Tầng ozon xuất hiện trong khí quyển đồng thời với sự có mặt
của khí oxi. Lượng khí ozon trong khí quyển vô cùng nhỏ, khoảng 4.10-7% thể tích. Tuy nhiên
tầng ozon có vai trò cực kì quan trọng đối với đời sống sinh vật trái đất vì nó có khả năng hấp
thụ toàn bộ năng lượng bức xạ cực tím của mặt trời với bước sóng 0,29µm ÷ 0,22µm, có tác
động hủy diệt mọi sinh vật trên trái đất. Ngoài ra tầng ozon còn hấp thụ cả bức xạ hồng ngoại
nên được xem là ranh giới ngoài của sinh quyển.
Trong khí quyển, khí ozon sinh ra và mất đi rất nhanh, nó tồn tại trong một vài phút. Các
tính toán cho thấy nồng độ khí ozon trong khí quyển đạt giá trị cực đại ở độ cao 25 ÷ 30km.

Bắc Cực đã giảm 40C ÷ 50C, nên quá trình phá hủy ozon gia tăng. Sự thiếu hụt tổng lượng
ozon trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 03/2000 so với thời điểm năm 1976 khoảng 2950
triệu tấn, gấp đôi sự thiếu hụt vào các năm 1998 và năm 1999.
Tác hại của việc suy thoái tầng ozon:
Người ta đã ước tính ràng nếu ozon bình lưu giảm 1% thì sẽ tăng 2% UVR (UVR -
cường độ bức xạ mặt trời) trên bề mặt trái đất và do đó làm tăng: 0,6 ÷ 0,8% ca đục thủy
tinh thể; 2% ca mắc ung thư da không sắc tố; 0,6% tỷ lệ mắc sắc tố da ác tính.
Nếu ozon tầng bình lưu giảm 10% thì ung thư da không sắc tố tăng 24%, nếu suy giảm
30% thì sẽ tăng gấp đôi và khi giảm 50% sẽ tăng gấp 4 lần.
Bên cạnh gây bệnh cho con người, UVB còn có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sơ cấp
của thực vật. Theo số liệu nghiên cứu ở Châu Nam Cực thì bức xạ cực tím UVB đã làm
giảm 23% năng suất sơ cấp thực vật phù du, nguồn thức ăn của 500 ÷ 700 triệu tấn thân
mềm và 120 loài cá, 80 loài chim biển, 6 loài hải cẩu, 15 loài cá voi.
Có thể nói đó là những minh chứng tiêu biểu cho sự tác động của việc suy thoái ozon. Như
vậy, tình trạng suy thoái tầng ozon đang là nguyên nhân làm cho mức độ tác động tiêu cực của
hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu đang ngày càng trở nên trầm trọng hơn.
0'6-GBNC
Khí CH4 là một trong các khí có tác động mạnh mẽ gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính.
CH4 là thành phần chính của khí tự nhiên, khí dầu mỏ, khí bùn ao, đầm lầy. Mặc dù CO2 là
nguyên nhân chính gây hiệu ứng nhà kính, còn CH4 chỉ thải vào không khí với một lượng thấp
hơn rất nhiều thế nhưng CH4 có hại cho khí hậu lớn gấp 30 lần so với cùng một lượng nhất
định khí CO2.
Hiện nay, mật độ của khí CH4 đã tăng khoảng 150% từ năm 1750 đến năm 1998. Mật độ
trung bình của nó trên bề mặt trái đất là khoảng 1745ppb. Mật độ ở Bắc bán cầu cao hơn vì ở
đó có nhiều nguồn CH4 hơn (cả thiên nhiên lẫn nhân tạo). Mật độ của CH4 cũng thay đổi theo
mùa, thấp nhất vào cuối hè.
12
Hiện nay, khí này phát thải vào khí quyển ngày càng nhiều do các hoạt động của con
người. Nguyên nhân phát thải CH4 là:
• Sự khai thác, vận chuyển các loại khí đốt, than đá và dầu mỏ.

. N2O xâm nhập vào không khí sẽ không thay đổi dạng trong thời gian dài, chỉ khi đạt tới
những tầng trên của khí quyển nó mới tác động một cách chậm chạp với nguyên tử oxi. Hợp
chất này khi phản ứng với nguyên tử oxi năng lượng cao sẽ tạo thành hợp chất nito monooxit
(NO), là tác nhân làm suy yếu tầng ozon
Hàm lượng của nó đang tăng dần trên phạm vi toàn cầu, hàng năm khoảng từ 0,2 - 0,3%.
Mỗi năm có khảng 10 triệu tấn N2O được thải ra môi trường.
0KOD
Chiếm 8% trong cơ cấu các khí gây hiệu ứng nhà kính. Là thành phần chính của tầng bình
lưu, khoảng 90% ozon tập trung ở độ cao 19-23km so với mặt đất. Có chức năng bảo vệ sinh
quyển do khả năng hấp thụ bức xạ tử ngoại và toả nhiệt của phân tử ozon.
Người ta ước tính trong thời gian vừa qua, mức suy giảm tầng ozon trung bình toàn cầu là
5% và số lượng suy giảm ngày càng tăng do phân hủy ozon vượt quá khả năng tái tạo lại.
Hầu hết phân tử ozon bị phân hủy do 4 tác nhân cơ bản: các nguyên tử ôxy, các gốc
hydroxyl hoạt động, các oxit nito và quan trọng là các hợp chất clo.
Tầng ozon bị phá hủy làm tăng lượng mưa axit tạo thành khói quang hóa gây hiệu ứng nhà
kính…
14
0-A%P>,DAD'Q-1>R,>P,AQBSMMTC
Một nhóm các nhà khoa học Mỹ và Châu Âu đã phát hiện ra ở độ cao cách mặt đất từ 8 ÷
32km có một loại khí lạ trifluoromethylsulfure (SF CF3). Loại khí này có khả năng hấp thụ ánh
sáng mặt trời cực lớn, gấp 18.000 ÷ 20.000 lần khí cacbon điôxít, có thể tồn tại trên tầng cao
của khí quyển khoảng 3500 năm. Nguy hiểm hơn, mật độ của nó tăng rất nhanh, từ một lượng
nhỏ không đáng kể vào đầu những năm 1986 đã tăng lên tới 0,12 phần tỷ vào năm 1999.
Hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa biết chính xác nguồn gốc của loại khí lạ nguy hiểm
này. Tuy nhiên theo một giả thuyết, loại khí này có thể sinh ra từ sự phân hủy hoặc do phụ
phẩm của quá trình sản xuất hexafluoridesunfure (SF6) - một chất lỏng cách điện được dùng
nhiều trong công nghiệp điện tử hoặc từ khí CF4 phát ra từ các lò luyện nhôm. Các nhà khoa
học đã lên tiếng cảnh báo về độ nguy hiểm đặc biệt của loại khí này vì nó có thể tích tụ nhiều
lên và tồn tại một thời gian dài trong bầu khí quyển làm cho nhiệt độ trái đất tăng nhanh.
"-%&-6''H-#U-$0'V%471%&,345$0#W#'9 

bình thường khác của con người.
Nhiệt độ trái đất tăng lên làm băng tan ở hai cực. Mực nước biển dâng cao dẫn đến ngập
úng các vùng trũng thấp trên mặt đất, làm biến động dòng chảy của các sông ngòi, phá vỡ
nhiều công trình trên các dòng sông đó.
Nguồn nước: Chất lượng và số lượng của nước uống, nước tưới tiêu, nước dùng cho các
quá trình công nghệ, cho các nhà máy phát điện cũng như sức khỏe của các loài thủy sản
có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự thay đổi của các trận mưa rào và bởi sự tăng khí
bốc hơi.
Mưa tăng có thể gây lụt lội thường xuyên hơn, khí hậu thay đổi có thể làm đầy các lòng
chảo nối với sông ngòi trên thế giới.
Các tài nguyên bờ biển: Chỉ riêng ở Hoa K•, mực nước biển dự đoán sẽ tăng 50 cm vào
năm 2100, có thể mất đi 5.000 dặm vuông đất khô ráo và 4.000 dặm vuông đất ướt.
Sức khỏe: Số người chết vì nắng nóng có thể tăng do nhiệt độ cao trong những chu kì dài
hơn trước. Sự thay đổi lượng mưa và nhiệt độ có thể đẩy mạnh các bệnh truyền nhiễm,
nhiều loại bệnh tật mới đối với con người sẽ xuất hiện, và sẽ làm cho sức khỏe con người
bị suy giảm.
Lâm nghiệp: Nhiệt độ cao hơn tạo điều kiện cho nạn cháy rừng dễ xảy ra hơn.
Năng lượng và vận chuyển: Nhiệt độ ấm hơn tăng nhu cầu làm lạnh và giảm nhu cầu làm
nóng. Sẽ có ít sự hư hại do vận chuyển trong mùa đông hơn nhưng vận chuyển bằng
đường thủy có thể bị ảnh hưởng bởi số trận lụt tăng hay bởi sự giảm mực nước sông.
Sinh vật: Sự nóng lên của trái đất làm thay đổi điều kiện sống bình thường của các sinh
vật trên trái đất. Một số loài sinh vật thích nghi với điều kiện mới sẽ thuận lợi phát triển,
trong khi đó nhiều loài sẽ bị thu hẹp về diện tích hoặc bị tiêu diệt.
Sau đây chúng ta sẽ xem xét một số hiểm họa toàn cầu và tác động của hiệu ứng nhà kính.
16
]=%:Q^_G-;:9%^?(4
Trong một nghiên cứu kéo dài ba năm qua của nhà khoa học Na Uy- giáo sư Ola
Johannessen thì vào cuối thế kỷ 21, băng Bắc Cực đã giảm 7,4% trong vòng 25 năm qua do
hiệu ứng nhà kính. Theo giáo sư Johannessen, vào cuối thế kỉ 21, khí hậu toàn cầu nóng lên sẽ
làm tan chảy 80% chỏm băng ở đây trong mùa hè; biển Barents ở phía Bắc của Nga và Na Uy

đổi hành vi để thích ứng với những điều kiện mới. Tình trạng tương tự cũng diễn ra ở Hà Lan,
nơi 90% số lượng cá thể ở một số loài chim đã bị biến mất trong hai thập kỉ qua.
Nếu nhiệt độ tiếp tục tăng, nhiều vùng ẩm ướt ở bờ biển Địa Trung Hải – nơi sinh sống
của đa số các loài chim di cư trên hành tinh – sẽ trở nên khô hạn vào năm 2080. Ngoài ra, sự
17
tăng lên của nhiệt độ cũng sẽ hủy diệt nhiều điểm đến khác của chim di cư khiến chúng có ít
chọn lựa hơn.
Cách đây hai thập niên, đảo Biscoe thuộc bán đảo Nam Cực còn là nhà của 2.800 cặp chim
cánh cụt Adélie, hiện nay chỉ con chừng khoảng 1.000 cặp. Tại các đảo gần đó, dân số Adélie
giảm 66%. Nghiên cứu 34 loài bướm không di cư tại Châu Âu cho thấy 75% loài này hiện đang
bay xa hơn từ 3,5 ÷ 240km về phương Bắc. Nhiều loài hoa ở Châu Âu cũng đã nở sớm hơn một
tuần và rụng lá muộn hơn 5 ngày so với cách đây 50 năm. Chim tại Anh cũng sinh sớm hơn
trung bình 9 ngày so với giai đoạn trước thế kỷ 20 và ếch đột ngột bước vào mùa giao phối sớm
hơn 7 tuần. Tại Bắc Mỹ, chim én di cư vào mùa xuân sớm hơn 12 ngày so với cách đây 25 năm.
Cáo đỏ Canada cũng rủ nhau lên vùng cực, xâm phạm lãnh thổ cộng đồng cao Bắc Cực. Và
cũng do ảnh hưởng thời tiết nóng dần, sâu bướm biến thành bướm sớm hơn 2 tuần.
*'_Ga4b4)U--?\ 4
Người Pháp vừa chứng kiến một mùa hè nóng nhất kể từ năm 1949. Tại Bordeaux, nhiệt
độ lên tới 40
O
C. Với 3.000 người thiệt mạng do nóng, Pháp là nước chịu hậu quả nặng nề nhất
về người trong cơn giận dữ của thiên nhiên này. Có thể nói nếu so với nạn nhân của chiến tranh
hoặc dịch bệnh thì số người chết vì nắng nóng không hề thua kém.
Bồ Đào Nha là nước chịu hậu quả lớn nhất về của, 54.000 ha rừng bị biến mất trong vụ
cháy rừng lớn nhất hơn 20 năm qua tại nước này, vụ cháy được gọi là thảm họa quốc gia. Hậu
quả là 11 người chết, hàng trăm người phải sơ tán, 3.000 lính cứu hỏa và hàng chục máy bay
chữa cháy đã phải vật lộn với hơn 70 đám cháy đang hoành hành dọc khu vực biên giới Trung,
Bắc và Đông Bắc đất nước.
Tại Tây Ban Nha, nhiệt độ đã lên tới 46
O

học viện công nghệ Masschussets đã công bố một bản bảo cáo trong đó đã chỉ ra rằng: ”Thời
gian, tốc độ gió tối đa và năng lượng giải phóng của các cơn bão nhiệt đới đã tăng lên rõ rệt cả
ở Bắc Đại Tây Dương và Bắc Thái Bình Dương kể từ những năm 70”.
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng trong vòng 15 năm qua kể từ năm 1975 đến năm 1989
đã xuất hiện 171 cơn bão cực mạnh (loại cấp 4 hoặc cấp 5) nhưng trong 15 năm trở lại đây con
số đó đã tăng lên 269. Việc tăng cường độ các cơn bão chính là do nhiệt độ bề mặt nước biển -
hệ quả của hiệu ứng nhà kính liên tục tăng cao trong những năm gần đây.
Tại trung tâm nghiên cứu khí quyển của Mỹ, kết quả phân tích những trận bão ở Bắc Đại
Tây Dương (2005) đã cho thấy nhiệt độ bề mặt ở khu vực này đã tăng lên 0,9
O
C so với mức
trung bình của những năm trước đó. Và sau khi so sánh nhiệt độ bề mặt ở khu vực này với các
đại dương khác thì các nhà khoa học đã nhận định rằng một nửa số lần tăng nhiệt độ bề mặt ở
Đại Tây Dương là do những khí thải hiệu ứng nhà kính gây ra.
Ngoài ra theo các nhà khoa học thì hiện tượng thời tiết như hạn hán, lũ lụt hay sự tan băng
ở các địa cực cũng là mối đe dọa đối với hàng triệu sự sống khác.
Có thể thấy qua vài thập niên gần đây, trái đất ngày càng nóng dần đã tạo ra những chuyển
biến nghiêm trọng trên bề mặt hành tinh. Nó đã gây nhiều tác động mạnh mẽ đến con người và
động vật, hệ sinh thái trên hành tinh. Và nếu với cứ tốc độ gia tăng khí nhà kính như hiện nay
thì sẽ có thể xảy ra một sự thay đổi đột ngột và cực mạnh, làm biến đổi hoàn toàn hệ sinh thái
hành tinh.
19
%&-?d4e>%D
El Nino được dùng để chỉ hiện tượng nóng lên khác thường của nước biển vả vành đai
xích đạo rộng lớn dài gần 10.000 km, từ bờ biển Nam Mỹ đến quần đảo Macsan, Marudơ ở khu
vực giữa Thái Bình Dương. El Nino thường gắn với một quá trình lớn của khí quyển - đại
dương là dao động nam bán cầu và được gọi chung là ENSO. Hiện tượng El Nino thường lặp
lại với chu k• khoảng 8 đến 11 năm, chu k• ngắn hơn là 2 đến 3 năm. Khi xuất hiện, El Nino
gây ra những thiên tai nặng nề (mưa lớn, bão, lũ lụt ở vùng này, hạn hán cháy rừng ở vùng
khác), làm thiệt hại lớn về người, thảm hoạ về kinh tế - xã hội (mất mùa, đói kém, bệnh tật )

Đôn, Paris và giá thóc gạo tại nhiều nước ở châu Á tăng cao.
20
Các chuyên gia kinh tế dự đoán rằng toàn cầu sẽ thiệt hại tới 7.000 tỷ USD do hiện tượng
trái đất nóng lên trong 10 năm tới nếu như các nước không thực hiện những biện pháp có hiệu
quả nhằm ngăn chặn hiện tượng biến đổi khí hậu đang diễn ra nhanh.
T  Xfg
h
]H-R=.i)*`#I4?V#+,=#-[
I4?V#$,4#ZGj%6d<+,=#./%[:k%$0J,BMC
Trước những hiểm hoạ và thách thức lớn đối với toàn nhân loại, Liên hợp quốc đã tập hợp
nhiều nhà khoa học, chuyên gia trên thế giới để bàn bạc và nhất trì rằng cần phải có một công
ước quốc tế về khí hậu và coi đó là cơ sở pháp lý để tập trung cộng đồng thế giới đối phó với
những diễn biến tích cực của biến đổi khí hậu. Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi
khí hậu đã được chấp nhận ngày 9/5/1992 ở New York. Mục tiêu cuối cùng của UNFCCC là ổn
định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy
hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu.
4E:E-? 1D-DBC
Một trong những cố gắng đầu tiên của nhân loại để giảm mức độ ấm dần do khí nhà kính
là việc các quốc gia đã tham gia bàn thảo và tìm cách kí kết một hiệp ước có tên là “Nghị định
thư Kyoto” (gọi tắt KP) vào tháng 12/1997. Hội nghị đưa ra cam kết đối với các nước phát
triển về giảm lượng phát thải khí nhà kính. Cụ thể trong thời gian kí cam kết từ năm 2003 đến
năm 2012, phải giảm thiểu trung bình là 5,2% (tương đương 2.800 - 4.800 triệu tấn cacbon
dioxit), trong đó liên minh châu Âu 8%, Hoa Kì 7%, Nhật 6%.
Kể từ tháng 9/2011 đã có khoảng 191 nước kí kết tham gia chương trình này. Trong đó có
khoảng 36 nước phát triển được yêu cầu phải có hành động giảm thiểu khí thải nhà kính mà họ
đã cam kết cụ thể trong nghị trình. Tuy nhiên Mỹ tìm cách thoái thác kí hiệp ước này do nó có
khả năng gây tổn hại cho sự phát triển kinh tế Mỹ. Mặc dù vậy nhưng về phía nội bộ của nước
Mỹ cũng như một số nước tiên tiến khác, nhiều nỗ lực để giảm khí độc mà chủ yếu thải ra từ
xe máy nổ và các nhà máy đã được áp dụng khá mạnh mẽ.
Ở Mỹ, hầu hết các tiểu bang đều có luật bắt buộc các phương tiện giao thông dùng động

sẽ giúp giảm lượng khí thải gây hiệu ứng toàn cầu.
Hiện nay, các nhà khoa học đã sử dụng khí mỏ - một loại khí được giải phóng ra trong quá
trình khai thác các mỏ than, có thể được sử dụng để sản xuất ra nguồn năng lượng sạch. Như đã
biết, thành phần chủ yếu của khí mỏ là các khí mêtan, cacbon dioxide, nitơ là những thành
phần chính gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính. Chính vì vậy nên việc sử dụng các loại khí này
có thể giúp loại trừ các mối nguy hại tiềm ẩn và đồng thời góp phần giảm thiểu các loại khí gây
hiệu ứng nhà kính.
4^n4i4>?d49-7
Năng lượng hạt nhân là một giải pháp kinh tế, an toàn và là nguồn năng lượng sạch đảm
bảo cho sự phát triển bền vững trong việc thỏa mãn nhu cầu điện năng đang tăng mạnh trên
toàn cầu (dự kiến năm 2050 tiêu thụ năng lượng thế giới tăng gấp hai và nhu cầu điện năng sẽ
tăng gấp ba).
Thực tế cho thấy, các lò phản ứng hạt nhân thực sự không phát thải, sử dụng chúng để
phát điện có thể kiềm chế được mối nguy hiểm nóng lên toàn cầu và thay đổi khí hậu. Bất k•
một chiến lược nào thực sự muốn ngăn chặn mối đe dọa này đều cần đến năng lượng hạt nhân.
Các nhà máy điện hạt nhân hàng năm giúp tránh thải 2,5 tỷ tấn cacbon dioxide, tương
đương một nửa số khí thải của ngành vận tải thế giới. Mở rộng công suất điện hạt nhân đồng
nghĩa với giảm thải chất gây hiệu ứng nhà kính. Năng lượng hạt nhân giúp giảm bớt ô nhiễm
22
không khí và bề mặt trái đất. Lò phản ứng hạt nhân không thải ra khói (nguyên nhân gây ra
sương mù và các bệnh về đường hô hấp). Tuy nhiên, việc sử dụng năng lượng hạt nhân thải ra
các chất phóng xạ nhưng so với lượng thải khổng lồ của năng lượng hóa thạch vào khí quyển
thì lượng chất thải hạt nhân nhỏ hơn rất nhiều, được quản lý tốt và có thể cất giữ mà không gây
nguy hại cho con người và môi trường. Ngoài ra, điện hạt nhân có khả năng cạnh tranh về kinh
tế và sẽ cạnh tranh hơn khi tính đến chi phí môi trường liên quan đến những tổn hại do phát thải
cacbon. Các lò phản ứng hạt nhân còn được sử dụng để khử mặn nước biển nhằm đáp ứng nhu
cầu nước sạch hàng ngày đang tăng trên thế giới. Trong tương lai có thể sử dụng các lò phản
ứng hạt nhân để sản xuất hidro với lượng lớn cung cấp nhiên liệu cho ô tô năng lượng sạch.
]H-R=#"##I44&
#b$*i4:?d#-W#-%-AD4'H-.5%-J<%6-V%

một bộ phận chịu trách nhiệm về các vấn đề đã được thiết lập, luật quốc gia về bảo vệ môi
trường đã được thông qua. Chính phủ đã tiến hành một loạt các kế hoạch:
Trồng mới 5 triệu hecta rừng vào năm 2010.
Phát động phong trào giữ gìn môi trường “Xanh – Sạch – Đẹp” hàng năm.
Nạo vét các kênh rạch .
Khôi phục các khu rừng ngập mặn ở Đồng bằng Sông Cửu Long.
Bảo vệ các khu rừng quốc gia nằm rải rác từ các vùng núi phía Bắc cho đến khu vực Tây
Nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long.
Đóng cửa những cơ sở, nhà máy không đảm bảo tiêu chuẩn về khí thải.
Các khu công nghiệp tiến tới thực hiện sản xuất sạch và quy hoạch các khu sản xuất sạch
dành cho các doanh nghiệp mới.
Xây dựng các khu dân cư, khu công nghiệp và các công trình công cộng tuân thủ theo
quy hoạch tổng thể về cảnh quan và môi trường, tạo sự hài hòa và góp phần giảm lượng
khí thải ra môi trường.

jp
Cho đến nay người ta vẫn cho rằng có quá nhiều cacbon dioxide trong không khí là do đốn
hạ cây xanh quá mức là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu.
Tuy nhiên, các nhà khoa học Trung Quốc và Mỹ mới đây đã cho biết, hiệu ứng nhà kính đã bắt
đầu cách đây khoảng 5.000 năm. Kết quả dựa trên những nghiên cứu các di vật được khai quật
từ những tàn tích thuộc vùng Neolithic – Sơn Đông, Trung Quốc trong vòng 10 năm qua. Cho
dù vậy hiện nay hàm lượng của khí nhà kính đang ngày một gia tăng mà nguyên nhân sâu xa
không ai khác chính là do những hoạt động của con người. Việc sử dụng quá lớn các nhiên liệu
hóa thạch, phục vụ cho các quá trình công nghiệp, các hoạt động giao thông, cho sinh hoạt và
do các hoạt động thiếu ý thức của con người đã gây ra thảm họa đối với môi trường sinh thái
hiện nay. Rất nhiều loài sinh vật trên thế giới đang bị thu hẹp và đứng trước nguy cơ tuyệt
chủng, môi trường tự nhiên bị xáo trộn và các ảnh hưởng do thiên tai liên tiếp xảy ra với cường
độ lớn. Và trong tương lai, con người sẽ phải trả giá cho những hành động mà họ đã gây ra.
Hiện nay con người đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm khắc phục, cải tạo môi trường tự nhiên.
Tuy nhiên môi trường tự nhiên sẽ có những chuyển biến như thế nào thì đó phải là một quá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status