THĂNG LONG - HÀ NỘI NHÌN TỪ LỊCH SỬ - MỸ THUẬT
Ngược bến thời gian, Thăng Long còn là thành Đại La, do Cao Biền, viên tướng,
kiêm tiết độ xứ và nhà phong thuỷ đời Đường, Trung Hoa xây dựng vào thế kỷ thứ
IX thời Bắc thuộc. Về thời gian lịch sử, hai toà thành cách nhau hai thế kỷ. Nhưng
về thuật ngữ và phong cách nghệ thuật, không ít nhà nghiên cứu còn ngộ nhận,
hoặc lầm lẫn giữa hai phong cách Đại La đời Đường và Thăng Long đời Lý. Điển
hình là kiến trúc sư, Giáo sư lịch sử mỹ thuật trường cao đẳng mỹ thuật Đông
Dương Hà Nội, Louis Bezacier(1), người Pháp, được Viện Viễn Đông Bác Cổ
Pháp tại Hà Nội còn uỷ quyền trông coi việc trùng tu các di tích cổ. Ông đã cho
khai quật chân tòa bảo tháp đá chùa Phật Tích - Bắc Ninh, đã thu thập được nhiều
hiện vật đá và gốm, lại có nguyên một cái nền bằng gạch, mỗi viên gạch có ghi
niên hiệu: “Lý Gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo (tức làm năm thứ
III triều Lý Thánh Tông, niên hiệu Long Thụy Thái Bình, 1057). Quanh nền gạch
lại đào được rải rác những hình rồng khắc bằng đất nung cũng có niên hiệu đó và
nhiều đồ đá không có niên hiệu. Nhưng những con rồng đá chạm ở Phật Tích với
những con rồng đá chạm ở trên bia chùa Long Đọi - Hà Nam, tạc năm 1120 thời
Lý; hoặc những con rồng tạc trên đá tìm thấy ở Quần Ngựa, Ngọc Hà, Vĩnh Phúc
(Ba Đình, Hà Nội) chúng đều giống hệt nhau. “Đó là những con rồng mình tròn và
thanh tú như mình rắn, nhẵn nhụi hoặc có vẩy mờ, thoăn thoắt uốn lượn những
khúc cong như thắt túi, nhỏ dần về phía đuôi. Theo đại thể ấy, mọi chi tiết đều phụ
hoạ.” (Nguyễn Đỗ Cung. Mỹ thuật Đại La hay Mỹ thuật Lý? Tạp chí Thanh Nghị
số 96. Ngày 16/12/1944). Nhưng ông Louis Bezacier cứ khăng khăng đem ra so
sánh với những đồ điêu khắc ở hai động Vân Cương và Long Môn bên Tầu, dựa
vào sự khảo sát của ông Osvald Siren, có từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ VII. Và
nếu so sánh với những hình chạm trên ngôi thiết tháp ở tỉnh Hà Nam bên Tầu, cũng
dựa theo ông Osvald Siren, là vào khoảng những năm 963-967, thuộc đời Đường.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đỗ Cung đã trả lời ông Louis Bezacier: “Tôi không đồng
ý với ông L.Bezacier khi ông lấy linh khiếu mà bình phẩm cái này cùng lối với cái
kia một cách quá gọn ghẽ Theo tôi, thì tước bỏ danh từ Mỹ thuật Đại La mà gọi
Lý, thì Thăng Long - Hà Nội là một trung tâm chính trị, tôn giáo, kinh tế, văn hoá,
mỹ thuật quan trọng như lịch sử đã mô tả: “Các vua Lý đều ở lầu gác 4 tầng Lầu
gác đều sơn son, vẽ rồng hạc, tiên nữ Các thuyền rồng lớn cũng được thiết kế 3
tầng để nhà vua sinh hoạt”(3). Đạo phật được xem là quốc giáo. Ngoài Thăng
Long, khắp nơi trong nước “Nơi nào có núi cao cảnh đẹp là ở đấy có chùa - tháp”.
ở Thăng Long nổi tiếng nhất có chùa Một Cột (Diên Hựu Tự hay Nhất Trụ Tự) cấu
trúc theo hình tượng hoa sen về giấc mơ của vua Lý. Lan can chùa còn vẽ tranh
tường khá quy mô về đề tài Thập Điện và các tích nhà phật, giữa hồ Linh Chiếu.
Tiếp đến là Chùa Báo Ân và tháp Báo Thiên. Tháp Báo Thiên 12 tầng, cao 10
trượng, khoảng 60m.
Thăng Long còn trải qua các triều Trần - Lê Sơ - Mạc - Lê Trịnh (từ thế kỷ XIII,
XIV đến các thế kỷ XVII- XVIII) với không ít dấu ấn mỹ thuật đậm nét. Vì vậy có
lẽ nên gọi tên đầy đủ là “Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội” mới trọn nghĩa nội
dung lịch sử. Cuộc khai quật những năm đầu thế kỷ 21 đã tìm thấy không ít dấu vết
hoàng thành cũ với cả một tập hợp hiện vật gồm đồ đất nung, đồ gốm có men, đồ
đá Với các đề tài rồng, phượng, uyên ương, trụ hoa sen, đầu đao, con giống, nền
gạch, bố cục mặt bằng, có cả giếng nước là những bằng chứng cụ thể về kinh
thành tráng lệ đã trải qua mấy triều đại. Về mặt kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật
gốm có nhiều loại hình, cấu trúc, tạo hình, màu men, chất đất giầu tính độc đáo
cả về kỹ thuật và nghệ thuật.
Không lấy làm lạ ở ngay bên bờ sông Hồng, đối diện với kinh đô Thăng Long -
Đông Đô - Hà Nội đã có cả một làng làm gốm Bát Tràng nổi tiếng, vừa phục vụ
cung đình, vừa phục vụ đời sống dân dụng - Từ các thời Lê Sơ - Mạc - Lê - Trịnh
(thế kỷ XV - XVI- XVII). Và chính từ những chiếc bình thờ, đèn thờ, lư đỉnh gốm
chạm nổi hoặc vẽ nét hoa lam có ghi rõ các niên đại như Diên Thành, Hồng Ninh,
Hưng Trị, Đoan Thái Thuộc thời Mạc Mậu Hợp (thế kỷ 16) mà nhà nghiên cứu
nổi tiếng Nguyễn Đỗ Cung đã xem đó làm điểm tựa, đối chiếu với các mảng chạm
khắc còn xót lại ở các ngôi đình chùa làng mà bấy lâu chưa được xác định, đã đưa
ra ánh sáng nền mỹ thuật Mạc đích thực. Một lần nữa lịch sử mỹ thuật lại ghi công
nhà nghiên cứu lão thành xuất sắc Nguyễn Đỗ Cung.
với nền mỹ thuật của các nước XHCN Đông Âu cũ, điển hình là trường phái mỹ
thuật tả thực Liên Xô, Hiện thực XHCN. Ngày nay với cuộc giao lưu - hội nhập -
phát triển, toàn cầu hoá, là sự tiếp xúc đa phương, đa dạng giữa Hà Nội với các nền
văn hoá nghệ thuật khu vực và các châu lục. Mỹ thuật Hà Nội đang mở ra các xu
hướng mới với không ít phong cách và thể loại của thời toàn cầu hoá.
Nhưng dù giao lưu - phát triển theo hướng đa phương - đa dạng, thì mỹ thuật
Thăng Long Hà Nội vẫn ý thức được bản sắc dân tộc, theo nghĩa hài hoà giữa
truyền thống và hiện đại - đương đại. Với mục tiêu chiến lược “Xây dựng một nền
văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” chắc chắn mỹ thuật Hà Nội sẽ không
ngừng phát triển, luôn giữ vững vị trí Dân Tộc - Hiện Đại. Các triển lãm mỹ thuật,
sách báo mỹ thuật, trang trí nội ngoại thất mỹ thuật đã đi vào từng góc phố, căn
nhà và cả đời sống cá nhân với cái đẹp ứng dụng. Triển lãm mỹ thuật Việt Nam ra
nước ngoài và triển lãm mỹ thuật nước ngoài vào Hà Nội, là những sinh hoạt nghệ
thuật đã trở thành thường xuyên trong đời sống văn hoá tinh thần của người Hà
Nội. Con đường gốm sứ ven đê sông Hồng chạy dài gần 5500m từ An Dương đến
Vạn Kiếp với bốn chủ đề lớn: Di sản mỹ thuật từ Đông Sơn đến Lý - Trần - Lê -
Nguyễn; Hoa văn thổ cẩm đặc trưng và trang trí kiến trúc 54 dân tộc trong đại gia
đình Việt Nam; Tranh thiếu nhi Việt Nam và quốc tế về Hà Nội, thành phố hoà
bình; Tranh hiện đại - đương đại của các họa sĩ Việt Nam và quốc tế là những đóng
góp quan trọng, có ý nghĩa với 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, mãi mãi xứng
đáng là Thủ đô văn hiến, là trung tâm nghệ thuật của cả nước. Dấu ấn và đặc điểm
Thăng Long- Hà Nội đã in sâu trong tiềm thức mọi người, trong đó có bạn bè quốc
tế. Nói đại ý như hai nhà nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam và Phương Đông: Bà
Corinne de Menonville, người Pháp, trong tác phẩm: “Hội họa Việt Nam, cuộc
phiêu lưu giữa truyền thống và hiện đại”; và cô Nora annesley Taylor với tác phẩm
Hội họa Hà Nội rằng mỹ thuật Việt Nam hiện đại đã có một trường phái. Đó là
trường phái Hà Nội -Hội họa Hà Nội.