Lịch sử Thăng Long – Hà Nội - Pdf 29

ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao (TDTT) là một trong những bộ phận của nền giáo dục
cộng sản, nền giáo dục đó đòi hỏi con người phải được phát triển toàn diện để
trở thành người chủ đất nước, vì vậy công tác giáo dục TDTT phải được coi
trọng đúng với vị trí và ý nghĩa của nó để phát huy đầy đủ tính giáo dục toàn
diện.
Từ xưa đến nay hình thái của người Việt Nam là nhỏ bé so với các
nước trên thế giới và khu vực. Ở nước ta hiện nay nền kinh tế văn hoá, chính
trị, khoa học, kỹ thuật ... đã và đang phát triển nhằm tiến tới công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước vì vậy việc nâng cao thể chất cho mỗi người dân Việt
Nam là vấn đề cực kỳ cấp thiết là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân, Đảng và
Nhà nước ta phải hết sức quan tâm và coi trọng đồng thời mỗi người dân cũng
phải tự ý thức được điều này.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng và Nhà nước ta luôn coi
trọng công tác TDTT và xác định TDTT không chỉ do ngành thể dục thể thao
có trách nhiệm mà đòi hỏi tất cả các ngành, các cấp trong xã hội đều phải
quan tâm và phát triển. Chính vì thế mà trong văn kiện đại hội Đảng VIII và
nghị quyết trung ương II Khoá VIII của Đảng về giáo dục - đào tạo và khoa
học công nghệ đã khẳng định: " Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn
minh phải có con người phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức mà còn
phải là con người cường tráng về thể chất, chăm lo cho con người về thể chất
là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các cấp, các ngành, các đoànthể,
trong đó có giáo dục đào tạo y tế và TDTT". Đến văn kiện Đại hội đảng IX,
Đảng ta vẫn xác định phải "từng ước nâng cao chất lượng dân số, chăm sóc
sức khoẻ nhân dân, mở rộng và hoàn thiện mạng lưới y tế, chăm sóc và bảo vệ
trẻ em, đẩy mạnh phong trào toàn dân tập luyện TDTT" và "Đẩy mạnh hoạt
1
động TDTT nâng cao thể trạng và tầm vóc của người Việt Nam phát triển
phong trào TDTT quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp".
Trong những năm gần đây, cùng với nhịp điệu phát triển chung của
toàn quốc, khu vực miền Đông Bắc Bộ nền kinh tế cũng có sự phát triển mạnh

Khái niệm phát triển thể chất được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành
khoa học, đặc biệt là trong VHTC. Nhưng cho đến nay ít có tác giả đưa ra
khái niệm cụ thể cùng các yếu tố nội hàm của nó. Một khái niệm chung nhất
được sử dụng trong lý luận và phương pháp giáo dục thể chất đó là: Phát triển
thể lực là quá trình hình thành biến đổi. Tuần tự theo quy luật trong suốt cuộc
đời từng người về hình thái chức năng các tố chất thể lực và năng lực thể chất.
Y học TDTT cũng đưa ra khái niệm về mức độ phát triển thể chất đó là
một tổ hợp các tố chất, hình thái và chức năng của cơ thể quy định khả năng
hoạt động thể lực của cơ thể. Như vậy khái niệm về mức độ phát triển thể chất
không chỉ bao gồm các đặc tính, hình thái và kích thước của cơ thể mà còn cả
khả năng chức phận của cơ thể.
Mức độ phát triển thể chất chịu ảnh hưởng tác động của các yếu tố bên
trong, bên ngoài cơ thể và các yếu tố kinh tế, xã hội, điều kiện dinh dưỡng,
luyện tập thể thao, các yếu tố bẩm sinh di truyền ... đặc biệt chịu ảnh hưởng
của các bài tập thể chất đến sự phát triển thể chất của học sinh.
Các đặc điểm của thể trọng cũng là những thông số để đánh giá về mức
độ phát triển thể chất và thể trạng của con người phụ thuộc vào các yếu tố di
truyền và môi trường bên ngoài như điều kiện lao động, dinh dưỡng, luyện
tập TDTT, các bệnh đã mắc phải ...
3
Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng các chỉ số hình thái của học sinh cấp II,
III không phải là ổn định về thế cần đưa ra các chiến lược chỉ đạo của cấp trên
đối với học sinh các dân tộc Bắc Giang nói riêng và các dân tộc cả nước nói
chung để phát triển hình thái.
Trong đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu diễn biến của một số
chỉ số về hình thái của học sinh phổ thông dân tộc nội trú Tỉnh Bắc Giang. Từ
đó đánh giá sự phát triển hình thái của các em.
1.2. Các chỉ số về hình thái.
1.2.1. Chiều cao.
Chiều cao là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá tầm vóc và

vòng ngực thở ra hết sức.
2.2.4. Kích thước vòng chi:
* Vòng cánh tay đo: Cẳng tay gấp vào cánh tay ở mức độ cảm thấy có
sức mạnh nhất và cũng đo ở mức hai đầu cơ to nhất.
* Vòng đùi: Là yếu tố để đánh giá sự phát triển các tố chất, thể lực (sức
nhanh, mạnh, bền và độ linh hoạt)
1.3. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 12 - 15.
So với học sinh cấp tiểu học, phổ thông trung học cơ sở học tập chiếm
vị trí nhiều hơn và các em gặp một loạt hoàn cảnh mới: Nhiều môn học mới,
phải thực hiện yêu cầu không phải của một giáo viên mà nhiều giáo viên, học
sinh phải hoạt động độc lập với khối lượng công việc tăng một cách đáng kể
và các em có một đại vị mới ở gia đình và trường học. Đối với các em bắt đầu
cố gắng muốn tự lập, điều này có quan hệ đặc biệt đến sự phát triển thái độ có
ý thức đối với hoạt động của mình. Nguyện vọng đó sẽ giúp các em tích cực
hơn trong hoạt động, nâng cao ý thức trách nhiệm, phát triển sự sáng tạo trong
5
hoạt động. Tuy nhiên nếu giáo dục không đúng thì tính độc lập trong tư duy
của các em phát triển theo chiều hướng không đúng sẽ dẫn dến kết quả không
tốt (học đòi, cáu kỉnh, thô lỗ, hỗn láo, hút thuốc lá, sống "vô chính phủ" và dễ
dàng mắc phải những tệ nạn xã hội - đặc biệt là ở lứa tuổi cuối cấp học phổ
thông trung học cơ sở.
- Hứng thú của các em xuất hiện thêm nhiều nét mới so với học sinh
cấp I. Hứng thú đã được xác định rõ rệt hơn, mang tính chất bền vững, sâu sắc
và phong phú hơn. Hứng thú của các em rất năng động, các em sẵn sàng đi
vào lĩnh vực tri thức mình ưa thích. Do vậy việc giảng dạy TDTT cũng như
các môn học khác đóng vai trò chủ yếu trong vấn đề này. Giờ học TDTT sẽ
tạo cho các em hiểu được ý nghĩa, vai trò của TDTT đối với cá nhân và xã
hội, giúp các em tự giác tích cực trong tập luyện trong giờ chính khoá và hoạt
động ngoại khoá. Song chất lượng giảng dạy và nhân cách giáo viên có ảnh
hưởng mạnh đến sự nảy sinh và phát triển hứng thú của các em đối với môn

hướng khác nhau, nên nhân cách của các em phức tạp hơn và nhiều mâu
thuẫn hơn tuổi học sinh cấp tiểu học. Do vậy cần phải thường xuyên quan sát
và giáo dục cho phù hợp trên cơ sở dựa trên tính tích cực, phát huy tính sáng
tạo, biết điều chỉnh và tổ chức hoạt động động cho các em tạo điều kiện phát
triển tốt khả năng của các em.
1.4. Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 12 - 15.
1.4.1. Hệ thần kinh.
Não bộ đang thời kỳ hoàn chỉnh, hoạt động của thần kinh chưa ổn định,
hưng phấn chiếm ưu thế vì vậy khi học tập các em dễ trung tư tưởng, nhưng
nếu thời gian kéo dài, nội dung nghèo nàn, hình thức hoạt động đơn điệu thần
kinh sẽ chóng mệt mỏi và dễ phân tán sức chú ý. Do hoạt động thần kinh linh
7
hoạt đó là điều kiện dễ dàng hình thành phản xạ có điều kiện. Do vậy nội
dung tập luyện phải phong phú, phương pháp giảng dạy tổ chức giờ học phải
linh hoạt, không cứng nhắc đơn điệu, giảng giải và làm mẫu có trọng tâm
chính xác đúng lúc, đúng chỗ. Ngoài ra cần tăng cường hoạt động thể dục thể
thao ngoài giờ và các hình thức vui chơi khác để làm phong phú khả năng
hoạt động và phát triển các tố chất thể lực một cách toàn diện.
1.4.2. Hệ vận động.
Hệ xương đang trong giai đoạn phát triển mạnh về chiều dài. Hệ thống
sụn tại các khớp đang đòi hỏi điều kiện tốt để phát triển và hoàn thiện, do vậy
giáo dục thể chất có tác dụng tốt đến sự phát triển của hệ tương nhưng phải
chú ý đến tư thế, đến sự cân đối trong hoạt động để tránh sự phát triển sai lệch
của hệ xương và kĩm hãm sự phát triển chiều dài. Đặc biệt đối với các em gái
xương chậu chưa được phát triển hoàn thiện nên dễ bị lệch lạc nếu quá trình
hoạt động vận động không hợp lý.
- Hệ cơ của các em phát triển chậm hơn sự phát triển của hệ xương, hệ
cơ chủ yếu phát triển về chiều dài thiết diện cơ chậm phát triển nhưng đến
tuổi 15 - 16 thì thiết diện cơ phát triển nhanh đặc biệt là các cơ co, cơ to phát
triển nhanh hơn các cơ duỗi và cơ nhỏ. Do sự phát triển không đồng bộ, thiếu

Ở lứa tuổi cấp phổ thông trung học cơ sở, các em đang trong giai đoạn
phát triển dậy thì (gái sớm hơn trai 1 - 2 tuổi) do phát triển đột biến của một
số tuyến nội tiết gây ra sự mất ổn định nên một số chức năng của các hệ thống
cơ quan và tâm lý đều có sự khác biệt rõ ràng dần.
Ví dụ: Các em gái buồng trứng bắt đầu phát triển, xuất hiện kinh
nguyệt và thường rối loạn cấu tạo của xương mỏng và xốp, mỡ dưới da nhiều,
lồng ngực hẹp dung lượng phổi nhỏ, khả năng hoạt động tuần hoàn và hô
9
hấp ... đều kém các em trai nên hoạt động với khối lượng tương đối thì phản
ứng mạnh, chóng mệt mỏi và hồi phục lâu hơn các em trai.
Do vậy trong tập luyện thể dục thể thao phải thận trọng đối sử hợp lý
với từng em, từng giới tính khác nhau.
1.5. Các công trình nghiên cứu về thể chất học sinh.
Có những công trình khoa học nhằm phân tích, đánh giá thực trạng
hình thái thể chất và sức khoẻ của thế hệ trẻ nước ta (6 - 18 tuổi).
- Tác giả: Nguyễn Quang Quyền (1962 và 1975) đã chuẩn hoá một số
chỉ tiêu về hình thái và chức năng được ngành y công nhận hằng số sinh học
của người Việt Nam năm 1975.
- Tác giả: Đinh Hỷ và cộng sự (1972) nghiên cứu về hình thái cơ thể.
- Tác giả: Cao Quốc Việt và Vũ Việt Bắc (1973) nghiên cứu đánh giá
tình trạng sức khoẻ học sinh.
- Tác giả: Trịnh Bình Di, Đoàn Uyển (1986) khái quát đặc điểm phát
triên cơ thể trẻ em từ 6 - 17 tuổi.
Song lại có những công trình nghiên cứu có tính chất điều tra cơ bản
đối với học sinh nhằm tìm ra những quy luật phổ biến về sự phát triển thể chất
của trẻ như:
- Lê Đình Du và cộng sự (1973) theo dõi và đánh giá tình hình phát
triển thể lực học sinh.
- Phạm Hồng Minh (1980) nghiên cứu về sự phát triển thể chất học sinh
Việt Nam từ 7 - 17 tuổi...

thập được bằng công thức sau với n < 30.
- Giá trị trung bình:
n
X
X
i
Σ
=
Trong đó:
X
: Giá trị trung bình.
X
i
: Là giá trị các số liệu.
n: Tổng các số liệu.
- Phương sai:
( )
1
2
2

−Σ
=
n
xx
i
x
δ
Trong đó: δ
2

2
2
−+
−+−
=
∑ ∑
BA
BBAA
nn
xxxx
δ
12
- Công thức tính hệ số tương quan thứ bậc.
)1(
6
1
2
2

−=
nn
d
r
Trong đó: r: Hệ số tương quan.
1 và 6: Hằng số.
D = A
i
- B
i
: Sự khác biệt ở từng cấp biến số và thứ bậc của hai

nội trú Tỉnh Bắc Giang.
Để giải quyết nhiệm vụ 1 của đề tài chúng tôi tiến hành lựa chọn một
số chỉ số kiểm tra về hình thái cơ thể học sinh dân tộc nội trú Tỉnh Bắc Giang.
Để có thể lựa chọn được những chỉ số nhằm đánh giá sự phát triển hình
thái của học sinh Trường PTDT nội trú Tỉnh Bắc Giang chúng tôi đã tiến
hành phỏng vấn 15 giáo viên huấn luyện viên, bác sỹ ... Để lựa chọn ra các
chỉ số phù hợp để nghiên cứu đánh giá. Kết quả phỏng vấn được chúng tôi
trình bày ở bảng 3.1.
14
Bảng 3.1. Bảng kết quả phỏng vấn lựa chọn các chỉ số kiểm tra về hình
thái cơ thể học sinh phổ thông dân tộc nội trú Tỉnh Bắc Giang
TT Các chỉ số Đơn vị
Kết quả phỏng vấn
Số người đồng ý Tỷ lệ %
1 Chiều cao cm 15 100
2 Cân nặng kg 15 100
3 Vòng cánh tay thuận co cm 13 86
4 Vòng cánh tay thuận duỗi. cm 13 86
5 Hiệu số vòng cánh tay. cm 14 93
6 Rộng vai. cm 7 46
7 Dài cánh tay. cm 8 53
8 Dài cẳng tay. cm 8 53
9 Dài tay cm 6 40
10 Lực bóp tay cm 5 33
11 Vòng ngực trung bình cm 14 93
12 Vòng ngực hít vào hết sức cm 14 93
13 Vòng ngực thở ra hết sức cm 14 93
14 Hiệu số vòng ngực cm 13 86
15 Vòng đùi thuận phải cm 13 86
16 Vòng đùi trái cm 8 53


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status