Đề tài : Một số biện pháp kinh tế chủ yếu sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh đồng tháp từ nay đến năm 2020' - Pdf 12

1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Ngành thuỷ sản là một phân ngành của nông nghiệp theo nghĩa rộng.
Sự phát triển của ngành thuỷ sản gắn liền với sự phát triển của nông nghiệp,
nông thôn Việt Nam. Ngành thuỷ sản Việt Nam trong những năm gần đây
không ngừng phát triển và lớn mạnh, đặc biệt là từ sau Hội nghị Ban chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khỉa VII (năm 1993) đã xác định xây dựng
ngành thuỷ sản thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Từ đó đến nay,
ngành thuỷ sản nước ta luơn không ngừng phát triển và ngày càng khẳng định
vai trì to lớn trong quá trình hội nhập và phát triển đất nước.
Đồng Tháp là tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL, dân số 1.639.400 người,
diện tích tự nhiên 3.314 km
2
, có nguồn nước ngọt dồi dào với hệ thống kênh
rạch chằng chịt, thuận lợi cho việc phát triển nghề nuơi trồng thuỷ sản. Nhằm
khai thác hiệu quả những lợi thế mà thiên nhiên ưu đãi cho Tỉnh, Đảng bộ và
các cấp chính quyền của Tỉnh đã xác định chiến lược phát triển ngành thuỷ
sản, đặc biệt là sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu, là hướng đi đúng và cần
thiết để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tính đến năm 2006, tổng
kim ngạch xuất khẩu của ngành thuỷ sản chiếm 50,43% trong tổng kim ngạch
xuất khẩu của toàn Tỉnh, trong đó sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu chiếm
vị trí hàng đầu. Sản xuất cá tra xuất khẩu phát triển đã kéo theo nhiều ngành
phát triển như: chế biến thuỷ sản, thuốc thú y thuỷ sản, chế biến thức ăn, vận
tải…và giải quyết một lượng lớn lao động dư thừa trong nông thôn Đồng
Tháp lúc nông nhàn, nâng cao thu nhập, tăng thu ngân sách và thay đổi bộ
mặt của người dân vùng nông thôn.

Đánh giá đúng thực trạng sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh
Đồng Tháp, phân tích và chỉ rị những kết quả, những hạn chế và nguyên nhân
các vấn đề cần giải quyết;
Đề xuất một số biện pháp kinh tế chủ yếu đẩy mạnh phát triển sản xuất
và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp từ nay đến năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề kinh tế chủ yếu của
sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp. Để phát triển một
cách bền vững nghề sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu đòi hỏi phải nghiên
cứu toàn diện những vấn đề kinh tế, tổ chức quản lý và kỹ thuật sản xuất;
Nhưng đối tượng nghiên cứu của luận văn chỉ là những vấn đề kinh tế, hơn
nữa là những vấn đề kinh tế chủ yếu cấp bách hiện đang đặt ra ở địa phương.
Mặc dù việc trình bày những đặc điểm của sản xuất và chế biến cá tra xuất
khẩu là cần thiết cho việc nghiên cứu những vấn đề kinh tế, nhưng do khuơn
khổ hạn chế, vấn đề này cũng sẽ không được đề cập đến trong luận văn này.
Luận văn được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến
năm 2007 và định hướng đến năm 2020
4. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Là phương pháp
nghiên cứu chung được sử dụng để xem xét, nghiên cứu những vấn đề cơ bản
của đối tượng; các mối liên hệ tác động qua lại của hiện tượng nghiên cứu với
những nhõn tố ảnh hưởng đến nỉ trong những điều kiện cụ thể về khơng gian
và thời gian của quá trình vận động phát triển khơng ngừng từ quá khứ tới
hiện tại và tương lai.
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng trong việc thu
thập, xử lý, phân tích các số liệu thống kê dựa trên các mối tương quan thống
kê như số bình quân, số tương đối, số tuyệt đối… để xem xét các mối quan hệ
4

giữa các mặt, các yếu tố, các mối quan hệ tác động có liên quan trực tiếp và

tra xuất khẩu.
Chương II: Thực trạng sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh
Đồng Tháp giai đoạn 2004-2007.
Chương III: Một số biện pháp kinh tế chủ yếu sản xuất và chế biến cá
tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp từ nay đến năm 2020.
6

Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN CÁ TRA XUẤT KHẨU
1.1.Vai trò của sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu đối với nền
kinh tế tỉnh Đồng Tháp
Nghề nuơi cỏ da trơn nói chung và cá tra nói riêng đã hỡnh thành từ rất

triển nhà máy chế biến chưa theo quy hoạch, điều này có thể dẫn đến rủi ro
mất cân đối vùng nguyân liệu và thị trường xuất khẩu. Sản phẩm chế biến ra
khoảng 80% là dành cho xuất khẩu nên phụ thuộc vào thị trường nước ngoài.
Bờn cạnh đó các doanh nghiệp cũn phải đối mặt với nguy cơ kiện bỏn phá giỏ
hay vi phạm các tiâu chuẩn về ATVSTP, mà những vấn đề này tỏc động
không nhỏ đến sự phát triển, uy tớn của doanh nghiệp…
Xuất khẩu cá tra, basa Việt Nam liên tục tăng, trong năm 2007, sản
lượng đạt 383.200 tấn với kim ngạch xuất khẩu đạt 974,12 triệu USD tăng
31% về sản lượng và 26,07% về kim ngạch so với năm 2006. Giỏ xuất khẩu
mặt hàng cá tra đông lạnh của Việt Nam trung bỡnh là 2,58 USD/kg, giảm
0,017 USD/kg so với năm 2006 và tăng 0,2 USD/kg so với năm 2005. Theo
dự báo năm 2008 giỏ xuất khẩu trung bỡnh của mặt hàng này sẽ tăng mạnh,
nguyên nhân là do giỏ dầu thơ trên thế giới tăng nhanh sẽ làm tăng chi phí
vận chuyển, đồng thời giỏ lương thực trên thế giới cũng liên tục tăng trong
những thỏng đầu năm 2008.
Tính đến năm 2007 Việt Nam xuất khẩu cá tra, basa sang 98 quốc gia
trên thế giới, tăng thờm 15 thị trường mới so với năm 2006.
Thị phần xuất khẩu năm 2007: EU tiếp tục là thị trường nhập khẩu cá
tra, basa lớn nhất của Việt Nam, chiếm 42,20% về sản lượng và 40,13% về
kim ngạch. Nga chiếm 11,17% về sản lượng và 8,28% về kim ngạch (giảm
25,9% về kim ngạch so với năm 2006 do Nga đã siết chặt rào cản về chất
8

lượng ATVSTP làm ảnh hưởng tới tốc độ xuất khẩu mặt hàng này của Việt
Nam vào Nga). Các nước ASEAN chiếm 8,69% về sản lượng và 7,85% về
kim ngạch, tuy chiếm một tỷ trọng khơng đáng kể nhưng đây lại là thị trường
ít rủi ro nhất của cá tra xuất khẩu Việt Nam trên thị trường thế giới. Ucraina
chiếm 6,1% về sản lượng và 4,1% về kim ngạch, đây là một thị trường mới
của cá tra Việt Nam nhưng lại có tốc độ tăng trưởng cao nhất so với các thị
trường mà Việt Nam xuất khẩu cá tra. Hoa Kỳ và Hồng Kĩng lần lượt chiếm

2001
2005
2006
2007
Giá trị
%
Giá trị
%
Giá trị
%
Giá trị
%
Tổng giá trị SX
Tr. đó:- Nuôi trồng
- Khai thác
- Dịch vụ
589,7
353,3
166,2
70,2
100
59,9
28,2
11,9
1672,8
1214,6
137,4
320,8
100
72,6

%
Giá trị
%
Giá trị
%
Tổng giá trị XK
114,6
100
170,6
100
239,6
100
290,2
100
1.Gạo
49,9
43,7
81,3
47,6
83,5
34,8
80.1
27,6
2.Thuỷ sản đông lạnh
37,8
33,0
59,7
35,0
118,1
49,3
10

1.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới phát triển sản xuất và
chế biến cá tra xuất khẩu
1.2.1.Nhân tố tự nhiên
Thời tiết và khớ hậu là nhõn tố đầu tiân tỏc động đến quá trình sản xuất
cá tra xuất khẩu, nếu thời tiết và khớ hậu thuận lợi với điều kiện sống của cỏ
thì chơng sẽ sinh trưởng và phát triển tốt. Ngược lại, thời tiết và khớ hậu xấu
chơng sẽ chậm lớn hoặc chết hàng loạt, gõy thiệt hại lớn cho người nuơi.
ĐBSCL là vũng trũng thớch hợp để nuơi cá tra. Nhưng bờn cạnh đó,
thuỷ triều đã xâm nhập mặn và tạo ra vùng sinh thái nước lợ khỏ rộng lớn làm
ảnh hưởng tới diện tích nuơi cá tra, ảnh hưởng đến sản lượng chung của toàn
vùng vỡ cá tra là loài cỏ sống nước ngọt.
Lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm, vào mua khụ thì hạn
hỏn hiện tượng xâm nhập mặn trên diện rộng và xuất hiện phốn khỏ phổ biến
ở nhiều nơi. Khi nắng hạn với những cơn mưa đầu mùa lượng nước mưa thải
xuống ao, hồ nuơi làm nguồn nước bị ô nhiễm, cá tra bị nhiễm bệnh và chết
hàng loạt nếu không chữa trị kịp thời, sẽ làm giảm năng suất vụ nuơi.
Tình hình ĩ nhiễm mĩi trường ở các vùng sản xuất tập trung (khu công
nghiệp, khu dân cư,…). Trình trạng ơ nhiễm mơi trường diễn ra khỏ phổ biến
do quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá phát triển khỏ nhanh. Nguyên
nhân chủ yếu là do hệ thống xử lý nước thải khơng đúng quy cách. Ô nhiễm
mĩi trường là mối trở ngại lớn nhất đối với nghề nuơi cá tra xuất khẩu. Tỏc
động của mĩi trường sẽ giỏn tiếp làm tăng chi phí sản xuất, tăng giỏ thành và
làm giảm chất lượng sản phẩm…
Lũ lụt một mặt tạo ra nguồn lợi thuỷ sản và bồi đắp phù sa hàng năm
cho vùng đồng bằng để phát triển sản xuất cây công, nông nghiệp, nhưng mặt
khác cũng làm thiệt hại các công trình thuỷ lợi phục vụ cho việc nuôi cá tra

12

xuất.
Các nhõn tố tỏc động chủ yếu đến thị trường bao gồm: Sự tăng trưởng
hay suy thoái của nền kinh tế, sự thay đổi vị trí tương đối về chi phí và chất
lượng của hàng hoá thay thế, hàng hoá bổ sung, khả năng xâm nhập đến các
nhỉm khỏch hàng khỏc, sự thay đổi khẩu vị, sự thay đổi về thu nhập, lối sống
và trình độ học vấn… Sự biến đổi của các nhõn tố trên có thể tỏc động cựng
hoặc ngược chiều tới nhu cầu của thị trường.
Ngoài ra, nhu cầu thị trường thuỷ sản nói chung, cá tra nói riêng, cũn
chịu ảnh hưởng bởi tính chất mùa vụ và sản lượng sản xuất hàng năm khỏc
nhau.
Vào những thỏng đầu năm 2008, khả năng suy thoái nền kinh tế Mỹ có
thể xảy ra, tình hình sản xuất và chế biến cá tra trong nước có nhiều biến động
mạnh. Sự mất giỏ mạnh của đồng USD trên thế giới cũng như ở Việt Nam,
tình trạng thiếu tiền đồng đang diễn ra khỏ phổ biến ở nhiều ngân hàng
thương mại, khiến việc chuyển đổi USD sang VND của các doanh nghiệp chế
biến cá tra xuất khẩu gặp nhiều khỉ khăn. Đặc biệt là trong thu mua nguyân
liệu cỏ cũng như trả lương cho công nhõn… Hậu quả là, nguồn nguyân liệu
cỏ khổng lồ của người nuơi cũn phải nằm trong ao chờ giỏ hoặc bỏn đi với
giỏ thấp chịu thua lỗ. Mặt khỏc, nếu muốn duy trì nuơi để chờ giỏ thì cũng
phải trả giỏ khỏ đắt và vượt qua khả năng của người nuơi nhất là các hộ nuôi
nhỏ lẻ, vốn ít. Trong khi đó, lói suất ngõn hàng tăng, giỏ thức ăn nguyân vật
liệu thuỷ sản chủ yếu là nhập khẩu cũng tăng vọt…Rị ràng là, yếu tố thị
trường có vị trí đặc biệt quan trọng đối với người nuơi và các doanh nghiệp
chế biến cá tra xuất khẩu.
1.2.4. Nhân tố vốn
Ngành thuỷ sản cũng như các ngành nghề khỏc muốn sản xuất kinh
doanh thì trước hết cần phải có tư liệu sản xuất: giống, đất đai, máy mỉc thiết
13

quản sau thu hoạch đối với thuỷ sản là rất quan trọng, do đó công nghệ làm
lạnh luơn đi liền với chế biến thuỷ sản[24 - 168].
Nếu như các DNCBTSXK với trình độ công nghệ thấp, lạc hậu thì
không có sự đa dạng hoá về mẫu mã, kiểu dỏng, không có khả năng nâng cao
chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất tăng, giảm khả năng cạnh tranh trên thị
trường.
Muốn cho ngành chế biến thuỷ sản xuất khẩu phát triển thì phải nâng
cao đầu tư, cải tiến công nghệ. Có thể nói cuộc cách mạng khoa học công
nghệ đã tạo nên những thay đổi lớn, tạo ra những bước đột phá về công nghệ
trong lĩnh vực chế biến thuỷ sản. Nếu chỉ tính riêng trong lĩnh vực cấp đông
đã có những thay đổi đáng kể, từ cấp đông bằng khơng khớ lạnh đến cấp đông
bằng bằng tủ đông tiếp xơc, rồi đến cấp đông bằng tủ đông băng chuyền, sau
đó thay thế bởi phương pháp cấp đông bằng khơng khớ hoá lỏng và gần đây
là dây chuyền công nghệ cấp đông rời (IQF). Đây là công nghệ cấp đông hiện
đại nhất hiện nay. Theo công nghệ cấp đông này thì các cỏ thể thực phẩm
trong khi cấp đông có sự liên kết lại với nhau do quá trình kết tinh của nước.
Vì vậy làm đông theo phương pháp này sẽ khơng làm tăng kích thước của
thực phẩm như phương pháp cấp đông khối, nên thời gian làm đông ngắn, tiết
kiệm được nhiều chi phí hơn so với các phương pháp cấp đông khác [1].
Bờn cạnh đó, nước thải được thải ra từ các nhà máy chế biến thuỷ sản cũng
là một mối lo gõy ô nhiễm, phá huỷ cảnh quan mĩi trường sinh thái, ảnh
hưởng trực tiếp đến người dân. Việc đầu tư công nghệ trong xử lý nước thải
của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản được nhập khẩu và sản xuất trong
nước như: Công nghệ xử lý nước thải sinh học hiếu khớ, yếm khớ và các
phương pháp vi sinh, hoá lý… Đây cũng là một số chỉ tiâu để tiến đến hệ
thống quản lý chất lương HACCP, ISO, GMP… là tiâu chuẩn đầu tiân để các
DNCBTSXK có thể xuất khẩu thuỷ sản sang một số thị trường khó tính có
15

yâu cầu cao về chất lượng sản phẩm như Mỹ, EU và Nhật…

1.2.6. Nhân tố chính sách
Chính sách là tổng thể các biện pháp kinh tế và những biện pháp khỏc
của Nhà nước từ Trung ương đến điạ phương, tỏc động đến các ngành, lĩnh
vực có liên quan trực tiếp đến những ngành nghề mà chính sách cần tỏc động
nhằm đạt được những mục tiâu nhất định với những điều kiện thực hiện nhất
định và trong một thời gian xác định[11].
Chính sách tỏc động đến sự phát triển của sản xuất và chế biến cá tra
xuất khẩu bao gồm các chính sách: Chính sách sử dụng đất trong nuơi và chế
biến cá tra xuất khẩu, chính sách thuế, chính sách đầu tư, chính sách tớn dụng,
chính sách giỏ cả,…
Sự phát triển của ngành thuỷ sản xuất khẩu nói chung và sản xuất, chế
biến cá tra xuất khẩu nói riêng đã tỏc động khơng nhỏ đến tất cả các lĩnh vực,
các ngành nghề trong xã hội. Nỉ khơng những đã tạo thờm nhiều công ăn việc
làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân mà nỉ cũn tỏc động đến
nền kinh tế vĩ mĩ
Trong thời gian vừa qua, ngành thuỷ sản Việt Nam phát triển nhanh
chỉng là do nhiều nguyân nhõn, song trong đó sự tác động tích cực của chính
sách Nhà nước có vai trì to lớn. Vớ dụ: Nhà nước rót 1.000 tỷ đồng để cứu
nghề nuơi và sản xuất cá tra xuất khẩu của các tỉnh ĐBSCL trong thỏng 06
năm 2008, tuy khơng đáng kể nhưng cũng đã giải quyết phần nào về vốn đối
với ngành nghề này trong giai đoạn lạm phát của Việt Nam hiện nay.
1.3. Những đặc điểm cơ bản của một số thị trường nhập khẩu cá
tra Việt Nam
Trong những thập kỷ trở lại đây, người tiâu dựng trên thế giới đã nhận
17

thức được lợi ích của việc tiâu dựng sản phẩm thuỷ sản. Việc quan tâm đến
chế độ dinh dưỡng tốt cho sức khoẻ và ngăn ngừa bệnh tật đã làm gia tăng
mức tiâu dựng thuỷ sản trên toàn thế giới. Chõu Âu (EU), Mỹ, Nhật, Nga,
Hồng Kĩng,…là những thị trường tiâu thụ thuỷ sản mạnh trên thế giới, là mục

- Kênh nhập khẩu và phân phối hàng thuỷ sản trong khối EU rất phức
tạp, với sự tham gia của rất nhiều thành phần (các công ty đa quốc gia, hệ
thống các cửa hàng, siâu thị, các công ty bỏn lẻ độc lập,…). Do đó, các
DNCBTSXK nói chung và xuất khẩu cá tra nói riêng cần nắm rị những đặc
điểm của kênh phân phối và đầu mối nhập khẩu để có những biện pháp xâm
nhập thị trường đạt hiệu quả cao nhất.
- Hàng rào phi thuế quan (hàng rào kỹ thuật): Là quy chế nhập khẩu
chung và các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiâu dựng EU. Có 5 tiâu chuẩn
bắt buộc của sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam vào EU (thuỷ sản, nông sản
thực phẩm và dược liệu): Tiâu chuẩn chất lượng, tiâu chuẩn về vệ sinh thực
phẩm, tiâu chuẩn về an toàn cho người sử dụng, tiâu chuẩn bảo vệ mĩi trường,
tiâu chuẩn về lao động.
+ Tiêu chuẩn chất lượng: Hệ thống quản lý ISO 9000 gần như là yâu
cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường EU. Hệ thống
quản lý chất lượng ISO 9000 dựa trên nền tảng tiâu chuẩn hoá đến từng chi
tiết và toàn bộ quá trình từ thiết kế sản xuất, lắp đặt, vận hành và dịch vụ. Bộ
tiâu chuẩn ISO 9000 chơ trọng vào việc phìng ngừa những khuyết tật về chất
lượng.
Với những ưu điểm mà tiâu chuẩn này mang lại, hiện nay hầu hết các
doanh nghiệp xuất khẩu cá tra của Việt Nam điều áp dụng tiâu chuẩn này. Khi
thực hiện ISO 9000, tức là các doanh nghiệp đã đáp ứng được yâu cầu của
khỏch hàng, tháo gỡ hàng rào mậu dịch và có thể thâm nhập thị trường một
cách dễ dàng hơn. Không chỉ dừng ở đó, ISO 9000 cũn giúp cho doanh
nghiệp nâng cao hiệu quả nhờ tăng năng suất và giảm chi phí (chi phí sản
19

phẩm hỏng và xử lý sản phẩm không phù hợp, giảm các chi kiểm tra,…) tiết
kiệm cho doanh nghiệp và khỏch hàng, tăng khả năng cạnh tranh cho các
doanh nghiệp.
+ Tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm: EU đòi các DNCBTSXK sang thị

trong quá trình sản xuất doanh nghiệp sử dụng bất kỳ một hỡnh thức lao động
cưỡng bức nào như đuợc xác định trong Hiệp ước Geneva (25/09/1926 và
07/09/1956) và các Hiệp ước lao động quốc tế số 29 và 105, như lao động từ
nhõn, lao động trẻ em,…[13 - 112]
+ Tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng: EU quy định hàng hoá thực
phẩm, đồ uống đóng gói khi nhập khẩu vào EU phải ghi rị tờn sản phẩm,
nhón mỏc, danh mục các thành phần, trọng lượng rìng, thời gian và cách sử
dụng, địa chỉ của nước sản xuất hoặc nơi bỏn, nơi sản xuất, các điều kiện đặc
biệt để bảo quản, để chuẩn bị sử dụng hoặc các thao tỏc bằng tay, mó số mó
vạch để nhận dạng lĩ hàng.[13 - 111]
Tỉm lại, hàng thuỷ sản xuất khẩu nói chung và cá tra xuất khẩu nói
riêng của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU chiếm một thị phần khỏ
khiâm tốn, cũn cách quá xa tiềm năng. Nguyên nhân chủ yếu là do hàng rào
kỹ thuật của nước nhập khẩu quá cao nhằm bảo hộ hàng hoá trong nước. Mặt
khỏc, các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam chưa nắm rị quy
trình, hoặc cố tình gian lận trong việc xuất khẩu sang thị trường này. Hậu quả
là hàng bị trả về, tổn thất về kinh tế, điều quan trọng nhất là làm ảnh hưởng
đến uy tớn hàng thuỷ sản Việt Nam đối với thị trường này.
1.3.2. Đặc điểm thị trường Mỹ
Hoa Kỳ (Mỹ) là một quốc gia Bắc Mỹ với diện tích 9.161.923km
2
, với
dân số 295.734.134 người (tính đến 07/2005), là nước đông dân đứng thứ 3
trên thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ. Nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế thị
21

trường, với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2004 là 11.750 tỷ USD, thu
nhập bỡnh quân đầu người 40.100USD người/năm. Đây là một thị trường lớn
nhất thế giới, là nước tham gia và giữ vai trì chủ đạo trong các tổ chức quốc tế
quan trọng (Tổ chức thương mại thế giới WTO, Ngõn hàng thế giới WB, Quỹ

Kim ngạch
nhập khẩu
Kim ngạch
xuất khẩu
Thâm hụt ngoại
thương
1995
10.525.017
7.141.428
3.383.589
3.757.839
1996
10.258.269
7.080.411
3.177.858
3.902.553
1997
10.989.151
8.138.840
2.850.311
5.288.529
1998
10.979.104
8.578.766
2.400.338
6.178.428
1999
12.352.321
9.407.307
2.945.014

phải chịu sự quản lý thuế nhập khẩu và kiểm soát nghiâm ngặt bằng các biện
pháp kỹ thuật (ATVSTP, kiểm soát mơi trường đánh bắt và nuơi trồng, ).
Các biện pháp bảo hộ sản xuất nội địa của Mỹ có chiều hướng gia tăng, hàng
thuỷ sản của Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ đang phải gánh chịu mức thuế
chống bán phá giá như: cá tra, cá basa đang phải chịu với mức thuế từ 37%
đến 64%. Tôm đông lạnh và đóng hộp của Việt Nam và một số nước Châu Á
23

cũng đang phải chịu áp loại thuế này.
Hàng thuỷ sản xuất khẩu sang thị trường Mỹ ngoài việc phải am hiểu
và tuân thủ các yếu tố trên còn phải chấp hành tốt các yêu vầu sau:
Các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật (HACCP, IMP, SSOP,…):
HACCP được ban hành tháng 12/1995, đưa vào áp dụng với thuỷ sản Mỹ và
thuỷ sản nhập khẩu từ nước ngoài từ tháng 01/1999. Ngoài HACCP các nhà
máy sản xuất trong nước cũng như các doanh nghiệp sản xuất nước ngoài
xuất khẩu vào thị trường Mỹ phải tuân thủ các tiêu chuẩn: GMP (Good
Manufacturing practices) các thông lệ thực hiện sản xuất tốt hợp vệ sinh,
SSOP (Sanitation Standard Operating Procedure) thủ tục thực hiện các tiêu
chuẩn vệ sinh. Các quy định này gắn với an toàn vệ sinh sản xuất, bảo quản,
vận tải thể hiện qua kiểm tra thực tế và qua giấy chứng nhận bằng các văn bản
theo quy định.[4]
Hệ thống quản lý trách nhiệm xã hội SA8000(Social Accountability).
Tiêu chuẩn này được áp dụng ở các nước Bắc Mỹ và Châu Âu, SA8000 được
áp dụng trách nhiệm xã hội chủ yếu là đối với người lao động.
Ngoài ra còn có các quy định về nhãn mác sản phẩm phù hợp, quy định
về xuất xứ hàng hoá và bảo vệ môi trường,…
Do đó các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường
Mỹ cần chú ý thực hiện nghiêm chỉnh những yêu cầu cơ bản trên của đối tác
Mỹ. Nếu không khi thuỷ sản nhập khẩu vào thị trường Mỹ, Cục thực phẩm và
dược phẩm Mỹ (FDA) kiểm tra lô hàng nhập khẩu phát hiện không đảm bảo

phẩm cần có sự đa dạng về chủng loại để họ có sự lựa chọn. Bên cạnh đó
nhãn mác hàng hoá phải kèm theo những thông tin hướng dẫn sử dụng, hạn sử
dụng, xuất xứ rõ ràng,…Hiểu rõ đặc tính này là điều rất quan trọng để có thể
đưa sản phẩm của mình đến người tiêu dùng Nhật Bản.
+ Những sản phẩm ảnh hưởng đến sức khoẻ của người tiêu dùng và ảnh
hưởng đến môi trường sinh thái thì không được người tiêu dùng Nhật tiếp
25

nhận. Người Nhật có xu hướng chuyển sang dựng sản phẩm sinh thái không
có tác động và gây ô nhiễm môi trường; Các bao bì đúng gỉi sản phẩm phải ít
nhất được qua một lần tái chế mới được ưa chuộng tại thị trường Nhật. Điều
này rất quan trọng các DNCBTSXK của Việt Nam nói chung và Đồng Tháp
nói riêng cần chơ ý.
- Những tiêu chuẩn áp dụng đối với hàng hoá Việt Nam nhập khẩu:
Đối với những hàng hoá muốn nhập khẩu vào Nhật dễ dàng và thuận
lợi thì trước hết phải có chứng nhận của JIS, JAS và Ecomark cũng như chế
độ xác nhận trước về sản phẩm nhập khẩu. Trong đó: JIS là hệ thống tiêu
chuẩn chất lượng áp dụng cho hàng hoá công nghiệp; JAS là hệ thống tiêu
chuẩn chất lượng áp dụng cho hàng nông sản, thực phẩm; Ecomark là chứng
nhận sản phẩm không làm hại đến môi trường sinh thái.
Nếu được các chứng nhận này thì hàng hoá của Việt Nam dễ dàng tiêu
thụ hơn trên thị trường Nhật. Bời vì người tiêu dùng Nhật Bản rất tin tưởng
những sản phẩm có đóng dấu chứng nhận của các cơ quan này.
- Luật lệ thương mại Nhật Bản:
Hàng hoá nhập khẩu vào thị trường Nhật được kiểm soát bằng một hệ
thống pháp luật tương đối chặt chẽ vì các lý do bảo vệ quyền lợi an ninh quốc
gia, lợi ích kinh tế hoặc đảm bảo ATVSTP cho người tiêu dùng.
+ Luật trách nhiệm sản phẩm: Được ban hành vào tháng 07/1995 để
bảo vệ người tiêu dùng. Luật này quy Định rằng nếu một sản phẩm có khuyết
tật gây ra thương tích cho người hoặc thiệt hại về vật chất thì nạn nhân có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status