Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Phi Ho
àng
SVTH: Nguyễn Tiền Nguyên Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG………………
LUẬN VĂN
Giải pháp phát triển tiềm năng tài nguyên du
lịch tỉnh Bạc Liêu từ nay đến năm 2020
Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lưu niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, hệ thống đình,
chùa… Sự hấp dẫn của du lịch Bạc Liêu còn ở những nét độc đáo trong ẩm thực,
trang phục, lễ hội, dân tộc Việt và một bộ phận dân cư người Khmer, người Hoa.
Tiềm năng du lịch của tỉnh Bạc Liêu đa dạng và phong phú, có vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế- xã hội của địa phương. Tuy nhiên, từ trước đến nay
Bạc Liêu vẫn chưa khai thác hết tiềm năng du lịch sẵn có bởi nhiều nguyên nhân.
Vì thế, em chọn đề tài “giải pháp phát triển tiềm năng tài nguyên du lịch tỉnh Bạc
Liêu từ nay đến năm 2020” để phần nào hiểu rõ hơn về du lịch Bạc Liêu . Đồng
thời với mong muốn du lịch Bạc Liêu phát triển tương xứng với tiềm năng hiện có.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Phi Ho
àng
SVTH: Nguyễn Tiền Nguyên Trang 3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Tác giả chọn đề tài này nhằm mục tiêu chính là:
Thứ nhất, tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bạc Liêu để từ đó đánh
giá tiềm năng tài nguyên du lịch của tỉnh nhằm nhận định đúng đắn về những
thuận lợi và khó khăn mà ngành du lịch tỉnh phải giải quyết qua việc quy hoạch,
điều chỉnh, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu, các dự án sao cho phù hợp và có căn
cứ khoa học.
Thứ hai, sau khi đã xem xét đánh giá tiềm năng tài nguyên du lịch Bạc
Liêu, xác định được không gian du lịch cần triển khai khai thác các tuyến, điểm du
lịch mới cũng như tăng tính đa dạng về các loại hình du lịch đã được khai thác
trước đó. Từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị, định hướng du lịch tỉnh Bạc Liêu.
PHẠM VI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Về không gian: Đề tài được thực hiện trên khu vực tỉnh Bạc Liêu.
Về thời gian: Từ nay đến năm 2020.
Về nội dung: Nhìn nhận lại thực trạng hoạt động du lịch của tỉnh Bạc Liêu
trong những năm qua. Sau đó, có định hướng giải pháp cụ thể. Toàn bộ nội dung
một số lớn các nhân tố chồng chéo, thậm chí một số nhân tố trùng nhau. Và
nhân tố này nhiều khi là duy nhất trong các trường hợp thiếu thông tin xác
thực, thông tin ít được lượng hóa hay không thể lượng hóa.
4. Phương pháp phân tích xu thế:
Dựa vào sự vận động mang tính quy luật của các yếu tố mang tính xu thế để
đưa các dự báo về chỉ tiêu phát triển trong tương lai. Phương pháp này có thể
mô hình hóa bằng các phương pháp toán học do đó xu hướng phát triển trong
tương lai được suy ra là khó tránh khỏi tính sai số.
5. Phương pháp toán và tin học:
Mặc dù sai số nhưng áp dụng các công thức toán học để tính được kết quả
kinh doanh du lịch cũng như hiệu quả kinh tế- xã hội mà ngành du lịch mang
lại. Đồng thời dựa vào đó để đưa ra các con số dự báo phát triển.
Áp dụng công cụ tin học là việc không thiếu của bất cứ đề tài khoa học nào.
Cũng như trong tổ chức hoạt động du lịch hiện nay đã sử dụng rộng rãi công cụ
tin học trong việc quảng cáo, thiết kế các chương trình du lịch.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Phi Ho
àng
SVTH: Nguyễn Tiền Nguyên Trang 5 6. Phương pháp so sánh:
Áp dụng phương pháp này để thấy điểm giống và khác nhau về các đối
tượng trong hoạt động du lịch của tỉnh Bạc Liêu với các tỉnh bạn trong khu vực
đồng bằng sông Cửu Long. Từ đó có những chiến lược phát huy những thế
mạnh, khai thác các tiềm năng đặc sắc của tỉnh.
7. Phương pháp cân đối kinh tế:
Đây là phương pháp quan trọng trong việc quy hoạch phát triển tiềm năng
du lịch. Qua đó cần xem xét lại sự cân bằng giữa tài nguyên du lịch và khả
năng đáp ứng nhu cầu cho du khách cũng như số lượng khách du lịch. Hay nói
đúng hơn là sự cân đối giữa cung và cầu du lịch.
cứu và thảo luận của nhiều nhà khoa học và quản lý du lịch. Vì thế cũng có rất
nhiều khái niệm du lịch.
Theo tổ chức du lịch thế giới: “du lịch là một hoạt động du hành đến một
nơi khác với địa điểm thường trú thường xuyên của mình nhằm mục đích thỏa mãn
những thú vui của họ, không vì mục đích làm ăn.
Du lịch là tập hợp các mối quan hệ hiện tượng kinh tế bắt nguồn từ hành
trình và cư trú của các cá thể ngoài nơi ở thường xuyên của họ với mục đích hòa
bình, nơi họ đến cư trú không phải là nơi làm việc của họ”.
Theo các học giả người mỹ (Mcintosh và Goeldner): du lịch là một ngành
tổng hợp của các lĩnh vực: lữ hành, khách sạn, vận chuyển và các yếu tố cấu
thành các kể cả việc xúc tiến quảng bá nhằm phục vụ các nhu cầu và những mong
muốn đặc biệt của du khách.
Luật du lịch Việt Nam định nghĩa như sau: du lịch là hoạt động của con
người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham
quan, nghĩ dưỡng, giải trí trong một khoảng thời gian nhất định.
Hay nói như Mill và Morrison: du lịch là một hoạt động xảy ra khi con
người vượt khỏi biên giới của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ… để nhằm
mục đích giải trí và lưu trú tại đó ít nhất 24h nhưng không quá 1 năm.
Có thể nói du lịch bắt nguồn từ nhu cầu muốn khám phá, giao tiếp và học
hỏi thế giới xung quanh vốn phong phú đa dạng và chứa nhiều tiềm ẩn. Du lịch
xuất hiện và trở thành một hiện tượng đặt biệt trong đời sống con người.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Phi Ho
àng
SVTH: Nguyễn Tiền Nguyên Trang 7
Trước đây du lịch được xem là đặc quyền của giới thượng lưu, tầng lớp
giàu có nhưng ngày nay nó đã, đang và sẽ trở thành một nhu cầu phổ biến, đáp
ứng nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng của nhiều tầng lớp trong xã hội. Du
lịch góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người.
Vì thế đặc tính của du lịch có thể khái quát 3 yếu tố cơ bản sau:
gia có tuổi thọ trung bình cao của thế giới như Aixơlen, Hà Lan, Na Uy, Nhật Bản,
Thuỷ Điển có đặc điểm chung là đảo quốc có biển bao quanh hoặc quốc gia bán
đảo.
Du lịch trên biển đặc biệt có lợi cho sức khoẻ của mọi người, có nhiều
nguyên nhân:
Thứ nhất, không khí ở bờ biển trong lành, mát mẻ, lại thêm tác dụng điều
tiết của biển cả, sự chênh lệch nhiệt độ thấp, mùa đông ấm, mùa hè mát, rất thích
hợp với thân nhiệt và sự lưu thông khí huyết trong cơ thể con người làm tăng năng
lực hoạt động của cơ thể, chữa trị tốt một số bệnh tật như viêm mũi, cổ họng mãn
tính, cao huyết áp…
Thứ hai, hoạt động lưu thông không khí ở khu vực bờ biển rất lớn, có nhiều
gió, khiến cơ thể con người thường được không khí mát kích thích, việc tắm
không khí tạo khả năng điều tiết và rèn luyện cơ chế trong cơ thể con người rất tốt.
Thứ ba, tắm nước biển là một hoạt động vui chơi và rèn luyện thân thể lý
tưởng.
Thứ tư, sản vật biển ở khu vực bờ biển hết sức phong phú có khả năng cung
cấp dinh dưỡng cao cho du khách, làm tăng sức khoẻ.
Hoạt động du lich là hoạt động nhằm nâng cao và làm phong phú hoá
kiến thức của con người.
Hoạt động du lịch là một bộ phận trong hoạt động văn hoá của loài người
và cũng là một hình thức học tập đặc biệt, nó lấy xã hội và giới tự nhiên rộng lớn
làm trường học, lấy tài nguyên du lịch tự nhiên, nhân văn và xã hội làm sách giáo
khoa. Thông qua việc thưởng ngoạn du lịch, phỏng vấn, khảo sát làm phương pháp
học tập, du khách sẽ thu thập được rất nhiều kiến thức bổ ích về các lĩnh vực khoa
học như địa chất, địa lý, thiên văn- khí tượng, sinh học, lịch sử, văn hoá, phong tục
tập quán…
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Phi Ho
àng
SVTH: Nguyễn Tiền Nguyên Trang 9
SVTH: Nguyễn Tiền Nguyên Trang 10
Ngoài ra, Pháp lệnh du lịch Việt Nam còn quy định: khách du lịch quốc tế
là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam đi du
lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài
du lịch.
Khách du lịch nội địa là người đang sống trong một quốc gia, không kể
quốc gia nào, đi đến một nơi khác không phải là nơi cư trú thường xuyên trong
quốc gia đó, ở một thời gian ít nhất 24 giờ và không quá 1 năm, với các mục đích:
giải trí, công vụ, hội họp, thăm thân… ngoài những hoạt động để lãnh lương ở nơi
đến.
Pháp lệnh du lịch Việt Nam còn quy định: khách du lịch nội địa là công
dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi
lãnh thổ Việt Nam.
1.2.2. Khái niệm nhu cầu:
Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được.
Con người có nhiều nhu cầu, đa dạng và phức tạp. Nhu cầu thì vô hạn và
thay đổi theo thời gian, theo đà phát triển của xã hội. Xã hội phát triển cao thì con
người cũng có những nhu cầu cao. Theo Abraham Maslow, nhu cầu chia làm 5
bậc:
Nhu cầu sinh lý (Psychological needs) như: ăn, uống…
Nhu cầu an toàn (Safety needs) như an ninh trật tự, không ai quấy rầy…
Nhu cầu xã hội (Social needs) như tình cảm, giao lưu bạn bè…
Nhu cầu được tôn trọng (Esteem needs) như địa vị trong xã hội để được
mọi người tôn trọng…
Nhu cầu tự khẳng định mình: (Self actualisation needs) như làm những gì
mình thích để phát huy hết tài năng của mình.
Maslow cho rằng nhu cầu của con người được sắp xếp trật tự theo thứ bậc ý
nghĩa quan trọng từ cấp thiết nhất đến ít cấp thiết nhất. Và theo ông, trong thời
gian khác nhau, con người lại bị thôi thúc bởi những nhu cầu khác nhau.
lịch.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Phi Ho
àng
SVTH: Nguyễn Tiền Nguyên Trang 12
1.2.3.2. Khái niệm dịch vụ:
Theo tiến sĩ Nguyễn Văn Thanh: dịch vụ là một loại hàng hóa đặc biệt, nó
có những nét đặc trưng riêng mà hàng hóa hiện hữu không có.
Dịch vụ du lịch về cơ bản cũng có 4 đặc điểm nổi bật như sau.
Dịch vụ có tính chất không hiện hữu (vô hình): là đặc điểm cơ bản của
dịch vụ. Tuy vậy sản phẩm dịch vụ vẫn mang nặng tính vật chất (như khách du
lịch có thể thưởng thức nội dung, chương trình văn nghệ, nghe một bài hát….
Không tồn tại dưới dạng vật chất nào, không cầm được nó. Tính chất không hiện
hữu biểu hiện khác nhau ở từng loại sản phẩm.
Do vật chất có tính chất không hiện hữu nên người mua đứng trước sai số
lớn khi nua dịch vụ. Vì thế để xây dựng niềm tin nơi khách hàng, doanh nghiệp
cần cụ thể hóa các yếu tố vô hình thông qua các vật liệu như tờ rơi, hình ảnh trực
quan sinh động…
Dịch vụ có tính không đồng nhất: việc cung cấp dịch vụ không thể tạo ra
dịch vụ như nhau trong thời gian khác nhau. Vì thế ở mỗi thời điểm, mỗi đối
tượng khách cũng có những cảm nhận vầ chất lượng khác nhau. Vì vậy sản phẩm
dịch vụ du lịch sẽ có giá trị cao khi thỏa mãn nhu cầu riêng biệt của khách hàng.
Dịch vụ có tính chất không tách rời: Sản phẩm dịch vụ gắn liền với
những hoạt động cung cấp dịch vụ. Các sản phẩm cụ thể là không đồng nhất
nhưng đều mang tính hệ thống. Quá trình sản xuất gắn liền với việc tiêu dùng dịch
vụ. Người tiêu dùng cũng tham gia vào hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ cho
chính mình. Có nhu cầu, có khách hàng thì quá trình thực hiện dịch vụ mới có thể
dân cư bản địa tại những điểm đến. Tham gia loại hình du lịch này du khách được
đến với cộng đồng dân cư địa phương, thực hiện những cuộc đối thoại, tìm hiểu
những nét đặc sắc trong văn hóa bản địa, tắm mình trong cuộc sống của người dân.
Loại hình du lịch cộng đồng đã khuyến khích các cộng đồng dân cư tại nơi
khách đến tham quan vào các hoạt động du lịch và tạo thêm thu nhập, giảm nhẹ
một phần khó khăn trong đời sống vật chất và tinh thần mà họ đang phải chịu
đựng, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
1.2.6. Vai trò của DLST cộng đồng:
Ngày nay, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu của con người
trong đời sống công nghiệp hiện đại, càng ngày càng có nhiều người thích phương
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Phi Ho
àng
SVTH: Nguyễn Tiền Nguyên Trang 14
thức du lịch đến với các cộng đồng dân cư địa phương, thực hiện những cuộc đối
thoại, tìm hiểu những nét đặc sắc trong văn hóa bản địa, tắm mình trong cuộc sống
của người dân. Sự đa dạng về văn hóa và sinh thái là những nét mới trong nhu cầu
tìm hiểu của du khách tham quan. Vì thế loại hình du lịch cộng đồng đã khuyến
khích cộng đồng dân cư tại nơi khách đến tham gia vào các hoạt động du lịch và
tạo thêm thu nhập, giảm nhẹ một phần những khó khăn trong đời sống vật chất và
tinh thần mà họ đang phải chịu đựng.
Một trong những điều kiện góp phần phát triển du lịch cộng đồng là phát
triển các làng nghề. Làng nghề hình thành lâu đời ở nước ta nhưng sự ra đời của
nó không đồng điều trong các vùng của cả nước và thực sự chỉ phát triển kể từ khi
đất nước bước vào công cuộc đổi mới.
Cùng với sự đi lên của nền kinh tế, nhiều làng nghề năng động đã tìm
hướng đi cho mình bằng sự phát triển các làng nghề truyền thống. Bằng những nổ
lực đó, nhiều làng nghề đã khôi phục lại những sản phẩm truyền thống như: dệt
lụa, dệt thổ cẩm, thêu ren, đan mây, gốm sứ, đồ gỗ, đúc đồng…nổi tiếng một thời
bị mai mọt vì không được khuyến khích. Những làng nghề đó đang dần dần trở
1.2.11.1. Tài nguyên thiên nhiên:
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình
thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến và sử dụng-
(Nguyễn Đức Qúy – Trung tâm Khoa học tự nhiên & Công nghệ Quốc gia –
2001).
Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam:
Toàn bộ giá trị vật chất sẵn có trong tự nhiên (nguyên liệu, vật liệu do tự
nhiên tạo ra mà loài người có thể khai thác và sử dụng trong sản xuất và đời sống),
là những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội loài người. Tất cả những
dạng vật chất khi chưa được hiểu biết, khai thác, sử dụng thì chưa được gọi là
TNTN mà chỉ là điều kiện tự nhiên hay môi trường tự nhiên, cho nên TNTN mang
tính chất xã hội, được "xã hội hoá". TNTN là tư liệu sản xuất bao quát nhất, là
điều kiện không thể thiếu được của hoạt động sản xuất của xã hội. Thành phần của
chúng bao gồm các nguồn TNTN có thể phục hồi được và các nguồn TNTN
không thể phục hồi được. Có những TNTN có thể coi như vô tận, nhưng có những
TNTN sẽ bị cạn kiệt. TNTN được phân chia thành rất nhiều loại khác nhau tuỳ
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Phi Ho
àng
SVTH: Nguyễn Tiền Nguyên Trang 16
thuộc vào đặc điểm, tính chất và mục đích sử dụng của chúng. Nhưng có thể tổng
quát phân loại TNTN thành các dạng chính theo sơ đồ sau: TNDLTN là tổng thể tự nhiên các thành phần của nó có thể góp phần khôi
phục và phát triển thể lực, trí tuệ con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ
và được lôi cuốn vào phục vụ cho nhu cầu cũng như sản xuất dịch vụ du lịch.
Trong chuyến du lịch, người ta thường tìm đến những nơi có phong cảnh đẹp.
Phong cảnh theo một nghĩa nào đó được hiểu là một khái niệm tổng hợp liên quan
đến tài nguyên du lịch. Căn cứ vào mức độ biến đổi của phong cảnh do con người
tượng cho hoạt động du lịch. Đó là các sông suối, thác nước, hang động, rừng cây
với thế giới sinh vật tự nhiên vô cùng phong phú. Miền núi còn là nơi cư trú của
đồng bào các dân tộc ít người với đời sống và nền văn hoá đa dạng đặc sắc.
Ở miền núi với sự kết hợp của địa hình, khí hậu, nguồn nước, tài nguyên thực –
động vật và bản sắc văn hoá của cộng đồng các dân tộc ít người đã tạo nên tài
nguyên du lịch tổng hợp có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch khác nhau
và có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách.
- Ngoài các dạng địa hình trên, địa hình Karst và địa hình ven bờ có ý nghĩa rất
lớn cho tổ chức du lịch.
+ Địa hình Karst là kiểu địa hình được thành tạo do sự lưu thông của nước
trong các đá dễ hoà tan (đá vôi, đôlômit, đá phấn, thạch cao, muối mỏ…). ở Việt
Nam chủ yếu là đá vôi. Địa hình Karst có một số kiểu:
* Các công trình điều tra nghiên cứu hang động ở Việt Nam đã phát hiện được
khảng 200 hang động, trong đó tới 90% là hang động ngắn và trung bình có độ dài
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Phi Ho
àng
SVTH: Nguyễn Tiền Nguyên Trang 18
dưới 100m và chỉ 10% số hang có độ dài trên 100m. Các hang động dài nhất và có
thể nói là đẹp nhất ở nước ta được phát hiện cho đến nay phần lớn tập trung ở tỉnh
Quảng Bình như động Phong Nha dài 7.729m, sâu 83m; hang Tối dài 5.258m, sâu
80m; hang Vòm dài 5.050m, sâu 145m… Ở Cao Bằng với hang Pắc Bó dài
3.248m, sâu 77m; hang Ngườm Sập dài 2.184m, sâu 31m; hang Ngườm Khu dài
804m sâu 36m; ở Lạng Sơn có hang Cả dài 3.342m, sâu 123m; hang Rù Moóc dài
1.560m, sâu 42m …
* Ngoài hang động Karst, kiểu địa hình Karst ngập nước, tiêu biểu là vịnh Hạ
Long – một di sản thiên nhiên thế giới; kiểu địa hình Karst đồng bằng tiêu biểu ở
vùng Ninh Bình được mệnh danh là “vịnh Hạ Long cạn” cũng rất có giá trị về du
lịch.
+ Địa hình ven bờ
Chẳng hạn du khách đi nghỉ biển mùa hè thường chọn những dịp ít mưa, nắng
nhiều nhưng không gắt, nước mát, gió vừa phải. Như vậy, ở mức độ nhất định cần
phải chú ý đến những hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở đến kế hoạch du
lịch. Đó là bão trên các vùng biển, duyên hải, hải đảo, gió mùa đông bắc, gió tây
khô nóng, lốc, lũ… vẫn xảy ra ở nước ta.
Tính mùa của khí hậu ảnh hưởng rất rõ rệt đến tính mùa vụ trong du lịch.
Các vùng khác nhau trên thế giới có mùa du lịch khác nhau do ảnh hưởng của các
yếu tố khí hậu. Sự phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện khí hậu, hoạt động du lịch
có thể diễn ra quanh năm hoặc trong một vài tháng.
+ Mùa du lịch cả năm (liên tục) thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh ở
suối khoáng, du lịch trên núi (cả mùa đông và mùa hè). Ở vùng có khí hậu nhiệt
đới như các tỉnh phía Nam nước ta, mùa du lịch hầu như chưa diễn ra quanh năm.
+ Mùa đông là mùa du lịch trên núi, du lịch thể thao mùa đông…
+ Mùa hè là mùa du lịch quan trọng nhất vì nó có thể phát triển nhiều loại hình
du lịch như du lịch biển, các loại hình du lịch trên núi và khu vực đồng bằng – đồi;
khả năng du lịch ngoài trời rất phong phú và đa dạng.
Nguồn nước
Tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm. Đối với du
lịch thì nước mặt có ý nghĩa quan trọng. Nó bao gồm nước đại dương, biển, sông,
hồ (tự nhiên, nhân tạo), suối phun, thác nước…
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Phi Ho
àng
SVTH: Nguyễn Tiền Nguyên Trang 20
Nhằm mục đích du lịch, nước được sử dụng theo nhu cầu cá nhân, theo độ
tuổi và nhu cầu quốc gia. Nói chung giới hạn về nhiệt độ của lớp nước trên mặt tối
thiểu có thể chấp nhận được là 18
0
C đối với người lớn, trên 20
0
+ Nhóm nước khoáng Silíc: công dụng đối với các bệnh tiêu hoá, thần kinh,
thấp khớp, phụ khoa… Nổi tiếng trên thế giới là suối khoáng Kulđua (Liên Bang
Nga). Ở nước ta có nước khoáng Kim Bôi (Hoà Bình), Hội Vân (Phù Cát – Bình
Định)…
+ Nhóm nước khoáng Brôm – Iốt – Bo: công dụng chữa bệnh ngoài da,
thần kinh, phụ khoa… Nổi tiếng thế giới là nước khoáng Mar-geathia và
Fricarichshal (CHLB Đức). Ở Việt Nam là nước khoáng Quang Hanh (Quảng
Ninh), Tiên Lãng (Hải Phòng).
+ Ngoài 3 nhóm trên còn có một số nhóm nước khoáng khác (Liti, Sunphuahiđrô,
Asen – Fluo, phóng xạ…) cũng có giá trị với du lịch nghỉ ngơi và chữa bệnh.
Sinh vật
Ngày nay thị hiếu về du lịch ngày càng trở nên đa dạng. Sau thời gian lao
động mệt mỏi, con người cần được nghỉ ngơi để hồi phục sức khoẻ, đảm bảo khả
năng lao động lâu dài…Việc đi du lịch đến các nơi có phong cảnh đẹp, thiên nhiên
trong lành,… là cách nghỉ ngơi rất tốt. Bởi lẽ, con người cũng như mọi sinh vật
đều được phát sinh và phát triển trong môi trường tự nhiên – nguyên thuỷ – một
môi trường hoàn toàn trong lành và ổn định. Con người đã thích nghi với môi
trường đó. Giờ đây sống trong một xã hội phát triển, có những điều kiện thuận lợi
do con người tạo ra, nhưng đồng thời môi trường lại bị ô nhiễm, biến đổi bất lợi
cho cuộc sống của con người.
Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà y học, tâm lý – xã hội học đều
nhận thấy rằng, vẻ đẹp thiên nhiên, khung cảnh đất trời bao la, muôn hình muôn
vẻ có ảnh hưởng rất lớn tới trạng thái tâm hồn, sức khoẻ con người. Trong y học
gọi là phương pháp “cảnh quan trị liệu học”. Bác sĩ Iôn Boóc đieanu người
Rumani, trong cuốn sách “Làm thế nào để sống lâu” đã nói “Đối với con người,
khi mệt mỏi vì lao động hằng ngày nặng nhọc, thiên nhiên là cái giếng thần tiên
làm cho anh ta trẻ lại, trẻ lại thực sự”. Bác sĩ G. Bôtđa cũng nói: “Chỉ có thiên
nhiên như người mẹ hiền thực sự có khả năng đem lại cho con người cái thế thăng
bằng giữa tâm hồn và thể xác, mà không có nó thì chẳng có sức khoẻ, cũng chẳng
-Chỉ tiêu đối với mục đích du lịch nghiên cứu khoa học:
+ Nơi có động thực vật phong phú và đa dạng.
+ Nơi có tồn tại loài quý hiếm.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Phi Ho
àng
SVTH: Nguyễn Tiền Nguyên Trang 23
+ Nơi có thể đi lại quan sát, chụp ảnh.
+ Có quy định thu mẫu của cơ quan quản lý…
Về phương diện tài nguyên du lịch, cần chú ý đến các khu bảo tồn thiên
nhiên. Nước ta đã thành lập được 105 khu bảo vệ tự nhiên, bao gồm 27 vườn quốc
gia (VQG), 44 khu bảo tồn tự nhiên và 34 khu rừng văn hoá, lịch sử, môi trường
với tổng diện tích khoảng 2.092 ha (2003).
Một trong những mục tiêu xây dựng hệ thống VQG là bảo vệ các khu cảnh
quan tự nhiên, phục vụ mục đích khoa học, giáo dục và du lịch sinh thái.
1.2.11.2. Tài nguyên du lịch nhân văn(TNDLNV):
Quan niệm.
TNDLNV nói một cách ngắn gọn, là các đối tượng, hiện tượng do con
người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch.
TNDLNV có các đặc điểm sau:
- Có tác dụng nhận thức nhiều hơn. Tác dụng giải trí không điển hình hoặc chỉ
có ý nghĩa thứ yếu.
- Việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo thường diễn ra trong thời gian ngắn.
- Số người quan tâm tới TNDLNV thường có văn hoá cao hơn, thu nhập và yêu
cầu cao hơn.
- TNDLNV thường tập trung ở các điểm quần cư và thành phố lớn.
- Ưu thế của TNDLNV là đại bộ phận không có tính mùa vụ (trừ các lễ hội),
không bị phụ thuộc nhiều vào các điều kiện khí hậu và các điều kiện tự nhiên
khác.
- Sở thích của những người tìm đến TNDLNV rất phức tạp và rất khác nhau…
(1999) nhã nhạc cung đình Huế (2003), cồng chiêng Tây Nguyên (2005) và 2 di
sản tự nhiên gồm vịnh Hạ Long (1994) và Phong Nha – Kẻ Bàng (2003).
Trong số các di sản thế giới phải kể tới 7 kỳ quan do bàn tay khối óc con
người tạo ra tập trung ở những nôi của nền văn minh nhân loại. Đây là 7 kỳ quan
kỳ diệu được khắc mốc ghi tên từ thế kỷ VI sau công nguyên, như những chứng
tích điển hình. Cụ thể là:
Kim tự tháp Ai Cập.
Vườn treo Babilon (Irắc).
Tượng khổng lồ Hêliốt trên đảo Rốt (Hy lạp).
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Phi Ho
àng
SVTH: Nguyễn Tiền Nguyên Trang 25
Lăng mộ vua Môdôn ở Halicacnasơ (Thổ Nhĩ Kỳ).
Đền thờ nữ thần Actêmis ở Ephedo (Thổ Nhĩ Kỳ).
Tượng thần Rớt trong ngôi đền tại Olympia (Hy Lạp).
Ngọn hải đăng ở Alêcxanđria (Ai Cập).
Trong 7 kỳ quan trên, chỉ còn kim tự tháp Ai Cập là vẫn tồn tại.
* Các di tích lịch sử tích lịch sử – văn hoá
Di tích lịch sử tích lịch sử – văn hoá là tài sản quý giá của mỗi địa phương,
mỗi dân tộc, đất nước và cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ
thể về đặc điểm văn hoá mỗi nước. Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về
truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá nghệ thuật
của mỗi quốc gia. Di tích lịch sử – văn hoá có khả năng rất lớn góp phần vào việc
phát triển trí tuệ, tài năng của con người; góp phần vào việc phát triển khoa học
nhân văn, khoa học lịch sử. Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi quốc
gia.
Trên thế giới những Kim Tự Tháp ở Ai Cập, chùa tháp dát vàng, bạc ở Ấn
Độ, Mianma, Angcovát ở Campuchia… và trong nước với thành Cổ Loa, đền
Hùng, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn… vẫn mãi là biểu tượng chói ngời cho kho