Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI GIỚI THIỆU
Cùng với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay hoạt động
đấu thầu sẽ giúp cho chủ đầu tư lựa chọn được nhà thầu đáp ứng tốt nhất
những yêu cầu của mình, nhờ đó họ có được những công trình có chất lượng
cao, giá cả hợp lý. Tuy nhiên, hoạt động đấu thầu đang còn rất mới mẻ ở nước
ta hiện nay, và trong cơ chế thị trường sự cạnh tranh rất khốc liệt và đó là một
trong những động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong hoạt động đấu
thầu: cạnh tranh đó là cạnh tranh về chất lượng công trình, cạnh tranh về giá
bỏ thầu, cạnh tranh về tiến độ thi công và sự cạnh tranh này giúp cho các nhà
thầu trưởng thành hơn về mọi mặt. Cùng với sự đòi hỏi ngày càng cao của các
chủ đầu tư về tiến độ thi công, chất lượng công trình...đòi hỏi các nhà thầu
phải luôn cố gắng nỗ lực để nâng cao năng lực của mình. Trong quá trình thực
tập tại công ty Cổ phần xây dựng công trình giao thông 872, tôi thấy để thu
hút được các dự án đầu tư một cách hiệu quả thì cần thiết phải nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hiện nay sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp ngày càng trở nên gay gắt thông qua hình thức đấu thầu. Chính từ thực
tế đó và qua quá trình thực tập tại công ty tôi thấy đấu thầu là hoạt động rất
quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất cứ công ty xây dựng
nào. Do đó tôi đã chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu
của công ty Cổ Phần Xây Dựng Công Trình Giao Thông 872” với mong
muốn góp một phần nào đó cho sự phát triển đi lên của công ty.
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Một số lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh trong đấu thầu.
Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh trong đấu thầu ở công ty
Cổ Phần Xây Dựng Công Trình Giao Thông 872.
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC
CANH TRANH TRONG ĐẤU THẦU.
1.1 Những nét chung về đấu thầu.
1.1.1 Khái niệm về đấu thầu.
“Đấu thầu”: thuật ngữ này đã được xuất hiện trên thế giới từ rất lâu
nhưng nó mới tồn tại ở nước ta hơn hai chục năm nay bởi nó chỉ xuất hiện
trong nền kinh tế thị trường. Theo quy chế đấu thầu hiện nay của nước ta:
“Đấu thầu đó là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời
thầu. Bên mời thầu là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợp
pháp của chủ dự án, chủ đầu tư được giao trách nhiệm thực hiện công việc
đấu thầu. Nhà thầu là tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu
thầu. Nhà thầu là nhà xây dựng trong đấu thầu xây lắp, là nhà tư vấn trong
đấu thầu tuyển chọn tư vấn, nhà đầu tư trong đấu thầu lựa chọn đối tác đầu tư,
nhà cung cấp trong đấu thầu mua sắm hàng hóa”.
Bên cạnh đó đấu thầu còn được hiểu là quá trình thực hiện một hoạt
động mua bán đặc biệt nào đó mà bên mua yêu cầu bên bán cung cấp những
bản chào hàng cho một công trình, dịch vụ hoặc một hàng hóa cần mua nào
đó trên cơ sở những bản chào hàng, bên mua sẽ lựa chọn cho mình một hoặc
nhiều bên bán tốt nhất và phù hợp với mình nhất. Đấu thầu giúp cho bên mua
mua được dịch vụ, công trình hay hàng hóa mình cần một cách tốt nhất, sử
dụng ngân quỹ của mình một cách hiệu quả nhất.
1.1.2 Đặc điểm của đấu thầu.
Đấu thầu là một quá trình mà chủ đầu tư lựa chọn được một nhà thầu
đáp ứng các yêu cầu của mình vì vậy trong đấu thầu có các đặc điểm sau:
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
2
thông tin của gói thầu, về điều kiện dự thầu, điều này dựa vào mối quan hệ
của mỗi nhà thầu với bên mời thầu chính là các chủ đầu tư.
Nguyên tắc minh bạch: Các thông tin về kết quả của hoạt động đấu thầu
phải được công khai minh bạch, và không có bất cứ sự mờ ám uẩn khúc nào
làm nảy sinh sự nghi ngờ của các bên tham gia dự thầu khiến các bên xảy ra
xung đột lẫn nhau.
1.1.4 Hình thức trong đấu thầu.
Trong đấu thầu xét về cơ bản có ba hình thức đấu thầu cơ bản sau:
Đấu thầu mở: trong hình thức này tất cả các nhà cung cấp trong và
ngoài nước đều có thể dự thầu.
Đấu thầu chọn lọc: trong hình thức này chỉ một số nhà cung cấp có đủ
điều kiện cần thiết mới được dự thầu. Các điều kiện này chỉ nhằm đảm bảo
nhà thầu có đủ năng lực kỹ thuật, tài chính để thực hiện hợp đồng chứ không
được nhằm dành ưu đãi cho một số nhà cung cấp nào đó.
Đấu thầu hạn chế: hình thức này có sự thương lượng trực tiếp với một
số nhà cung cấp được chỉ định, và chỉ áp dụng trong những trường hợp đặc
biệt, khi không có đơn bỏ thầu trong đấu thầu mở và đấu thầu chọn lọc, hoặc
các đơn đều không áp ứng đủ điều kiện, hoặc khi mua sắm các phụ kiện bổ
sung, thay thế từ một nhà thầu đã được chọn.
1.2 Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu.
1.2.1 Khái niệm.
“Năng lực cạnh tranh” là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể
duy trì tồn tại ở vị trí của nó một cách lâu dài và có cơ hội phát triển lớn mạnh
lên trên thị trường cạnh tranh, phải đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít
nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra. Năng
lực cạnh tranh có thể chia thành ba cấp:
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạt được
Trong kinh nghiệm thực tế của các nhà thầu thường được xác định đánh
giá dựa trên số năm kinh nghiệm và lĩnh vực kinh doanh cùng các dự án liên
quan cũng như các dự án khác đã từng thực hiện. Rõ ràng là một nhà thầu có
những kinh nghiệm và chuyên môn vững vàng thì sẽ có rất nhiều ưu thế trong
buổi đầu cạnh tranh với các doanh nghiệp khác cùng lĩnh vực cạnh tranh của
mình. Chính vì vậy mà hiện nay muốn nâng cao năng lực cạnh tranh với các
doanh nghiệp xây dựng trong lĩnh vực đấu thầu thì trước hết nhà thầu xây dựng
phải tạo cho mình có một hồ sơ kinh nghiệm vững chắc, đảm bảo đủ sức thuyết
phục các nhà đầu tư ngay từ buổi đầu, có như vậy mới có thể đường hoàng
bước vào “vòng trong” tiếp tục cuộc chiến đấu với các doanh nghiệp khác.
1.2.2.2 Số liệu tài chính.
Qua được vòng đánh giá hồ sơ sơ tuyển, lúc này các nhà thầu thực sự
bước vào cuộc cạnh tranh khốc liệt khi chủ đầu tư tiến hành đánh giá chi tiết
hồ sơ dự thầu, trong đó năng lực tài chính là yếu tố được đánh giá xem xét
hàng đầu và cũng là yếu tố chủ đạo tạo ra sự khác biệt giữa các nhà thầu, còn
về năng lực kỹ thuật khi đã vào đến vòng này thì hầu hết các nhà thầu đều
đảm bảo rất tốt về mặt kỹ thuật, vì vậy “tài chính” chính là yếu tố trực tiếp
ảnh hưởng tới cuộc cạnh tranh trong lúc này.
Phần lớn các công trình xây dựng đều được tiến hành với số vốn rất
lớn, mà chủ đầu tư lại phải chi phần lớn số vốn đó cho việc tiến hành thi công
công trình, thường thì là chỉ tới khi hoàn thành được 80% công việc nhận thầu
thì chủ đầu tư mới thanh toán cho nhà thầu theo đợt hoặc theo thoả thuận từ
trước. Chính vì vậy mà chủ đầu tư xây dựng phải đảm bảo các điều kiện về
năng lực tài chính: “vốn tự có, lợi nhuận ba năm liên tiếp, vốn vay, thu nhập
bình quân của lao động trong doanh nghiệp…” theo đúng các yêu cầu mà chủ
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đầu tư đưa ra. Đảm bảo được những điều này nhà thầu có thể tạo được niềm
tin với các đối tác là các chủ đầu tư, bên cạnh đó bên mời thầu cũng phải
không được chênh lệch quá 15% so với mức giá mà chủ đầu tư đưa ra, nếu
như mức giá dự thầu mà nhà thầu đưa ra vượt quá con số này thì sẽ bị loại
trực tiếp hồ sơ tham dự dự thầu. Và chính điều này là yếu tố đòi hỏi buộc các
nhà thầu phải tính toán chi tiết cụ thể các loại chi phí phát sinh, để đạt được
mức giá dự thầu tốt nhất có thể.
1.2.2.4 Mức độ đáp ứng các mục tiêu của chủ đầu tư.
Các yêu cầu mà bên mời thầu đưa ra trong hồ sơ mời thầu đòi hỏi các
bên đấu thầu khi tham gia đấu thầu phải tuân thủ một cách nghiêm túc các nội
dung cũng như thứ tự sắp xếp của các nội dung trong đó, đặc biệt là bên mời
thầu quan tâm rất nhiều đến mục tiêu trọng điểm đó là: “hiệu quả”. Với mục
tiêu này đòi hỏi bên mời thầu phải đảm bảo cả về mặt chi phí hợp lý và thời
gian để hoàn thành công việc. Đồng thời các nhà thầu cũng cần phải tham dự
đấu thầu một cách trong sáng, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh và đảm bảo
được sự công bằng khách quan.
1.2.3 Tiêu thức đánh giá.
Trong thực tế hiện nay chưa có một tổ chức, doanh nghiệp hay cá nhân
nào đưa ra một tiêu thức chuẩn để đánh giá năng lực cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp, bởi để làm được điều đó đòi hỏi chúng ta phải chuyên nghiệp
hơn trong công tác đấu thầu, khảo sát thăm dò thị trường. Tuy nhiên để có thể
ước lượng được khả năng thắng đầu của doanh nghiệp mình, các doanh
nghiệp có thể dựa trên một số tiêu thức sau:
1.2.3.1 Các chỉ số về khả năng thanh toán nhanh
Phản ánh khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Khả năng thanh toán hiện hành: chỉ tiêu này là thước do khả năng có
thể trả nợ của tổ chức, nó chỉ ra phạm vi, quy mô và các yêu cầu của chủ nợ
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sẽ được trang trải bằng những tài sản lưu động có thể chuyển đổi thành tiền
trong thời kỳ phù hợp với hạn trả nợ.
lợi, xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp, lắp đặt thiết bị
điện nước dân dụng, gia công lắp đặt cấu kiện bê tông đúc sẵn, thiết kế công
trình cầu đường bộ, giám sát các công trình không do công ty thi công. Và
công ty đã ngày càng thích nghi với thị trường, đã liên tục gặt hái được nhiều
thành công, là đơn vị kinh tế hoạt động kinh doanh độc lập, tự chủ, công ty đã
không ngừng phát triển trên mọi cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, chất lượng
sản phẩm dịch vụ ngày càng được khẳng định, tạo được uy tín với khách hàng
với các nhà đầu tư. Hiện nay công ty có đủ khả năng tài chính và có đủ năng
lực để tham gia xây dựng dự án mà quý cơ quan được giao làm Chủ đầu tư.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Tên gọi của công ty: Công ty Cổ Phần Xây Dựng Công Trình Giao
Thông 872
Tên giao dịch quốc tế: CIEN JS CO 872 (CIVIL ENGINEERING CO
NSTRUCTION JOINT- STOCK COMPANYN872)
Địa chỉ: Km 9 đường Giải Phóng, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Điện thoại: 04.8611316/8612957/6871689
Fax: 04.8614059
Email: [email protected].
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tiền thân của công ty CPXDCTGT 872 là tổng đội thanh niên xung
phong 572. Được thành lập vào tháng 5 năm 1972 với các tên là Tổng đội
Thanh niên Xung phong 572. Trong những năm đầu thành lập nhiệm vụ trọng
tâm của Tổng đội là cải tạo, sủa chữa đảm bảo thông thoáng những con đường
huyết mạch từ vùng căn cứ Lào ra mặt trận.
Đến năm 1975 mặc dù nước ta và nước bạn Lào hoàn toàn độc lập
nhưng những hậu quả của chiến tranh đã gây ra những tồn thất rất lớn mà
chưa giải quyết được hết. Ngày 29/9/1975 Bộ GTVT đã có quyết định số
2171/QĐ- TC chuyển Tổng đội Thanh niên 572 thành công trường 572 thuộc
yêu cầu cổ phần hóa doanh nghiệp từ đó đòi hỏi công ty buộc phải đổi mới cơ
cấu tổ chức, cải cách công ty để duy trì hoạt động nhằm giải quyết việc làm
và đời sống cho người lao động, nâng cao hiệu quả kinh doanh và thu hút vốn
đầu tư trong xã hội. Do đó công ty đã chuyền từ công ty thuộc doanh nghiệp
Nhà nước thành Công ty CPXDCTGT 872 theo quyết định số 2296/QĐ- Bộ
GTVT ngày 08/08/2003 của Bộ GTVT.
Để thực hiện đường lối phát triển của Đảng và nhà nước là tập trung
mở rộng hợp tác quốc tế, Công ty CPXDCTGT 872 đã từng bước khẳng định
mình phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chiến lược kinh tế xã hội. Công ty đã
mạnh dạn đầu tư những thiết bị hiện đại của Nhật, Úc . . . học hỏi công nghệ
kỹ thuật tiên tiến các nước bạn, các cuộc hội thảo hay các chuyên gia tư vấn
mà công ty đã liên kết qua những công trình lớn có tầm cỡ quốc gia như tuyến
đường QL 1A2, QL 5, QL 22.
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức:
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
13
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
01 Chủ Tịch
01 Phó Chủ Tịch
05 Thành Viên
BAN KIỂM SOÁT
BỘ MÁY ĐIỀU HÀNH
01 Giám Đốc
03 Phó Giám Đốc
PHÒNG
HÀNH
SX
04
Đội
SX
05
Đội
SX
06
Đội
SX
07
Đội
SX
08
Chi
nhánh
công ty
tại TP
Hồ Chí
Minh
Chi
nhánh
công ty
tại tỉnh
Long An
Chi
nhánh
công ty
tại tỉnh
Thanh
Phó giám đốc kỹ thuật phụ trách phòng kế hoạch – kỹ thuật và quản lý
kỹ thuật, thiết bị về tổ chức hành chính, các phòng ban, chịu trách nhiệm
trước ban giám đốc về phần việc được giao, chỉ đạo thực hiện có kết quả kế
hoạch sản xuất kinh doanh.
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phòng hành quản trị: lo đủ nơi nơi làm việc cho cán bộ gián tiếp công
ty và các đơn vị sản xuất, lưu trữ hồ sơ tài liệu, đảm bảo chế độ văn thư, tiếp
khách, bảo vệ an ninh về người và tài sản, giải quyết các công vụ và tạp vụ
khác của công ty.
Phòng vật tư thiết bị: Quản lý về thiết bị, vật tư trong toàn bộ công ty,
là cơ quan vật tư, thiết bị có trách nhiệm hướng dẫn chỉ đạo các đơn vị trong
công ty mua sắm vật tư trong xây dựng công trình, thực hiện giá và phân biệt
chủng loại vật tư, thiết bị.
Phòng tài chính kế toán: Mở tài khoản tại ngân hàng giao dịch, quan
hệ với ngân hàng để thanh toán, vay vốn cho các công trình theo sự chỉ đạo
của giám đốc, quan hệ với cấp trên để xin cấp vốn và thanh toán các công
trình do cấp trên giao. Lập kế hoạch tiền mặt, để phục vụ cho mọi chỉ tiêu và
trả lương cho công nhân viên trong toàn doanh nghiệp. Kết hợp với tổ chức
cán bộ lao động trong việc thanh toán lương và phân phối thu nhập, thực hiện
các chế độ chính sách tiền lương với công nhân viên. Lập kế hoạch theo dõi
khấu hao của tài sản cố định, các tài khoản của công ty, lập sổ sách theo dõi
các quỹ của xí nghiệp. Báo cáo quyết toán quý, năm theo quy định của cấp
trên. Hướng dẫn tổ, đội sản xuất về công tác hoạch toán và giao khoán, công
tác thu chi tài chính.
Phòng kế hoạch – kinh doanh: Căn cứ vào các biểu thiết kế công
trình lọc, tách khối lượng, lập các phương án tổ chức thi công, kiểm tra các
công trình theo đúng thiết kế, đảm bảo tiến độ công trình. Đồng thời lập kế
hoạch, lên các phương án kinh doanh sao cho phù hợp với các mục tiêu của
điều đó được thể hiện cụ thể trên bảng “Số năm kinh nghiệm trong đấu thầu
thi công công trình của công ty”.
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 1: Số năm kinh nghiệm trong đấu thầu thi công công trình của
công ty CP XDCTGT 872.
Đơn vị tính: Năm
ST
T
Tính chất công việc
Số năm kinh
nghiệm
1 Thi công nền, móng mặt đường đồng bằng và miền
núi
38
2 Thi công mặt đường nhựa, bê tông Asphalt, bê tông
xi măng
37
3 Xử lý nề đất yếu 16
4 Thi công cầu thép, cầu bê tông cốt thép thông thường 31
5 Thi công cầu theo quy trình AASHTO 16
6 Thi công cảng sông, cảng biển 21
7 Thi công sân bay 23
8 Thi công các công trình thủy lợi 23
9 Đầu tư xây dựng các công trình GTVT theo hình
thức BT
10
10 Thi công các công trình dân dụng 24
(Nguồn:Phòng dự án KCS – Công ty CPXDCTGT 872 )
1 Công trình do công ty thắng
thầu được hoàn thành và bàn
giao
9 16 12
2 Công trình chỉ định thầu được
hoàn thành và bàn giao
2 2 2
3 Công trình dự kiến trong năm
kế hoạch hoàn thành bàn giao
12 21 28
(Nguồn:Phòng dự án KCS – Công ty CPXDCTGT 872 )
Từ bảng trên ta thấy số công trình do công ty thắng thầu được hoàn
thành bàn giao năm 2008 tăng 77,7% so với năm 2007, có được điều này
phần lớn là do công ty đã thực hiện tốt các quy trình của quá trình đấu thầu,
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
và phân bổ mọi nguồn lực một cách hợp lý, hài hòa để hoàn thiệnách tốt nhất
các công trình thắng thầu và hoàn thành ban giao được cho chủ đầu tư. Vì thế
mà doanh thu năm 2008 công ty thu về tăng lên lên đáng kể, từ đó mà thu
nhập người lao động trong công
ty cũng tăng lên trung bình xấp xỉ 1,6 triệu đồng/ người/ tháng.
Sang đến năm 2009, tuy đã vừa bước qua cuộc khủng hoảng tài chính,
lạm phát tăng cao thì trong các điều luật đấu thầu có sự thắt chặt hơn, với
mong muốn tạo ra một sân chơi công bằng cho các bên tham gia dự thầu, và
khôi phục nền kinh tế sau lạm phát khủng hoảng kinh tế, do đó đòi hỏi công
ty càng phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình với các công ty khác, để
thắng được nhiều công trình. Trước tình hình thực tế khủng hoảng của cả nền
kinh tế nên số công trình mà tổng công ty chỉ định thầu và hoàn thành không
có nhiều thay đổi trong các năm. Tuy nhiên số công trình dự kiến hoàn thành
công ty CPXDCTGT 872 đã tạo được chỗ đứng vững chắc trên thương
trường, tạo được niềm tin với các nhà đầu tư, cũng như là một đối thủ đáng lo
ngại của các doanh nghiệp khác cùng lĩnh vực kinh doanh. Với kinh nghiệm
tham gia dự thầu và tiến hành thi công các công trình thắng thầu với bản thân
công ty không phải là mới mẻ gì, nhưng tập thể ban lãnh đạo của công ty
chưa bao giờ hài lòng với những gì đã đạt được. Công ty CPXDCTGT 872
luôn nỗ lực cố gắng vươn lên, sẵn sàng để đối mặt với những khó khăn, thử
thách mới, để nắm bắt những cơ hội phát triển mới.
2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu của công ty.
2.2.1 Năng lực tổ chức quản lý.
Công ty CPXDCTGT 872 được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước
sang công ty cổ phần, hoạt động với phương châm đa dạng về sản phẩm, tiên
tiến về công nghệ, năng động trong kinh doanh, công ty đã tích cực đổi mới
nâng cao năng lực quản lý trong tất cả các lĩnh vực của công ty tiêu biểu công
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ty đặc biệt coi trọng việc đào tạo cán bộ quản lý và đào tạo đội ngũ công nhân
có kỹ năng tốt, tay nghề giỏi, và cho tới nay công ty đã có đội cán bộ lành
nghề, có trình độ được tiếp cận với nhiều công nghệ thi công tiên tiến, có kinh
nghiệm nhiều năm công tác về thi công các dự án lớn trong nước và quốc tế.
Và được thể hiện cụ thể trên trong bảng: “Bảng danh sách cán bộ chuyên môn
kỹ thuật của công ty 872”.
Bảng 3: Danh sách cán bộ chuyên môn kỹ thuật của công ty 872
Đơn vị tính: người
STT
Chức vụ chuyên môn và
kỹ thuật theo nghề
Số
lượng