Đại cương lịch sử Việt Nam - Tập 1, NXB Giáo Dục - Pdf 12

A. Mở đầu
I . Lí do chọn đề tài:
Dân tộc Việt Nam kể từ thời kỳ Hùng Vơng dựng nớc cho đến bây giờ đã
trải qua nhiều thăng trầm lịch sử. Qua việc học tập, nghiên cứu đã khẳng định đợc
truyền thống của con ngời Việt Nam là : không chỉ cần cù, chịu khó, bền bỉ, mà
còn rất yêu nớc, có tinh thần chống giặc ngoại xâm, dám hy sinh cả tính mạng của
mình để bảo vệ cho Tổ quốc,
Trải qua nhiều triều đại với từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Dù đã có
nhiều biến động, nhiều thay đổi, hay đó là sự thành công hoặc thất bại, cũng có
thể là sự chuyển biến từ chế độ này sang chế độ khác nhng dù ở triều đại nào cũng
đã có nhiều cống hiến cho lịch sử để đời sau còn lu truyền mãi, ghi nhớ, học tập và
phát huy những điều tốt đẹp, có thể ở một nhân vật lịch sử hoặc một vấn đề nào đó
của lịch sử.
Trong lịch sử thời kì trung đại nói riêng và lịch sử của dân tộc nói chung,
chúng ta biết rằng có rất nhiều cuộc cải cách lớn của những nhân tài Việt Nam đã
dám đứng ra cầm quyền, lãnh đạo và tổ chức tiến hành. Tuỳ vào tình hình của mỗi
giai đoạn lịch sử nhng nói chung mỗi khi đất nớc có nhu cầu canh tân để phát triển
thì đồng thời xuất hiện những t tởng cải cách lớn. Tiêu biểu của thời trung đại có
cuộc cải cách của Khúc Hạo(907), của Hồ Quý Ly (cuối thế kỷ XIV- đầu thế kỷ
XV), của Lê Thánh Tông( cuối thế kỷ XV), của Quang Trung Nguyễn Huệ
( cuối thế kỷ XVIII ), cuộc cải cách hành chính của Minh Mạng( nửa đầu thế kỷ
XIX). Nh vậy, nghiên cứu về đề tài cải cách này chúng ta sẽ hiểu biết đợc đầy đủ
hơn, sâu sắc hơn về lịch sử Việt Nam thời Trung đại.
Cụ thể, vào cuối thế kỷ XIV khi Triều Trần lâm vào tình trạng khủng
hoảng, thối nát thì Hồ Quý Ly đã xuất hiện và cứu vớt tình thế đó của đất nớc.Ông
đã lên ngôi vua và tiến hành cuộc cải cách toàn diện chỉ trong vòng một thời gian
ngắn(1400-1407).Tuy rằng cuộc cải cách đã thất bại nhng khi nghiên cứu về Triều
Hồ chúng ta phần nào hiểu đợc nhiều hơn về tình hình xã hội lúc bấy giờ, hiểu đợc
thân thế của một nhân vật lịch sử tầm cỡ hiếm có trong sử sách từ cổ chí kim, một
nhân cách đặc biệt, một tài năng hơn ngời.Đó chính là Hồ Quý Ly, ngời đã gây
dựng nên nhà Hồ - một triều đại có vị trí khá quan trọng trong lịch sử nớc nhà.

Tuy vậy, phải đến sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi(1954) thì
vấn đề Hồ Quý Ly mới đợc giới sử học nói chung đề cập đến một cách sâu sắc,
toàn diện. Trên các hiệu sách đã có nhiều cuốn sách đợc trng bán nh sách nghiên
cứu, sách chuyên khảo Đặc biệt, đã có nhiều cuộc tranh luận về Hồ Quý Ly trên
tạp chíNghiên cứu lịch sử (1961); chuyên san Nghiên cứu lịch sử số 6 (1990)
về cải cách của Hồ Quý Ly. Đồng thời, cũng đã có một cuộc hội thảo khoa học
về Hồ Quý Ly và nhà Hồ do Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá kết
hợp với hội khoa học lịch sử Việt Nam tiến hành.
2
Nh vậy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về Hồ Quý
Ly song phần nào đã giúp cho những ngời yêu lịch sử dân tộc, quan tâm đến Hồ
Quý Ly dễ dàng hơn trong việc nghiên cứu, học tập và hiểu biết đợc nhiều hơn. Đó
là phải kể đến sự đóng góp công sức của các nhà nghiên cứu sử học, các tạp chí,
nhà xuất bản với nội dung sách tơng đối toàn diện, đánh giá khá sâu sắc.
III.Mục đích nghiên cứu đề tài
- Giúp sinh viên hiểu biết rõ hơn về tình hình đất nớc cuối thời Trần, về sự
thành lập triều Hồ, đặc biệt là về thân thế của Hồ Quý Ly và cuộc cải
cách của ông (1400 - 1407).
- Qua đó để giáo dục lòng yêu nớc, tinh thần dân tộc, đặc biệt là phải biết
kế thừa và phát huy tinh thần truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta cho sinh
viên.
- Nghiên cứu về đề tài nhằm rèn luyện cho sinh viên tính học tập độc lập,
sáng tạo, tự tìm tòi,tự nghiên cứu. Đồng thời rèn luyện tính bền bỉ, kiên trì
của sinh viên, rèn luyện kỉ năng tra cứu, phân tích và lựa chọn tài liệu.Từ
đó viết thành một bài hoàn chỉnh, có đánh giá và ý kiến của cá nhân.
IV.Phơng pháp nghiên cứu đề tài:
- Phơng pháp luận sử học
- Phơng pháp phân tích tổng hợp, quy nạp và diễn dịch..
V.Bố cục tiểu luận:
Gồm ba phần lớn:Mở đầu, nội dung, kết luận.

quyết bằng cách mạng, tức phải dùng đến bạo lực vũ trang và kết hợp với đấu
tranh trên mặt trận chính trị, mặt trận ngoại giao.
Còn nếu cuộc khủng hoảng bộ phận thì chỉ cần khắc phục bằng cải cách
hoặc đổi mới.
Dù ở hình thức nào, cách mạng, cải cách hay đổi mới thì đều do hành động
của quần chúng nhân dân lao động tiến hành nhằm làm thay đổi xã hội từ thấp đến
cao, từ lạc hậu đến tiến bộ Cả ba hình thức đó có mối liên hệ biện chứng với
nhau, tuỳ vào điều kiện lịch sử thì có các cuộc cách mạng nhất định phải bùng nổ
nhng cũng có những điều kiện lịch sử mà cải cách đổi mới trở thành những hình
thức để tiến hành canh tân đất nớc.
Cải cách và đổi mới là những bớc chuẩn bị cần thiết để dẫn đến một cuộc
cách mạng xã hội. Ví dụ cuộc cách mạng Duy tân ( Trung Quốc) vào thế kỉ 19 do
4
khang Hữu Vi, Lê Khải Siêu tiến hành đã dẫn đến cuộc cách mạng Tân Hợi
năm 1911( Trung Quốc ).
Cải cách, đổi mới là những bớc phát triển tiếp theo để thực hiện các thành
quả của một cuộc cách mạng.Ví dụ: cuộc cải cách ruộng đất ở Việt Nam đã góp
phần làm hoàn thành nhiệm vụ dân chủ của cuộc cách mạng tháng 8 - 1945.
Tóm lại, cách mạng sẽ nổ ra khi phơng thức sản xuất cũ đã lỗi thời mâu
thuẫn với phơng thức sản xuất mới tiến bộ đã đến độ chín muồi, khủng hoảng xã
hội đã diễn ra toàn diện trên mọi lĩnh vực yêu cầu cần phải giải quyết thì hành
động quyết tâm và triệt để của quần chúng nhân dân sẽ dẫn đến bớc phát triển
nhảy vọt của xã hội. Đây đợc gọi là cuộc cách mạng.Thời gian ngắn hay dài còn
tuỳ thuộc vào tình hình chiến trận.Gồm có nhiều cuộc cách mạng: cách mạng t
sản, cách mạng giải phóng đân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa
Còn cải cách khác với cách mạng là không đòi hỏi phải tiến hành một cách
khẩn trơng, toàn diện và triệt để nh cách mạng và đặc biệt là loại trừ khả năng bạo
lực vũ trang.
Cách mạng và cải cách thuộc phạm trù lịch sử vì nó diễn ra trong cùng một
không gian ( một khu vực, một đất nớc), và có mối liên kết giữa quá khứ ,hiện tại

mang họ Lê. Vì thế sử củ còn gọi Hồ Quý Ly là Lê Quý Ly, ông là cháu 4 đời của
Hồ Liêm .
Thuở nhỏ, Hồ Quý Ly theo học võ nghệ với S Tề .S tề là một ngời họ
Nguyễn, có con trai là Nguyễn Đa Phơng rất giỏi võ nghệ. Sau cả quá trình học võ
và sống cùng nhau, Hồ Quý Ly và Nguyễn Đa Phơng đã kết nghĩa anh em .
Hồ Quý Ly có hai ngời cô đều là vợ của vua Trần Minh Tông và là mẹ của ba
vua Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông. Nhờ đó ông đợc vua
Trần Nghệ Tông rất tin yêu. Vào năm 1371, Hồ Quý Ly đợc vua Trần Nghệ Tông
phong tớc Trung tuyên quốc thợng hầu, chức khu mật viện đại sứ. Năm 1375, ông
đợc Thợng Hoàng Trần Nghệ Tông và vua Trần Duệ Tông thăng chức tham mu
quân sự . Năm 1379, đợc Thợng Hoàng Trần Nghệ Tông và vua Trần Phế Đế
thăng chức Tiểu t không kiêm khu mật viện đại sứ . Năm 1380, đợc thăng chức
Nguyên Nhung , quản việc Hải Tây Đô thống chế. Năm 1387, ông giữ chức Đồng
bình chơng sự ( là thành viên cơ quan tối cao của nhà nớc ). Năm 1395, đợc thăng
Tớc Tuyên Trung vệ quốc Đại Vơng . Năm 1397, ông đã ép vua Trần Thuận Tông
phải nhờng ngôi cho Trần Thiếu Đế lúc đó mới 3 tuổi . Năm 1399, Hồ Quý Ly cho
ngời giết vua Trần Thuận Tông, sau đó giết thêm 370 ngời mà Hồ Quý Ly cho là
thuộc phe đối nghịch với mình, bao gồm các tớng nh : Trần Khát Chân ,Trần
Nguyên Hãn ,Trụ quốc Trần Nhật Đôn vv , rồi tự x ng là Quốc tổ Chơng Hoàng .
Năm 1400, ông đã truất ngôi vua Trần Thiếu Đế ( là cháu ngoại của Hồ Quý
Ly ), tự lập làm vua và đặt Quốc hiệu mới là Đại Ngu, lấy niên hiệu là Thánh
Nguyên. Từ đây nhà Hồ đợc thành lập .
1
"Ton th" - nm 1405: "Quý Ly thy mỡnh tui ó 70....."
Sd - trang 212 - Tớnh ra 1405 - 70 + 1 = 1336.
6
Nh vậy, chúng ta đã biết đợc gốc tích, thân thế của Hồ Quý Ly, cũng nh quá
trình thăng chức tớc của ông theo tiến trình của thời gian.
2.Triều Hồ (1400 - 1407):
Hồ Quý Ly là một nhân vật lịch sử mà hiếm có ai sánh đợc với ông từ cổ chí

7
những thành tựu mà nhà Hồ đã đạt đợc qua cuộc cải cách của Hồ Quý Ly về tất cả
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội .Qua đó để rút ra những hậu quả , nguyên nhân
thất bại và bài học kinh nghiệm quý giá .
III. Tình hình xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIV :
Xã hội Đại Việt sau một thời kỳ phát triển phồn vinh từ thế kỷ XI thì
đến nửa sau thế kỷ XIV tức cuối đời Trần đã lâm vào một cuộc khủng hoảng khá
sâu sắc, trì trệ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội .Cụ thể :
1. Sự sa đoạ của tầng lớp quý tộc cầm quyền :
Tầng lớp quý tộc cầm quyền , họ là những ngời đứng đầu của một
nớc , đáng ra họ phải hoàn thành nhiệm vụ chăm lo cho đời sống nhân dân, củng
cố và xây dựng đất nớc ngày càng phát triển .Vậy mà ngợc lại , trong vơng triều
Trần , từ Trần Dụ Tông (1341 - 1369) trở đi ngày càng đi vào con đờng suy
thoái .Vua quan đua nhau ăn chơi hởng lạc, không còn chăm lo đến đời sống nhân
dân nh trớc .
Vua Trần Dụ Tông sai ngời đào hồ lớn ở vờn ngự nơi hậu cung , trong
hồ chất đá làm núi , bên bờ hồ trồng thông , trúc và nhiều thứ cây khác, thêm vào
đấy nào là cỏ lạ , hoa thơm , muông kỳ , chim quý . Bốn mặt khai thông cho nớc
sông vào . Lại đào hồ khác, bắt dân chở nớc mặn chứa vào hồ để nuôi cá , các hải
sản . Bắt ngời Hoả Châu chở cá sấu thả vào đấy .Lại làm dãy hành lang ở Tây
Điện thẳng đến cửa Hoàng Phúc Nay xây cất, mai tu đạo , không lúc nào ngớt
việc . Nhà vua còn buông tuồng vô độ , tính nghiện rợu , thờng sai các quan vào
uống rợu cùng .Ngời nào uống đợc nhiều thì đợc ban thởng . Bùi Khoan đã dùng
kế giả vờ uống hết trăm thùng rợu , đợc thởng tớc hai t . Cũng trong Khâm
Định Việt Sử thông giám Cơng mục , tập 1 , trang 638 .639, Nhà xuất bản Giáo
Dục Hà Nội ,1998 , nhận xét của Quốc sử quán triều Nguyễn về Dụ
Tông :Nghiện rợu, mê đàn hát , xa xỉ , làm cung điện nguy nga , tờng vách
chạm trổ , lãng phí tiền của, hoang dâm chơi bời , món gì Dụ Tông cũng mắc .Cơ
nghiệp nhà Trần sao khỏi suy đợc . Từ thực tế trì trệ nh vậy của một ông vua
cũng quá đủ để cảnh báo rằng một triều đình thối nát sắp suy sụp .

không còn sức quan tâm đến sản xuất nông nghiệp, sửa đắp và bảo vệ các công
trình thuỷ lợi, đê điều. Cho nên , trong nửa sau thế kỷ XIV đã có 9 lần đê vỡ, lụt
lớn, 11 lần hạn hán. Cụ thể, có những năm vừa lũ lụt vừa hạn hán nh : 1348, 1355,
1393, vv .Hậu quả của tình trạng này, chỉ tính từ đầu thế kỷ XIV cho đến năm
1379 đã có hơn 10 nạn đói lớn, ngân quỹ trống rỗng, nhà nớc nhiều lần cho nhà
giàu nộp tiền, thóc để nhận quan tớc nhng không giải quyết nổi nạn đói và thiếu
thốn. Đời sống điêu đứng của ngời dân đợc phản ánh rất rõ qua mấy câu thơ của t-
ớng quốc triều Trần Trần Nguyên Đán:
Dịch nghĩa: Năm nay hè hạn, thu nớc to,
Mạ thối lúa khô hại biết bao
Đọc sách triệu trang mà bất lực
9
Bạc đầu xin phụ nổi thơng dân .
Còn trong bức th của Thái học sinh Nguyễn Phi Khanh gửi cha,viết:
Ruộng lúa ngàn dặm đỏ nh cháy
Đồng quê than vãn trông vào đâu
L ới chài quan lại còn vơ vét
Máu thịt nhân dân cạn nửa rồi.
Có áp bức thì có đấu tranh, tức nớc thì vỡ bờ, khi cụôc sống của ngời dân
đã đến mức bần cùng, không còn con đờng nào khác là họ phải vùng dậy đấu
tranh. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn xã hội sâu sắc và phong
trào khởi nghĩa nông dân cuối thế kỷ XIV. Năm 1343, do đại hạn, mất mùa, dân
nghèo đã nổi dậy khắp nơi. Năm 1344, khởi nghĩa của Ngô Bệ nổ ra ở Yên Phụ
( Hải Dơng ) đánh phá nhà của bọn địa chủ, quan lại. Cuộc khởi nghĩa đã bị đàn
áp nhng 14 năm sau, năm 1357 1358 nghĩa quân của Ngô Bệ lại bùng lên ở
Yên Phụ, Yết Bảng với khẩu hiệu chấn cú dân nghèo, chống lại quân triều đình.
Nghĩa quân làm chủ cả một vùng rông lớn thuộc huyện Chí Linh ( Hải Dơng ),
chiến đấu cho đến năm 1360 mới bị dập tắt. Năm 1354, khởi nghĩa của một ngời
tên Tề tự xng là cháu ngoại của Trần Hng Đạo đánh vào vùng Lạng Giang ( Bắc
Giang ). Năm 1379, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thanh ở Thanh Hoá. Đầu năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status