ĐỀ THI môn LUẬT KINH tế học KY i năm 2010 - Pdf 12

ĐỀ THI MÔN LUẬT KINH TẾ HỌC KY I NĂM 2010 (ĐH QUY NHƠN)
ĐỀ THI HỌC PHẦN: LUẬT KINH TẾ
Câu 1: Các nhận định sau đây đúng hay sai? Giải thích tại sao? Nếu sai anh/chị sửa lại đúng theo
quy định của pháp luật.
a) Thế chấp tài sản là việc một bên giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm
thực hiện nghia vụ.
b) Chủ doanh nghiẹp tư nhân chịu trách nhiệm hưu hạn về các khoản nợ phát sinh trong phạm vi
số vốn đầu tư vào doanh nghiệp.
c) Tất cả các cổ đông trong cty cổ phần đều có quyền dự họp và phát biểu tại cuộc họp Đại dội
đồng cổ đông.
d) Hợp đồng vô hiệu không có hiệu lực kể từ thời điểm tòa án tuyên bố vô hiệu.
Câu 2: Thế nào là chịu trách nhiện vô han, hữu hạn trong kinh doanh. Cho ví dụ cụ thể để chứng
minh.
Câu 3: Phân tích những điểm giống và khác nhau giữa Cty hợp danh và DNTN.
Câu 4: Ông Tuấn là thành viên của Cty TNHH Xuân Thành. Cty này có trụ sở chính tại tp Nha
Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa và có 5 thành viên. Ngày 25/04/2010, Cty TNHH Xuân Thành tổ
chức họp và thông qua vấn đề chuyển đổi hình thức Cty thanh Cty Cổ Phần. Ông Tuấn đã biểu
quyết phản đối vấn đề này, vì vậy ông muốn rút vốn ra khỏi Cty.
Trên cơ sở nhưng quy định của pháp luật, anh/chị hãy cho biết:
a. Ông Tuấn có thể rút vốn ra khỏi Cty bằng cách nào?
b. Thủ tục để rút vốn từ các cách này được pháp luật quy định như thế nào?
c. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, ông Tuấn có thể khởi kiện Cty TNHH Xuân Thành tại
tòa án nào?
Đề thi Luật kinh tế
I. Lý thuyết
Câu 1: Hãy khẳng định các câu dưới đây là Đúng hay Sai, giải thích vì sao những khẳng định
như vậy.
1. Ngành, nghề kinh doanh do Chủ tịch UBND tỉnh quy định trong phạm vi địa phương mà mình
quản lý.
2. Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tiw thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của
Luật Doanh nghiệp 2005.

II. Câu hỏi tình huống
Lê và Lợi là sinh viên trường đại học Kinh tế Quốc Dân. Hai người muốn cùng nhau thành lập
công ty TNHH Lê Lợi với vốn điều lệ là 400 triệu vnd để kinh doanh dịch vụ giải trí, bán cà phê
và kinh doanh karaoke. Trong quá trình góp vồn thành lập công ty, lê gop 150 triêu vnd, Lợi gốp
250 triệu vnd, nhưng xin góp trước 100tr vnd vì Lợi cho người khác vay tiền chưa biết khi nào
họ trả. Lê đồng ý cho Lợi khi nào lấy được nợ sẽ cho góp nốt số vốn còn thiếu.
1. Theo anh(chị) việc đặt tên công ty như vậy có được không?
2. Thỏa thuận góp vốn có hợp pháp? Nếu công ty bị thiệt hại do Lợi chưa góp đủ vốn thì giải
quyết ra sao?

Đề 6
THờI GIAN: 90 PHÚT
I. Lý thuyết
Câu 1: Hãy khẳng định các câu dưới đây là Đúng hay Sai, giải thích vì sao những khẳng định
như vậy.
1. Số lượng xã viên trong HTX tối thiểu là 3 xã viên.
2. Thời hạn góp vốn khi thành lập doanh nghiệp do các thành viên thỏa thuận.
3. Trung ương hộ phụ nữ Việt Nam được phép thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên.
4. Tất cả các cá nhân, tổ chức đều có quyền nắm giữ cổ phần ưu đã biểu quyết khi họ là cổ đông
trong công ty cổ phần.
Câu 2:
Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại?
II. Bài tập
Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Tân Bình bao gồm 4 thành viên: Tân: Góp 50% vốn, là Chủ tịch
Hội đồng thành viên, Bình: 30% vốn là Giám Đốc công ty; Khang và Vinh: mỗi người góp 10%
vốn. Điều lệ công ty quy định: Bình là người đại diện theo Pháp luật của công tu. Ngày
12/02/2009, do mâu thuẫn cá nhân, Tân có quyết định cách chứ Bình và bổ nhiệm Vinh làm
giám đốc.
1. Quyết định của Tân có đúng không?

Bài tập 2.
An, Bình, Chương, Dung cùng nhau thành lập công ty TNHH Phương Đông kinh doanh thủy sản
với vốn điều lệ 1 tỷ đồng. Trong đó, An góp 200 triệu tiền mặt, Bình góp một ô tô được các bên
định giá là 200 triệu, Chương góp vốn là kho bãi kinh doanh được các bên định giá là 500 triệu,
Dung góp 100 triệu tiền mặt.
Theo Điều lệ, Chương làm Chủ tịch HĐTV, Bình làm Giám đốc, An làm Phó giám đốc. Giám
đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty.
Sau 1 năm hoạt động, giữa Bình và Chương xảy ra mâu thuẫn. Với tư cách là Chủ tịch HĐTV và
là người có nhiều vốn nhất, Chương ra quyết định cách chức giám đốc của Bình và bổ nhiệm An
làm giám đốc thay thế.
Không đồng ý với quyết định trên, Bình vẫn tiếp tục giữ lại con dấu. Sau đó, với danh nghĩa của
công ty Phương Đông, lại là người đại diện theo pháp luật của công ty, Bình ký 1 hợp đồng vay
700 triệu với công ty Trường Xuân (tổng gái trị tài sản của công ty Phương Đông theo sổ sách kế
toán tại thời điểm này là 1,3 tỷ) và khi công ty Trường Xuân chuyển số tiền trên cho công ty
Phương Đông, Bình lập tức chuyển số tiền vào tài khoản của mình.
Chương nộp đơn kiện Bình ra tòa yêu cầu Bình hoàn trả lại số tiền 700 triệu và bồi thường các
thiệt hại đã gây ra cho công ty.
Công ty Trường Xuân kiện công ty Phương Đông ra tòa yêu cầu công ty Phương Đông hoàn trả
700 triệu và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Tòa Kinh tế TAND Tp. Hồ Chí Minh thụ lý hồ sơ.
Câu hỏi:
1. Việc Chương cách chức Bình và bổ nhiệm An làm giám đốc thay thế là đúng hay sai? Vì sao?
2. Hợp đồng do Bình ký với Công ty Trường Xuân có hay không có hiệu lực? vì sao?
3. Ai là người phải thanh toán nợ và bồi thường thiệt hại trong trường hợp trên?
Bài tập 3:
Vương, Hùng, Thu góp vốn thành lập công ty TNHH Lửa Việt chuyên sản xuất, kinh doanh gas,
khí đốt với vốn điều lệ 5 tỷ đồng. Trong đó, Vương góp 1 tỷ tiền mặt, Hùng góp 3 tỷ gồm mặt
bằng, nhà xưởng được các bên định giá 2 tỷ và 1 tỷ tiền mặt, Thu góp 1 tỷ tiền mặt.
Theo Điều lệ, Vương là Giám đốc, Hùng là Chủ tịch HĐTV và cũng là người đại diện theo pháp
luật của công ty.

Kết thúc năm tài chính 2002,lợi nhuận còn lại để chia cho các thành viên là 300 triệu đồng.Ông
B GD cty đã quyết định phân chia cho ông A 40% tr,bà B 90 tr và ông B 170 tr.Ông A ko chấp
nhận việc phân chia như trên nên đã phản đối việc bà C bán nửa phần hùn của bà cho bạn của bà
là bà D,mặc dù ông B cũng đồng ý về việc chuyển nhượng này.
Vì ông A đã nhiều lần vi phạm điều lệ cty,ông B quyết định cách chức phó GD của ông A và
phạt ông A bằng cách khấu trừ 10% phần hùn của ông A trong cty đưa vào quỹ dự trự bắt buộc.
YC:Những sự kiện xảy ra trong tình huống có phù hợp với luật DN 2005 ko??
Bài tập 5:
Ngày 20/6/2007,Cty cổ phần Phương Nam (CTCP PN) tiến hành họp đại hội đồng cổ đông(ĐHĐ
CĐ).Cuộc họp tiến hành đúng theo trình tự thủ tục theo quy định của điều lệ cty,luật DN,số cổ
đông(CĐ) đại diện cho 90% số cổ phần(CP) có quyền biểu quyết tham dự(theo điều lệ cty thì
cuocj hop ĐHĐ CĐ đc tiến hành khi có số CĐ đại diện cho ít nhất 65% tổng số CP có quyền
biểu quyết tham dự)
Tới 20h cùng ngày,ĐHĐ CĐ đã bầu chọn đc 4 thành viên HĐQT trong số 5 thành viên và 2
thành viên BKS trong số 3 thành viên.Các quyết định này đc thông qua hợp pháp.Mặc dù hợp
chưa xong nhưng vì đã quá muộn nên ĐHĐ nhất trí sẽ họp tiếp vào ngày 27/06/2007.
Sau 7 ngày, cuộc họp đc tiếp tục.Tại cuộc họp,một số CĐ của cty (chiếm 15% tổng số CP có
quyền biểu quyết của cty) đã đề nghị bổ sung một số nội dung mới vào cuộc họp nhưng Chủ tịch
HĐQT(người điều khiển cuộc họp) đã ko chấp nhận với lí do đề nghị đó ko phù hợp với thủ tục
quy định của điều lệ cty và Luật DN.Kiến nghị bị từ chối nên 15 CĐ của cty đã bỏ về,do đó số
CĐ đại diện cho số CP tại cuộc họp chỉ còn 55.6% tổng số CP có quyền biểu quyết trong cty.
ĐHĐ CĐ tiếp tục họp,bầu các thành viên còn lại vào HĐQT và BKS.Nghị định của ĐHĐ CĐ về
việc phê chuẩn các thành viên bổ sung của HĐQT và BKS đã đc 95% tổng số phiếu biểu quyết
của những CĐ còn lại thông qua.Nhưng nếu tính đến danh sách CĐ tham dự thì nghị quyết trên
chỉ chiếm 52% tổng số CP có quyền biểu quyết thông qua.
Cho rằng nghị quyết trên của ĐHĐ CĐ là ko hợp lệ vì cuộc họp ĐHĐ CĐ ngày 27/05/2007 đc
tiến hành ko hợp pháp,không đủ CĐ theo điều lệ,số CĐ bỏ về đã nộp đơn kiện lên Tòa Kinh Tế
TAND tỉnh K,đề nghị hủy bỏ nghị quyết của ĐHĐ CĐ và ko chấp nhận danh sách bổ sung.
Căn cứ vào những quy định của luật DN 2005,hãy cho biết:
1.Việc từ chối ý kiến bổ sung tại cuộc họp ngày 27/06/2007 của chủ tịch HĐQT CTCP PN có

cách là Chủ tịch HĐTV và là người có nhiều vốn nhất(500tr =50% vốn điều lệ cty), Chương đơn
phương ra quyết định cách chức giám đốc của Bình và bổ nhiệm An làm giám đốc thay thế cho
dù là Chương có góp vốn nhiều hơn nữa mà việc Chương đơn phương quyết định như vậy vẫn
sai luật.
2. Hợp đồng do Bình ký với Công ty Trường Xuân có hay không có hiệu lực? vì sao?
Hợp đồng do Bình ký với Công ty Trường Xuân có hiệu lực. Vì:
ở đây có 2 vấn đề:
- thứ nhất: nếu điều lệ công ty ko qui định gì thêm và dựa trên cơ sở của luật DN thì Bình là
Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của công ty. nên việc Bình ký hợp đồng trên hoàn
toàn hợp lý.
- thứ 2: trong tình huống trên thì không rơi vào điều khoản nào trong những qui định về vô hiệu
hợp đồng. (nếu cho là HĐ này bị vô hiệu vì bị lừa dối thì cần phải có sự xem xét của Tòa án
nhưng nếu trả lời câu này thì mình nghĩ chưa cần)
3. Ai là người phải thanh toán nợ và bồi thường thiệt hại trong trường hợp trên?
Trong trường hợp này thì Công ty Phương đông sẽ là người phải thanh toán nợ và bồi thường
thiệt hại cho Công ty Trường Xuân . Vì:
Trên mặt pháp lý thì hợp đồng hợp đồng của Cty Công ty Phương Đông và Cty Trường Xuân
hoàn toàn hợp pháp vì vậy chắc chắn hợp đồng có hiệu lực. Nên việc nếu muốn hủy hợp đồng thì
trách nhiệm rõ ràng là thuộc về CTY PĐ
Nhưng nếu muốn phân tích thêm thì vấn đề ở đây là giữa CTY PĐ và quyết định của Bình. Việc
Bình đơn phương ra quyết định khi ký một hợp đồng trị giá hơn 50% ( 53% tức là 700tr) Tổng
giá trị Tài sản của Cty PĐ tại thời điểm đó là 1,3 tỷ là không hợp lý,( việc không hợp lý này chỉ
là trong nội bộ của cty) vì dựa vào điều 52 của Luật DN áp dụng cho Cty TNHH thì phải "
(Được số phiếu đại diện ít nhất là 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp nhận đối
với quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi theo báo
cáo tài chính gần nhất của công ty thì quyết định đó phải được hội đồng thành viên thông qua
( mình xin nhắc lại đây chỉ là vấn đề của nội bộ cty). Trong trường hợp này Cty PĐ có quyền
khởi kiện Bình ra Tòa àn Kinh Tế, và nếu Cty PĐ muốn hủy hợp đồng với CTy Trường Xuân thì
lúc này Toàn án sẽ xem xét thêm một số thông tin nữa để có thể quyết định là hợp đồng có hiệu
lực hay vô hiệu.

trong cty, giấy triệu tập này A không gửi cho B, vì cho rằng có gửi thì B cung không tham dự.
Việc A không gửi giấy triệu tập cho B có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Tại cuộc họp của Hội đồng thành viên, A, C, D đã biểu quyết thông qua việc khai trừ B ra khỏi
cty và giảm số vốn điều lệ tương ứng với fần vốn góp của B, và hoàn trả fần vốn này cho B.
Quyết định khai trừ của HĐTV có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Quyết định này cùng với Biên bản cuộc họp Hội đồng thành viên ngày 10/03/2007 đã được gửi
cho B và gửi lên Fòng Đăng ký kinh doanh tỉnh K. Phòng ĐKKD căn cứ vào biên bản cuộc họp
3 thành viên cty X để cấp Giấy chứng nhận đăng ký thay đổi với nội dung là giảm số thành viên
từ 4 người trước đây xuống còn 3 người, và giảm vốn điều lệ của cty còn 4 tỷ đồng.
Việc làm của Phòng ĐKKD có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Nhận được quyết định này, B làm đơn kiện lên Tòa án nhân dân thành fố K yêu cầu bác 2 cuộc
họp của Hội đồng thành viên vì không hợp fáp; kiên cty vì đã khai trừ B, kiện Fòng ĐKKD vì đã
cấp Giấy chứng nhận đăng ký thay đổi cho Cty X.
Anh, chị hãy giải quyết vụ việc trên?
BÀI TẬP 2: TRANH CHẤP VỀ CHỦ THỂ GÓP VỐN VÀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GÓP VỐN
VÀO CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
Hải, Hồng và Công cùng tham gia thành lập công ty TNHH Vinh Quang vào tháng 07 năm 2006,
ngành nghề kinh doanh là sản xuất và mua bán đồ nhựa với số vốn điều lệ là 2 tỷ đồng.
Hải vốn là nhân viên của một Công ty TNHH khác, Hồng là chủ của một doanh nghiệp tư nhân,
còn Công là nhân viên hợp đồng của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Y.
Trong thỏa thuận góp vốn, các bên thỏa thuận Hải góp vốn 500 triệu đồng (chiếm 25% vốn điều
lệ), Hồng góp vốn 1 tỷ đồng (chiếm 50% vốn điều lệ) và Công góp vốn 500 triệu đồng (chiếm
25% vốn điều lệ).
Trong bản Điều lệ được các thành viên soạn thảo và nhất trí thông qua thì Hồng giữ chức Giám
đốc Công ty kiêm Chủ tịch Hội đồng thành viên. Các nội dung khác của bản Điều lệ tương tự
như các quy định của Luật Doanh nghiệp.
Việc góp vốn của các thành viên trong công ty có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Sau khi Công ty TNHH Vinh Quang đi vào họat động được 5 tháng, 3 thành viên ký kết hợp
đồng với Dương, trong đó các thành viên thỏa thuận kết nạp Dương làm thành viên của Công ty.
Tài sản góp vốn của Dương là chiếc ô tô tải được các bên định giá 300 triệu đồng.

nghiệp nhà nước XYZ thành Công ty Cổ phần XYZ. Ngày 25-09-2006, Công ty triệu tập cuộc
họp Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) đầu tiên, 150 cổ đông (100% số cổ đông này là cổ đông
phổ thông và là công nhân viên của công ty) đã tiến hành bầu ra Hội đồng quản trị (gồm 7 người)
và thông qua Điều lệ. Sau đó, ngày 26-09-2006, Hội đồng quản trị (HĐQT) của Công ty cũng đã
nhóm họp và bầu bà A làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Công ty.
1. Cuộc họp ĐHĐCĐ của công ty có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Ngày 01-11-2006, Phòng Đăng ký kinh doanh thành phố K cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh cho Công ty Cổ phần XYZ với số vốn điều lệ là 1,5 tỷ đồng và số cổ phần phát hành là
15.000 cổ phần (mệnh giá mỗi cổ phần là 100.000 đồng và 100% cổ phần được bán hết cho công
nhân viên của Công ty.)
2. Việc phát hành cổ phần của công ty có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Là doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa, do vậy, giống như trước đây, hàng năm Công ty
thường tổ chức cuộc họp tổng kết cuối năm với sự tham gia của tất cả cán bộ, công nhân viên
của Công ty (kể cả những người đã nghỉ hưu). Tại những cuộc họp này, Ban Giám đốc công ty
và Hội đồng quản trị trình bày về tình hình họat động kinh doanh của Công ty năm qua và
phương hướng kinh doanh của Công ty năm tới cũng như trao phần thưởng cho những nhân viên
xuất sắc.
3. Việc tổ chức cuộc họp tổng kết này có mang tính chất bắt buộc hay không? Nếu chỉ tổ chức
cuộc họp trên mà không tổ chức cuộc họp ĐHĐCĐ hàng năm có hợp pháp không, căn cứ pháp
lý?
Trong quá trình hoạt động từ cuối năm 2006, Hội đồng quản trị Công ty đã quyết định chia cổ
tức 3 lần cho các cổ đông (lần thứ nhất vào tháng 3 – 2007, lần 2 vào tháng 07-2007 và lần 3 vào
tháng 3-2008). Đầu năm 2008, nhằm đáp ứng yêu cầu mở rộng và phát triển họat động kinh
doanh, Hội đồng quản trị của Công ty đã quyết định mua các thiết bị máy chuyên dụng phục vụ
cho họat động kinh doanh của Công ty trị giá 3,5 tỷ đồng (tổng giá trị tài sản của Công ty thời
điểm này theo sổ sách kế toán là 4 tỷ đồng).
4. Các quyết định trên của HĐQT có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Nhằm phát hành thêm cổ phần mới, tăng vốn điều lệ, tiến hành sửa đổi Điều lệ cho phù hợp với
Luật Doanh nghiệp và thông qua báo cáo tài chính năm 2007 và kế hoạch kinh năm 2008, Công
ty Cổ phần XYZ quyết định triệu tập cuộc họp Đại Hội cổ đông thứ hai sau cuộc họp Đại hội

phát hành cổ phiếu mới và bản Điều lệ sửa đổi, cho nên một nhóm 10 cổ đông của Công ty Cổ
phần XYZ đã gửi đơn lên Tòa án nhân dân thành phố K kiện Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần
XYZ.
Tòa kinh tế, Tòa án nhân dân thành phố K đã thụ lý hồ sơ và đưa vụ án ra xét xử.
9. TAND thành phố K có thẩm quyền thụ lý vụ án không? Căn cứ pháp lý?
BÀI TẬP 4: TRANH CHẤP VỀ VIỆC BẦU VÀ BÃI NHIỆM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ, GIÁM ĐỐC TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
Công ty Cổ phần XYZ được thành lập ngày 20-07-2006 hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo
hiểm. Bảy doanh nghiệp góp cổ phần và tổng số cổ phần của 7 doanh nghiệp đó chiếm 80% tổng
số vốn điều lệ của Công ty Cổ phần XYZ. 20% vốn điều lệ còn lại do người lao động trong Công
ty nắm giữ. Tổng công ty A là doanh nghiệp Nhà nước có số vốn cổ phần lớn nhất, nắm 51%
tổng số cổ phần của Công ty Cổ phần XYZ.
Hội đồng quản trị của Công ty XYZ có 7 thành viên, trong đó Tổng công ty A có 2 đại diện
thành viên trong Hội đồng quản trị. Một trong 2 người trực tiếp quản lý phần vốn của Tổng công
ty A, ông B giữ chức Giám đốc Công ty. Người còn lại là bà C giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản
trị của Công ty. Điều lệ Công ty Cổ phần XYZ quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại
diện theo pháp luật của Công ty và Giám đốc Công ty phải là thành viên Hội đồng quản trị.
Quy định trên của Điều lệ công ty XYZ có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Ngày 15-12-2006, Hội đồng quản trị Tổng công ty A ra quyết định về việc ông B không còn là
người trực tiếp quản lý phần vốn cho Tổng công ty A tại Công ty Cổ phần XYZ và không còn
giữ các chức danh thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc Công ty Cổ phần XYZ nữa. Trong
quyết định này, Hội đồng quản trị Tổng công ty A quyết định điều động ông E đang làm việc tại
Tổng Công ty A (không phải trong lĩnh vực bảo hiểm) sang giữ chức Giám đốc và thành viên
Hội đồng quản trị thay cho ông B.
Các quyết định trên của HĐQT Tổng công ty A có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Một số thành viên Hội đồng quản trị của Công ty Cổ phần XYZ không nhất trí với quyết định
này mà yêu cầu tổ chức cuộc họp Hội đồng quan trị của Công ty Cổ phần XYZ để bầu chọn. Do
thấy khả năng chỉ có được ý kiến ủng hộ của 3 thành viên trong Hội đồng quản trị của Công ty
Cổ phần XYZ nên Hội đồng quản trị của Tổng công ty A ra quyết định cử thêm ông H (thuộc
Tổng Công ty A) tham gia Hội đồng quản trị, đại diện phần vốn của Tổng Công ty A tại Công ty

đồng quản trị, ông T làm Giám đốc công ty. Ban kiểm soát của Công ty có 3 người do bà P làm
trưởng ban.
Từ tháng 08 năm 2006, do mâu thuẫn trong nội bộ của công ty, cụ thể là trong chính Hội đồng
quản trị nên tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty đã gặp rất nhiều khó khăn. Một số thành
viên Hội đồng quản trị đã yêu cầu Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc công ty phải từ chức.
Ngày 19-09-2006, các thành viên trong Hội đồng quản trị có văn bản yêu cầu Chủ tịch Hội đồng
quản trị phải triệu tập cuộc họp Hội đồng quản trị để tiến hành các cải cách cần thiết nhằm thúc
đẩy tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty và bầu thêm 2 phó chủ tịch Hội đồng quản trị
Công ty.
Các thành viên trong HĐQT có quyền yêu cầu triệu tập cuộc họp, và bầu thêm 2 phó chủ tịch
HĐQT không?
Không nhất trí với các vấn đề trên, Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty đã từ chối triệu tập
cuộc họp Hội đồng quản trị . Ngày 23-10-2006, các thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm
soát tiếp tục có văn bản yêu cầu Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập cuộc họp Hội đồng quản trị
Công ty.
Ngày 26-12-2006, Ban kiểm soát và các thành viên trong Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần
XYZ gửi giấy mời họp đến tất cả các thành viên trong hội đồng quản trị và Ban kiểm soát của
Công ty và đã tự nhóm họp Hội đồng quản trị. Có 7 thành viên trong Hội đồng quản trị tham dự,
Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc công ty không tham dự.
Việc Chủ tịch HĐQT và Giám đốc công ty không tham dự có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Tại cuộc họp Hội đồng quản trị ngày 26-12-2006 này, các thành viên tham dự đã hoàn toàn nhất
trí ra quyết định bãi miễn Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc Công ty cũ, bầu ra Chủ tịch
Hội đồng quản trị mới là ông L, Giám đốc Công ty mới là bà H. Hội đồng quản trị cũng đưa ra
quyết định triệu tập cuộc họp Đại hội cổ đông bất thường của Công ty vào ngày 29-12-2006.
Các quyết định của HĐQT trong trường hợp trên có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Ngày 29-12-2006, cuộc họp Đại hội đồng cổ đông bất thường đã được tiến hành với sự tham gia
của các cổ đông đại diện cho 1/2 tổng số cổ phần của Công ty, Đại hội đồng cổ đông đã thông
qua nghị quyết chấp hành quyết định của Hội đồng quản trị về việc miễn nhiệm chủ tịch Hội
đồng quản trị và Giám đốc Công ty, quyết định bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám
đốc công ty mới, thông qua quyết định sửa đổi Điều lệ của Công ty, theo đó bổ sung thêm hai

đồng quản trị trong tổng số 5 thành viên, 2 thành viên Ban Kiểm soát trong tổng số 3 thành viên.
Tất cả các quyết định này đã được thông qua một cách hợp pháp. Mặc dù họp chưa xong nhưng
vì điều kiện đã quá muộn, Đại hội đồng cổ đông nhất trí sẽ họp tiếp vào ngày 27-01-2007.
Sau 7 ngày, vào 9.00h sáng ngày 27-01-2007, Đại hội đồng cổ đông của Công ty Cổ phần XYZ
mới họp tiếp. Tại cuộc họp này, một cổ đông của Công ty (chiếm 15% tổng số cổ phần có biểu
quyết của Công ty) đã đề nghị bổ dung một nội dung mới vào cuộc họp nhưng Chủ tịch Hội
đồng quản trị không chấp nhận với lý do đề nghị đó không phù hợp với thủ tục quy định tại Điều
lệ Công ty và Luật Doanh nghiệp.
Sau khi kiến nghị bị từ chối, 10 cổ đông của Công ty đã bỏ về, do đó, số cổ đông đại diện cho số
cổ phần tại cuộc họp chỉ còn 55,6% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của Công ty.
Đại hội đồng Công ty tiếp tục họp, bầu bổ sung các thành viên còn lại của Hội đồng cổ đông về
việc phê chuẩn các thành viên bổ sung của Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát đã được 95%
tổng số phiếu biểu quyết của những cổ đông dự họp còn lại thông qua. Tuy nhiên, nếu tính theo
danh sách cổ đông tham dự cuộc họp từ ngày đầu thì Nghị quyết trên chỉ chiếm 52% tổng số cổ
phần có quyền biểu quyết thông qua.
Cho rằng Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông là không hợp lệ vì cuộc họp Đại Hội đồng cổ
đông dự họp theo quy định tại Điều lệ, số cổ đông bỏ về đã nộp đơn kiện lên Tòa án Kinh tế Tòa
án nhân dân tỉnh T, đề nghị hủy bỏ Nghị quyết này của Đại hội đồng cổ đông và không chấp
nhận danh sách bầu bổ sung.
Câu hỏi:
1. Cuộc họp ngày 27/1/2007 có hợp pháp không?
2. Việc kiến nghị nội dung cuộc họp có hợp lệ không? Căn cứ pháp lý?
3. Việc từ chối kiến nghị có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
4. Quyết định bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát có hợp pháp không?
Căn cứ pháp lý?
BÀI TẬP 7: TRANH CHẤP VỀ CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN, CỔ PHIẾU TRONG CÔNG
TY CỔ PHẦN
Công ty cổ phần XYZ là doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa. Ngày 10-01-1999, Ủy ban
nhân dân thành phố A ra quyết định cho phép chuyển doanh nghiệp nhà nước XYZ thành Công
ty Cổ phần XYZ. Ngày 15-04-1999, Công ty tiến hành cuộc họp Đại hội đồng cổ đông để thông

Đàu năm 2006, công ty TNHH sản xuất và thương mại Việt Đức (gọi tắt là Bên mua) do ông
Nguyễn Trọng Hiển - Giám đốc công ty làm đại diện và Chi nhánh Tổng công ty da giày Việt
Nam tại TP Hồ Chí Minh (gọi tắt là Bên bán) do bà Vũ Ngân Giang - Giám đốc chi nhánh làm
đại diện (theo giấy uỷ quyền số 369/TCT-DGVN ngày 10/4/1997 của Tổng giám đốc Tổng công
ty da giày Việt Nam ) ký kết hợp đồng mua bán số 001/LX. Hợp đồng có nhiều điều khoản cụ
thể, trong đó đáng lưu ý các nội dung quan trọng sau đây:
1. Bên bán bán cho bên mua một lô hàng gồm 20 loại phụ tùng của xe tải IFA - W50 (có phụ lục
chi tiết kèm theo); hàng được sản xuất công nghiệp tại Cộng hoà Dân chủ Đức (cũ), hàng mới
100%.
2. Giá cả từng loại phụ tùng được quy định chi tiết trong phụ lục kèm theo hợp đồng và được
tính theo giá đô-la Mỹ. Tổng giá trị hợp đồng là 300.000 đô-la Mỹ; hàng được phép giao nhiều
đợt, trong đó đợt giao hàng đầu tiên trị giá 100.000 đô-la Mỹ.
3. Trong vòng 05 ngày kể từ ngày ký hợp đồng, bên mua phải ứng trước 25.000 đô-la Mỹ. Số
tiền hàng còn lại phải thanh toán đầy đủ trong vòng 30 ngày, kể từ ngày giao hàng. Nếu vi phạm
nghĩa vụ thanh toán, bên mua phải chịu phạt 0,1% một ngày chậm thanh toán.
4. Địa điểm giao hàng là cảng Hải Phòng; khi hàng đến cảng Hải Phòng, bên bán làm lệnh giao
hàng cho bên mua kèm bộ chứng từ hoàn hảo để bên mua thanh toán tiền và nhận hàng.
5. Ngày giao hàng cụ thể sẽ được bên bán thông báo cho bên mua trước 5 ngày, tính đến ngày
giao hàng.
6. Bên nào vi phạm hợp đồng sẽ phải nộp khoản tiền phạt hợp đồng là 10% giá trị hợp đồng; các
bên không được viện dẫn bất kỳ lý do nào, kể cả lý do bất khả kháng để miễn trách nhiệm tài
sản.
7. Các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, nếu các bên không thương lượng, hoà giải được với
nhau sẽ được giải quyết tại TAND thành phố Hồ Chí Minh.
1. Xác định chủ thể của hợp đồng nói trên?
2. Hợp đồng trên đã có đầy đủ các nội dung chủ yếu theo quy định của pháp luật chưa?
3. Kể tên các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng trên? Nêu nguyên tắc áp
dụng các văn bản đó?
4. Có điều khoản nào của văn bản trái với quy định pháp luật hiện hành hay không? Nếu có hãy
sửa lại cho đúng

tính tương đương tiền đồng Việt Nam .
4. Bồi thường thiệt hại là khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ (có đầy đủ chứng cứ chứng minh) là 425 triệu
đồng.
5. Các chi phí khác là 12 triệu đồng (chi phí luật sư 2 triệu đồng; chi phí vé máy bay đi lại, tiền
ăn ở trong quá trình đàm phán giải quyết tranh chấp là 10 triệu đồng).
8. Những yêu cầu nào của Việt Đức có thể được đáp ứng? Nêu lý do vì sao lại đáp ứng các yêu
cầu đó?
Pháp luật về phá sản doanh nghiệp
Công ty A là công ty TNHH 1 thành viên, do công ty TNHH B làm chủ sở hữu, có trụ sở đặt tại
quận C tỉnh D. Từ năm 2003, do không tính tóan chặt chẽ chi phí sản xuất nên sản phẩm của A
làm ra có giá thành cao, càng tiêu thụ càng bị lỗ nặng. TÍnh đến cuối năm 2006, A đã tạo ra các
khoản nợ sau:
♣ Nợ Ngân hàng Vietcombank 800 triệu với tài sản thế chấp trị giá 1 tỷ đồng.
♣ Nợ Ngân hàng AgriBank 600 triệu đồng với tài sản cầm cố 400 triệu đồng
♣ Được Ngân hàng IncomBank đứng ra bảo lãnh để mua hàng trả chậm của công ty E trị giá 1,5
tỷ đồng. Do A không thanh toán cho E nên AgriBank phải thanh toán cho N số nợ trên.
♣ Nợ công ty vận tải F 100 triệu đồng theo hợp đồng A thuê F vận chuyển hàng hóa
♣ Nợ công ty TNHH G 1 tỷ đồng không có bảo đảm
♣ Nợ doanh nghiệp tư nhân K 600 triệu đồng không có bảo đảm
♣ Nợ tiền thuế của nhà nước 1 tỷ 200 triệu
♣ Nợ lương công nhân 450 triệu
Tất cả các khoản nợ trên đã đến hạn thanh toán. Do không thanh toán được các khoản nợ đến
hạn, một số chủ nợ đã nộp đơn đến tòa án yêu cầu mở thủ tục phá sản công ty A.
1. Lập danh sách chủ nợ của A, phân định rõ số lượng và tính chất của từng khoản nợ? Căn cứ
pháp lý?
2. Những chủ nợ nào có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty X? Căn cứ
pháp lý?
3. Tòa án nhân dân quận C có quyền thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với công ty A hay
không? Căn cứ pháp lý? Giả sử tòa án C thụ lý đơn thì Tòa án phải làm gì tiếp theo? Căn cứ
pháp lý?

ròng 800 triệu. Tuy nhiên các thành viên không thống nhất thể thức phân chia. B cho rằng do D
chưa góp đủ vốn nên tỷ lệ lợi nhuận phải chia trên số vốn thực góp là 500 triệu. D không đồng ý
và phản bác rằng phần vốn góp của B bằng giấy nhận nợ trong công ty là không hợp pháp, phần
vốn góp của C cao hơn giá trị thực tế, nên C chỉ được chia lãi trên số vốn thực góp là 700 triệu
đồng. Vụ tranh chấp này được khởi kiện tại tòa? Tòa án xử lý thế nào? Được biết công ty TM đã
thanh toán được 50% số nợ và hiện đang làm thủ tục phá sản và không thể đòi được 50% còn lại.
Ai chịu trách nhiệm về số nợ 50% đó?
Bất ngờ ghê gớm. Nhiều người biết Luật quá nên Mia sung sướng. Nhìn smallphuthuy quen
quen Hỏi khí không phải smallphuthuy học trường nào í??? Có học Luật không?
Còn về tình huống này, Mia hoàn toàn đồng ý với cách giải quyết của smallphuthuy. Tuy nhiên,
đó chỉ là trên lí thuyết thôi. Các thành viên góp chưa đủ vốn sẽ chẳng bao giờ góp đủ số vốn nữa
cả. Không đơn giản đâu nhé. Người ta cứ trầy bửa chả làm được giề cả. Vậy giải quyết thế
nào?
Nhân tiện, Mia cũng xin đưa ra một tình huống, mọi người xem và giải đáp giúp Mia nhé.
Công ty A có đại diện pháp luật là ông Giám đốc Nguyễn Văn B - đứng tên chủ tài khoản của
CT A tại ngân hàng XYZ. Ông B muốn ủy quyền cho ông C - một người ngoài công ty sử dụng
đại diện cho mình sử dụng tài khoản của CT A trong trường hợp ông B vắng mặt. Liệu có được
không? Căn cứ pháp lý nào cho phép?
Bài 2
Dương, Thành, Chung và Hải quyết định thành lập công ty TNHH Thái Bình Dương (TBD),
ngành nghề kinh doanh xuất nhập khẩu với số vốn điều lệ 5 tỷ VNĐ. Công ty TNHH TBD đã
được cấp giấy chứng nhận DKKD vào 07/2006.
Trong thỏa thuận góp vốn, các thành viên thỏa thuận rằng Dương góp 800 triệu VNĐ bằng tiền
mặt (chiếm 16% vốn điều lệ).
Thành góp vốn bằng giấy nhận nợ của công ty Thành Mỹ (Một đối tác tiềm năng mà các bên dự
định sẽ là bạn hàng chủ yếu của công ty TBD và Thành có mối quen biết rất chặt chẽ), tống số
tiền trong giấy nhận nợ là 1 tỷ 300 triệu VNĐ, được các bên nhất trí định giá là 1 tỷ 200 triệu
VNĐ (chiếm 24% VĐL).
Trung góp vốn bằng ngôi nhà của mình và được các thành viên thỏa thuận định giá 1 tỷ 500 triệu
VNĐ (chiếm 30% VĐL) do tin chắc rằng trong thời gian tới con đường trước ngôi nhà đó sẽ

vốn có phù hợp không ?
5) Trường hợp thực tế Hải mới góp 1 phần vốn thì có được chia lợi nhuận trên cả phần vốn góp
cam kết hay không ?
Bài 3:
Tình huống 1
Thân, Tý, Thìn cùng góp vốn thành lập công ty TNHH Đại Phát. Ngày 15/4/2003, công ty được
cấp giấy chứng nhận ĐKKD. Vốn điều lệ đăng ký là 1tỷ đồng, trong đó: Thân góp 400 triệu, Tý
và Thìn mỗi người góp 300 triệu.
Các thành viên nhất trí cử Thân làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tý làm Tổng giám đốc, còn
Thìn làm Phó Tổng giám đốc kiêm kế toán trưởng của công ty.
Sau một năm đi vào hoạt động, công ty làm ăn không có lãi. Cho rằng Tý không có năng lực
điều hành công ty nên với tư cách là Chủ tịch HĐTV và cũng là người góp nhiều vốn nhất trong
công ty, Thân đã ra quyết định cách chức Tổng giám đốc của Tý và bổ nhiệm Thìn là Tổng giám
đốc mới.
Tý không đồng ý với các quyết định nói trên và vẫn tiếp tục sử dụng con dấu và danh nghĩa công
ty để ký kết 1 số hợp đồng, trong đó có hợp đồng vay 300 triệu của Ngân hàng, trong khi đó giá
trị tài sản còn lại của công ty chỉ khoảng 500 triệu. Tý đã đem số tiền đó để sử dụng vào mục
đích riêng của mình.
Trước tình hình như vậy, Thân đã ra quyết định khai trừ Tý ra khỏi công ty và khởi kiện Tý ra
Toà yêu cầu Tý bồi thường thiệt hại gây ra cho công ty. Ngân hàng kiện công ty Đại Phát để đòi
lại số tiền vay và lãi phát sinh.
Những vấn đề đặt ra:
1. Bộ máy quản lý, điều hành công ty TNHH?
2. Nhận xét về các quyết định của Thân trong trường hợp trên?
3. Người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH?
4. Nhận xét về tính hợp pháp của hợp đồng vay tiền nói trên?
Tình huống 2
Tùng, Cúc, Trúc, Mai cùng góp vốn thành lập công ty TNHH An Dương. Công ty đã ĐKKD vào
tháng 2/2001. Tùng cam kết góp vào công ty 200 triệu, nhưng sau này trên thực tế Tùng chỉ góp
100 triệu. Cúc góp vốn bằng một chiếc ô tô được định giá là 300 triệu, mặc dù giá trị thực tế của

Những vấn đề đặt ra:
1. Hai doanh nghiệp trên có thể làm như vậy được không? Nếu được thì loại hình doanh nghiệp
được thành lập là gì? Tư vấn hồ sơ thành lập doanh nghiệp?
2. Ai được coi là thành viên của doanh nghiệp mới? Vì sao?
3. Giả sử sau một thời gian hoạt động, doanh nghiệp mới muốn tăng vốn điều lệ bằng cách kết
nạp thêm 2 thành viên mới là doanh nghiệp nhà nước Chiến Thắng và ông Lê Văn Sơn - Vụ
trưởng Vụ kế hoạch Bộ Y tế. Doanh nghiệp có thể làm như vậy được không và phải tiến hành
những thủ tục pháp lý gì?
Tình huống 4
Ông Peter Vũ là một nhà kinh doanh người Mỹ gốc Việt. Ông định cư tại Mỹ từ năm 1975. Sau
một lần về thăm Việt Nam, trước tình cảm nồng hậu của mọi người và chứng kiến tận mắt sự đổi
thay của đất nước, ông đã quyết định đầu tư tại Việt Nam.
Hiện nay, ông đang có 3 hướng đầu tư sau đây:
1. Góp vốn cùng em trai đang ở Việt Nam để thành lập doanh nghiệp.
2. Góp vốn với 1 công ty liên doanh để thành lập doanh nghiệp kinh doanh máy xây dựng.
3. Hợp tác với 1 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài để thành lập doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng các khu đô thị mới.
Hãy tư vấn cho ông Peter Vũ ưu, nhược điểm của những hướng đầu tư trên, các loại hình doanh
nghiệp có thể thành lập và tư vấn hồ sơ thành lập doanh nghiệp trong từng trường hợp?
Tình huống 5:
Công ty TNHH Vạn Lộc kinh doanh dịch vụ du lịch và khách sạn. Ngày 16/3/2005, đại diện
công ty đến Phòng ĐKKD tỉnh NA để đăng ký bổ sung ngành, nghề kinh doanh mới là dịch vụ
karaoke và vũ trường. 10 ngày sau, Phòng ĐKKD thông báo hồ sơ ĐKKD của công ty chưa hợp
lệ, còn thiếu giấy phép của UBND tỉnh. Vì theo ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh, tạm thời hạn chế
việc cấp ĐKKD hoạt động vũ trường và karaoke trên địa bàn tỉnh trong khi chờ kiện toàn công
tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực nhạy cảm này.
- Bình luận của bạn đối với thông báo trên của Phòng ĐKKD.
- Theo bạn, hồ sơ ĐKKD của doanh nghiệp cần có những giấy tờ gì? Cho biết hiện nay việc kinh
doanh dịch vụ karaoke và vũ trường phải có giấy phép hoạt động karaoke của Bộ Văn hoá -
thông tin.

14/11/2004, Hội đồng quản trị công ty đã họp và quyết định cách chức Tổng giám đốc của ông
Luân (trước đây là cán bộ của Sở Tài chính UBND tỉnh QN, nay đã về hưu) với lý do không có
năng lực điều hành hoạt động kinh doanh. Ông Luân phản đối quyết định này của HĐQT và đã
khiếu nại tới Chủ tịch UBND tỉnh QN. Sau khi nhận được đơn khiếu nại của ông Luân, Chủ tịch
UBND tỉnh QN đã có chỉ thị yêu cầu công ty không thi hành quyết định của HĐQT và đề nghị
Thanh tra tỉnh tiến hành thanh tra công ty để làm rõ vụ việc.
Bạn có nhận xét gì đối với khiếu nại của ông Luân và cách giải quyết của Chủ tịch UBND tỉnh
QN?
TÌNH HUỐNG THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
Giả sử năm tháng 9 năm 2006 ông Nguyễn Văn N gửi Hồ sơ đăng ký kinh doanh tới Phòng
Đăng ký kinh doanh tỉnh TN để thành lập doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vật liệu nổ công
nghiệp. Cán bộ Phòng Đăng ký kinh doanh tỉnh TN đã từ chối cấp đăng ký kinh doanh cho ông
N với lý do: Địa điểm kinh doanh gần một số cơ quan quan trọng của Trung ương và theo Điều 2
- Nghị định số 08/2001/NĐ-CP ngày 22/2/2001 của Chính phủ thì đây là ngành nghề kinh doanh
phải có “ Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự” do công an cấp tỉnh cấp mà ông N chưa
có giấy này. Cán bộ Phòng yêu cầu ông phải thay đổi địa điểm và bổ sung vào Hồ sơ đăng ký
kinh doanh Giấy xác nhận này thì mới tiến hành đăng kýý kinh doanh.
Ông N đến hỏi bạn tư vấn. Quan điểm của bạn đối với yêu cầu trên của Phòng Đăng ký kinh
doanh tỉnh?Nêu rõ căn cứ pháp lý.
TÌNH HUỐNG: GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY
Tuấn, Thành, Hưng và Hoàng quyết định thành lập công ty TNHH Thành Hưng, ngành nghề
kinh doanh mua bán máy tính và dịch vụ tin học với vốn điều lệ là 2 tỷ đồng. Công ty TNHH
Thành Hưng được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong tháng 7 năm 2006.
Trong bản cam kết góp vốn, Tuấn góp 200 triệu bằng tiền mặt, Thành góp vốn bằng ngôi nhà của
mình để làm văn phòng giao dịch, được các thành viên thỏa thuận định giá là 1 tỷ mặc dù hiện
tại có giá khoảng 500 triệu vì theo quy hoạch đến cuối năm 2005 sẽ có một con đường lớn mở
trước nhà. Hưng góp 400 triệu bằng tiền mặt nhưng lúc đầu góp 300 triệu, phần còn lại khi nào
công ty cần thì góp đủ. Hoàng góp bằng giấy xác nhận nợ của công ty Trần Anh có số nợ là 500
triệu với thời hạn trả nợ là 31/12/2006, được các thành viên định giá là 400 triệu.
Đến ngày31/12/2006 công ty Trần Anh chỉ trả đựợc 300 triệu, phần còn lại không đòi được. Mặc

10% vốn điều lệ của Công ty Đông Á.
Nhóm thành viên này muốn xin ý kiến tư vấn của bạn?
Nêu rõ căn cứ pháp lý cho lập luận của mình?
TÌNH HUỐNG 2
Công ty TNHH Việt Tiến được thành lập tháng 1 năm 2006 với phần vốn góp bằng nhau của 10
thành viên. Ông Trần Bình là một trong số 10 thành viên góp vốn đồng thời là Giám đốc Công
ty. Điều lệ Công ty Việt Tiến không có điều khoản quy định người đại diện theo pháp luật của
Công ty.
Ngày 1-14-2006 ông Trần Bình bị chết trong một tai nạn giao thông nên không có di chúc để lại.
Vợ ông Trần Bình do bị di chứng của tai biến mạch máu não nên hiện tại đang không đi lại được
và phải có người giúp đỡ trong sinh hoạt hàng ngày. Ông Trần An là người con duy nhất của ông
Trần Bình hiện là Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch và Đầu tư của Bộ N.
- Theo Luật Doanh nghiệp hiện hành của Nhà nước ta Công ty Việt Tiến có các phương án xử lý
thế nào đối với phần vốn góp của ông Trần Bình?
- Trong mỗi phương án xử lý ấy Việt Tiến phải làm các thủ tục gì trong nội bộ cũng như đối với
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đảm bảo cho Công ty hoạt động bình thường và đúng
pháp luật?
TÌNH HUỐNG 3
Công ty cổ phần BH được chủ tịch UBND tỉnh TN cấp giấy phép thành lập tháng 2 năm 1998
theo quy định của Luật Công ty do Quốc hội thông qua ngày 21-12-1990. Hội đồng quản trị
Công ty họp tháng 8/2006 đã thông qua Nghị quyết bãi miễn chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị
và tư cách thành viên Hội đồng quản trị của bà Lê do những sai phạm của bà trong quá trình thực
hiện chức trách của mình trong công ty. Bà Lê phản đối Nghị quyết này và đã làm đơn khiếu nại
tới Chủ tịch UBND tỉnh TN.
Trên cơ sở khiếu nại tới Chủ tịch UBND tỉnh TN đã có chỉ thị yêu cầu Công ty B dừng thi hành
Nghị quyết vừa được thông qua đồng thời đề nghị Thanh tra của tỉnh tiến hành tranh tra hoạt
động của công ty để có kết luận về vấn đề này.
Bình luận của bạn đối với:
- Khiếu nại của Bà Lê?
- Chỉ thị của Chủ tịch UBND tỉnh TN?

TÌNH HUỐNG 5
Giả sử tháng 12 năm 2005, Gia đình bạn dự định mua của Công ty Kinh doanh nhà DT- Tp. Hà
Nội một căn hộ tầng 10 thuộc chung cư đang xây dựng tại khu đô thị YH Hà nội để ở. Trong dự
thảo hợp đồng Công ty DT đưa ra có một điều khoản như sau:
“ Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này sẽ được giải quyết bởi Trung tâm trọng tài kinh tế
Tp. Hà Nội”
Bạn có đồng ý với điều khoản này trong dự thảo hợp đồng không? Vì sao?
TÌNH HUỐNG 11
Công ty TNHH An Phú có trụ sở chính tại Quận Lê Trân, Thành phố Hải phòng. Công ty cổ
phần Phước Vĩnh có trụ sở chính tạiThành Phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai. Phước Vĩnh có ký hợp
đồng mua lại của An Phú ngôi nhà tại phố Thái Hà, Quận Đóng đa, thành phố Hà Nội làm văn
phòng đại diện. Sau khi nhận nhà Công ty Phước Vĩnh không làm thủ tục trước bạ được vì bên
bán không thể giao đủ các hồ sơ hợp lệ về sở hữu nhà nên đòi huỷ hợp đồng mua bán này. Công
ty An Phú không chấp nhận vì cho rằng việc mua bán đã hoàn tất. Trong trường hợp này đơn
kiện của Công ty Phước Vĩnh phải gửi đến:
- Toà kinh tế Toà án nhân dân Thành Hải phòng?
- Toà kinh tế Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội?
- Một trong hai Toà trên theo sự lựa chọn của Công ty Phước Vĩnh?
Bạn đồng ý với câu trả lời nào? Vì sao? Vì sao bạn không đồng ý với các câu trả lời còn lại?
TÌNH HUỐNG 6
Doanh nghiệp tư nhân A có đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực vận tải đường thủy nội địa, có ký
một hợp đồng với B là…………………….
Theo hợp đồng hai bên thoả thuận:
- ……………………
- ……………………
- ……………………
……………………….
Hãy điền theo mẫu trên những sự kiện nào đó để có:
a- Một thí dụ về hợp đồng giữa A và B là hợp đồng mua bán hàng hóa?
b- Một thí dụ về hợp đồng giữa A và B là hợp đồng dân sự (theo nghĩa hẹp)?

vực: Xây dựng dân dụng và tư vấn, thiết kế công trình. Hiện tại HM có một Văn phòng tư vấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status