Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt nam, Cơ hội và thách thức doc - Pdf 12

15.10.2008

1
TẬP HUẤN TCTY GIAY VỀ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG VÀ CHỨNG CHỈ RỪNG
PHU THO , 27 / 11 / 2008

Quản lý rừng bền vững
và chứng chỉ rừng ở Việt nam,
Cơ hội và thách thức
***

nước, tư nhân nhằm lập kế hoạch xây dựng mạng lưới các khu rừng quản lý tốt.

SFMI cũng đã tổ chức nhiều hội thảo, diễn đàn truyền thông để giúp lãnh đạo các
tỉnh, các lâm trường và các ngành khác am hiểu về phong trào QLRBV và CCR trên thế giới
và tại Việt nam. Bản thân SFMI cũng tự củng cố mở rộng, gia nhập FSC quốc tế và xây dựng
năng lực để tiếp tục các hoạt động tốt hơn, nhanh hơn, đặc biệt từ 2006 khi 1 doanh nghiẹp
trồng rừng đầu tiên ở Quy Nhơn Việt Nam được nhận chứng chỉ.

Báo cáo này cũng đánh giá những thuận lợi, triển vọng của tiến trình QLRBV và cũng
nêu ra các khó khăn thử thách đã và đang vấp phải. Từ đó đề ra nhiệm vụ hoạt động của
SFMI trong hoàn cảnh và đặc điểm của Việt nam từ khi Thủ tướng chính phủ phê duyệt
“Chiến lược lâm nghiệp quốc gia 2006–2020” trong đó có 3 Chương trình phát triển trọng
điểm, mà chương trính thứ nhất là Quản lý rừng bền vững. 1- KHUNG CẢNH Trong thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, nhân loại đứng trước thảm hoạ suy thoái
môi trường trên toàn cầu nên đã đề ra nhiều giải pháp bảo vệ và phục hồi môi trường, trong
đó có phong trào quản lý rừng bền vững. QLRBV là sáng kiến của cộng đồng quốc tế do
những người chế biến, tiêu thụ gỗ cam kết chỉ sử dụng và lưu thông trên mọi thị trường thế
giới những sản phẩm gỗ nào được khai thác hợp pháp từ các khu rừng đã được quản lý bền
vững. Muốn vậy, chứng chỉ rừng và chứng chỉ gỗ được áp dụng như là một công cụ hữu hiệu
để buộc mọi chủ rừng đảm bảo quản lý rừng bền vững về cả 3 phạm trù: kinh tế, môi trường,
xã hội.

Hợp tác về lâm nghiệp trong khối ASEAN những năm vừa qua tập trung chủ yếu vào
quá trình QLRBV, từ đó một diện tích tuy còn hạn chế nhưng đã được cấp chứng chỉ đầu tiên
tại Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái lan, trong 3 năm vừa qua. Động lực kích thích các

tỉnh miền Nam Việt nam, các kế hoạch trồng rừng, khai thác gỗ đều do Nhà nước cấp chỉ tiêu,
rất nhiều khi lâm trường không được tự làm mà bắt buộc phải thuê khoán cho dân hoặc các
doanh nghiệp khác tới làm. Từ đó lợi ích và động lực để chủ rừng quản lý rừng bền vững
nhằm xin cấp chứng chỉ bị loại trừ.

Tuy nhiên nhiều lâm trường và cơ quan quản lý cấp tỉnh đang tự xây dựng lại cơ chế
chính sách, giao quyền tự chủ kế hoạch, tự chủ tài chính cho lâm trường và quyết tâm đổi mới
lâm trường thành doanh nghiệp lâm nghiệp sản xuất lâm sản theo Quyết định 187/TTg (1999)
của Thủ Tướng Chính phủ và theo Nghị định số 200/ CP (2004) của Chính phủ về đổi mới tổ
chức và quản lý LTQD, và nghị quyết số 28 / NQTƯ của Bộ chính trị Trung ương Đảng về
tiếp tục sắp xếp đổi mới và phát triển nông lâm trường quốc doanh.

2. SỰ THAY ĐỔI CỦA RỪNG VÀ CHỦ RỪNG Ở VIỆT NAM Việt nam có diện tích 33,123 triệu ha, trảI dài từ 6 đến 23 độ vĩ bắc với 80 triệu dân.
Hai vùng khí hậu có ảnh hưởng chính tới sự hình thành và phát triển thảm thực vật rừng; từ vĩ
tuyến 16 trở ra bắc có mùa nóng từ tháng 5 tới tháng 10 và tháng còn lại của năm là mùa lạnh;
từ vĩ tuyến 16 trở vào phía nam có mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4, các tháng còn lại
là mùa mưa. Điều này có ảnh hưởng quan trọng tới sự hình thành các kiểu rừng và sự đa dạng
sinh học cao của đất nước.

Trước kia Việt nam có nhiều khu rừng phong phú về chủng loại, bao phủ hầu hết toàn
đất nước. Theo nguồn điều tra rừng thì năm 1943 Việt nam có 14,3 triệu ha rừng hoặc chiếm
43% của toàn lãnh thổ. Hiện nay toàn bộ diện tích được phân loại là đất cho lâm nghiệp còn
17,08 triệu ha, chỉ có 9,44 ha là rừng tự nhiên, 1,47 triệu ha là rừng trồng. Đất trống thoái hoá
đã lên tới hơn 7 triệu ha (bảng 1)

Bảng 1: Thay đổi diện tích rừng ở Việt nam từ giai đoạn 1943-2005


-
200
5
)

(1000ha
(%)
1943 14,300

0

14,300

43,0

0,701976

11
,
077

92

11
,
169

1990 8,430

745

9,175

27,8

0,141995 8,252

1,050

9,302

28,2

0,122000 9,444

1,471

10,915



20
3
,
887

4
6,8

0
,
40

-

2
,
324-

1
,
1

2005 TG * 3,765,292

186,733



8,6

Rừng kín nhiệt đới lá kim và hỗn loại lá kim lá rộng 77

0,7

R

ng

k
í
n nhi

t
đ

i tre n

a v
à

tre n

a h

n lo

i


100,0
Với điều kiện khí hậu và địa lý của đất nước như vậy đã tạo nên hệ động thực vật
phong phú ước khoảng 12.000 loài cây trong đó có 7.000 loài thực vật cao cấp, 620 loài nấm
và 820 loài tảo. Có 1.186 loài đặc hữu của Việt nam và hơn 823 loài đặc hữu của Đông
Dương. Hệ động vật ở Việt nam cũng là một hệ phong phú của thế giới với 273 loài có vú,
826 loài chim, 180 loài bò sát 80 loài lưỡng cư, khoảng 2.600 loài cá, và hàng ngàn loài giáp
xác và không xương sống. Đặc biệt trong giai đoạn 1992-1997 4 loài mới được phát hiện thì
có 2 loài có vú là mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis) và sao la (Pscudoryx
nghetinhhensis).
15.10.2008

5

Để động viên người dân tham gia bảo vệ rừng và tái tạo rừng chính phủ Việt nam đã
đưa ra một loạt chính sách khuyến khích lâm nghiệp cộng đồng như chính sách giao đất rừng
với quyền sử dụng đất 50 năm, giảm và miễn thuế sử dụng đất, tỷ giá vay tín dụng thấp cho
đầu tư trồng rừng, hỗ trợ kỹ thuật v.v.đã ký hợp đồng với dân về quản lý và bảo vệ rừng.
Thực hiện các chính sách thành công hàng trăm ngàn hộ gia đình đã được giao đất lâm nghiệp
để trồng rừng và cây nông nghiệp, phần lớn diện tích đất trống đồi núi trọc đã xanh lại, cuộc
sống và môi trường của người miền núi đã được cải thiện đáng kể.

Từ năm 1985 thực hiện xã hội hoá ngành lâm nghiệp, các khu rừng không chỉ thuộc sự
quản lý của chính phủ mà thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau,, sự thay đổi về chủ rừng
đã được chỉ rõ trong bảng 3 tại năm 2005.

Bảng 3: Sự phân bố diện tích rừng theo loại chủ rừng năm 2005

1.657
54
285
297
2.871

9,60024.6

11.4

13.5

0.4

2,3

2,4

23,3
78,0

8

Rừng chưa giao

rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp, nhiều lâm trường quốc doanh) nhiều tổ chức phi chính phủ
(Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Công ty tư vấn pháp luật) và
nhiều nhà khoa học, nhà xã hội học, nhà môi trường, nhà hoạt động dân tộc và giới tham
gia. Các tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Việt nam tỏ ra rất nhạy bén trước tiến trình
QLRBV nên đã hợp tác chặt chẽ và hỗ trợ kinh phí, chuyên gia, phương pháp cho NWG hoạt
động, trong đó có WWF, IUCN, FAO, dự án GTZ, quỹ FORD

Trong nhưng năm qua, việc đầu tiên là NWG đã tham gia cùng các nước ASEAN dự
thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV theo 7 tiêu chí của Tổ chức Gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) đồng
15.10.2008

6
thờì dự thào bộ tiêu chuẩn QLRBV cho Việt nam theo 10 nguyên tắc của FSC qua 9 lần hội
thảo quốc gia và các tỉnh. Đến tháng 2/2007 đã nhận được sự đánh giá chính thức và bình
luận từ các tổ chức khác nhau. Đó là các cơ quan nhà nước: Tổng cục đo lường và chất lượng
sản phẩm, Vụ chính sách, Cục kiểm lâm, Viện điều tra quy hoạch rừng, Đại học lâm nghiệp,
Viện khoa học Lâm nghiệp, các Hội nông dân, phụ nữ , hội KHKTLN, Công ty luật, Tổng
công ty lâm nghiệp và nhiều nhà khoa học khác. Một loạt các cuộc hội thảo và truyền thông
được tổ chức tại các vùng mà lâm trường hàng năm còn đang khai thác gỗ trong rừng tự nhiên
như Huế 1999, Vinh 2000, Quy Nhơn 2001, Buôn Ma Thuột 2001, Gia Lai 2002, Hà Nội
2004, từ 2006 SFMI tiep tục tổ các hội thảo và khảo sát tại Trường Sơn, Quảng Bình, Hà Nội
(Đại lải) 2007 nhằm tuyên truyền tiến trình QLRBV và CCR không chỉ đối với các lâm
trường, các công ty, xí nghiệp lâm nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ, mà còn thuyết minh, truyền
thông tới các cấp chính quyền, lãnh đạo tỉnh có rừng, các cơ quan quản lý lâm nghiệp để ủng
hộ và tham gia tiến trình này. NWG cũng đã đưa nội dung QLRBV vào bài giảng tham khảo
tại các lớp cao học của Đại học Lâm nghiệp và một số dự án quốc tế hỗ trợ kỹ thuật và phát
triển lâm nghiệp tại Việt nam như EU Nghệ An, EU Bắc cạn, Cao Bằng, KfW1, KfW3, WB3 Đã tiến hành các cuộc khảo sát nhằm xem xét tính khả thi của bộ tiêu chuẩn quốc gia

quản lý rừng bền vững
Gần đây, hàng loat lâm trường quản lý rừng tự nhiên và trồng rừng sản xuất, rất nhiều
công ty, xý nghiệp chế biến xuất khẩu lâm sản đang có nhu cầu tự thân tham gia quá trình
QLRBV và yêu cầu SFMI hướng dẫn, hỗ trợ, tư vấn để tự đánh giá năng lực quản lý rừng,
15.10.2008

7
năng lực giám sát chuỗi hành trình, song mới chỉ nhận được 1 chúng chỉ FSC về QLR va 150
chứng chỉ CoC.

Các mô hình thử nghiệm dù là QLR tự nhiên hay rừng trồng do chủ rừng tự làm, do
FAO, GTZ, WWF… hỗ tợ được trình bày trong phần 3 là phần CCR. 4- CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC Mặc dù xu hướng chung về môi trường toàn cầu là sử dụng và đánh giá cao vai trò,
chức năng của rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên nhiệt đới trong việc khôi phục môi trường sinh
thái, giảm nhẹ thiên tai về thay đổi khí hậu, sa mạc hoá, tăng nồng độ CO
2
trong không khí,
bảo vệ nguồn nước và cải tạo đất nhưng kinh nghiệm quản lý rừng ở Việt nam cho thấy
nếu khu rừng không gắn được với lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội cho dân sở tại hay cho chính
ông chủ rừng thì sẽ làm giảm động cơ tham gia của cộng đồng địa phương để bảo vệ và phát
triển rừng đồng thời là gánh nặng ngân sách của nhà nước.

Trong khi kim ngạch xuất khẩu hàng lâm sản của Việt nam mới ở mức 250-500 triệu
USD/năm 2004 tăng vọt lên gần 2 tỷ USD năm 2007 thì cuộc cạnh tranh trên thị trường quốc
tế đã rất quyết liệt. Ngoài các nguyên nhân thông thường về giá thành, mẫu mã, chất lượng,

sản đã là cơ sở khoa học công nghệ cho tiến trình QLRBV.
15.10.2008

8

Như vậy giai đoạn 5 năm đầu tiên có thể đánh giá là tốc độ còn chậm, trong khi một số
nước đang phát triển ở châu á, Phi đã đạt được một vài diện tích chứng chỉ như Trung Quốc,
Phillipin, Srilanka. Chúng ta có đủ điều kiện và khả năng đẩy mạnh hơn nữa quá trình này
trong những năm tới, một số chủ rừng và một số khu rừng đang quản lý kinh doanh ở miền
Bắc, miền Trung và Tây Nguyên đã khá gắn với các tiêu chí QLRBV cần được thẩm định
chứng chỉ làm đà cho các doanh nghiệp trong cả nước. Cũng từ kết quả khảo sát rộng rãi
trong cả nước, còn nhiều thách thức phải giải quyết không chỉ về năng lực kinh doanh quản
lý, năng lực tài chính mà quan trọng nhất vẫn là có thể chế chính sách giải pháp rồi thực thi
như thế nào, đầu là hạn chế, là rào cản khác nhau ở từng vùng, từng tỉnh. Đó là:

1. Chính sách về đất đai trong Luật đất đai (1993) và luật sửa đổi bổ sung một số điều của
Luật đất đai (1998, -2000, 2003) quy định doanh nghiệp nhà nước được cấp quyền sử dụng
đất trong kinh doanh. Nhưng trong thực tiễn sản xuất đa số các lâm trường chưa được cấp
quyền này (sổ đỏ), ngoại trừ vài ba lâm trường, công ty như Con Cuông ở Nghệ An, Hương
Sơn ở Hà Tĩnh, đa số vẫn chỉ là quyết định phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật hoặc dự án
đầu tư trong đó có ranh giới diện tích đất đai của Bộ hoặc UBND tỉnh. Các trang trại lâm
nghiệp hoặc hộ gia đình đã có một vài trăm đến một nghìn ha như ông : Nguyên (Nghệ An),
ông Thập (Yên Bái), ông Phúc (Đồng Nai) đều đang chỉ được xem xét hoặc cấp quyền sử
dụng một phần. Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên để QLRBV và xin cấp CCR.

2. Tại vùng Tây nguyên và Đông Nam Bộ, đất và rừng của các lâm trường vẫn còn bị chiếm
dụng, chuyển sang trồng cà phê, hạt tiêu và bị dân di cư tự do xâm canh, ta chưa đủ luật và
chính sách để định cư dân và chấm dứt nạn di cư tự do.

3. Quy trình kỹ thuật lâm sinh về khai thác gỗ và chỉ tiêu (quota) Chính phủ cho phép chặt

nhân sự hợp lý. Ví dụ lâm trường Tân Lập tỉnh Kontum năm 2001 được cấp 12 xuất lương
biên chế sự nghiệp từ nhà nước, bộ máy này không thể bảo vệ và tổ chức kinh doanh 15 nghìn
ha rừng. Trong khi đó các lâm trường, các công ty lâm nghiệp ở miền Bắc đã đổi mới theo
Quyết định 187/TTg như Con Cuông, Hương Sơn, Long đại thì gắn được cả khâu công
nghiệp khai thác, chế biến, vận tải với khâu lâm sinh. Đơn vị tự khai thác gỗ, lâm sản ngoài
gỗ, chế biến gỗ và lâm sản khác tại chỗ, tận dụng được tối đa gỗ cành ngọn, đảm nhiệm nhiều
hoạt động dịch vụ khác cho xã hội nên đem lại nhiều việc làm và thu nhập cho công nhân viên
và cho dân.

Nguyên nhân chính là chủ rừng đã được tự chủ về kế hoạch, về tài chính và chịu trách
nhiệm về kinh tế, xã hội, môi trường, trừ chỉ tiêu khai thác gỗ trong giai đoạn hạn chế nói
trên.

5. Phân chia lợi nhuận của lâm trường quốc doanh ở Tây nguyên cũng không hợp lý, cần có
cơ chế chính sách tôn trọng quyền tự quyết của giám đốc. Cũng theo khảo sát của Smart
Wood do Trường Thành và Tropic Dane tài trợ, thì tại 2 lâm trường Dak N’tao và Madrak,
lâm trường bán gỗ theo chỉ tiêu khai thác 3.000m3 gỗ tròn/năm, được 100.000USD, giữ lại 7-
10% để duy trì bộ máy (tức là 7000- 10.000 USD), còn nộp lại cho Sở NN& PTNT. Hàng
năm Sở NN & PTNT hỗ trợ lại cho lâm trường chi phí mọi hoạt động 20 – 30.000 USD. Tính
ra chỉ có 1 – 1,5 USD/ha rừng, như vậy thấp đến mức không đáng kể về kinh doanh, mà chủ
yếu ăn sẵn của thiên nhiên. Trong khi công ty khai thác chế biến tiêu thụ gỗ bán từ 1 triệu đến
2,5 triệu VND /m3 tuỳ theo chủng loại, thì chỉ phảI thanh toán cho Sở NN &PTNT 0,25 -1,0
triệu VND/m3, cần có sự điều chỉnh để lâm trường đầu tư vào lâm sinh và cơ sở hạ tầng.

6. Chính sách hiện hành về giá cả thị trường ở một số tỉnh Tây nguyên đã tách biệt chủ rừng
với người tiêu thụ mà không có cầu nối, không có cơ chế kích thích phát triển. Lâm trường
làm ra gỗ nhưng lại không hoặc rất ít chế biến tiêu thụ để tăng thu nhập và việc làm cho công
nhân, cho cộng đồng địa phương mà phảI bán cho một công ty do cấp trên ấn định, ít khi được
đấu thầu, mà được đấu thầu thì giá trần cũng do tỉnh quy định. Điều này khiến cho chủ rừng
mất hết động lực tiếp thị kinh doanh.

năm 2000)
2

Dakwin

5335
.
000

RTN

2

220
.
000

(1999)

3 Quảng Sơn 26 24.000 3
4 Dak Ntao 31 15.000 2
15.10.2008

10
5 Con Cuông 70 8.000 12 750.000 (2000)
6 Tân Lập 12 15.500 1,2 Bao cấp (2001)
7 Măng cành 2 17 13.900 4

Tài liệu các đơn vị 5,6,7,8,9,10 do NWG khảo sát

8. Vai trò quan trọng của chính phủ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Mặc dù về nguyên
tắc chủ rừng hoàn toàn tự nguyện tham gia tiến trình QLRBV để đạt được chứng chỉ rừng từ 1
tổ chức quốc tế. Họ không chỉ nhằm hưởng lợi về giá bán gỗ cao và quyền xuất khẩu ra mọi
thị trường, mà còn nhằm đảm bảo vốn rừng ổn định và lãI xuất tăng tiến lâu dài của mình.
Song mọi chính sách quốc gia và mọi sự quản lý về pháp luật lại là của Chính phủ. Nếu không
có sự phối hợp và hỗ trợ từ phía chính phủ, chắc chắn doanh nghiệp sẽ gặp nhiều trở ngại.

Ở Việt Nam rừng và đất rừng chủ yếu thuộc nhà nước quản lý, Chính phủ từ Trung
ương đến địa phương khi hội nhập phong trào QLRBV cần hiểu rõ bản chất và lợi ích của tiến
trình này để đề ra các chính sách và giảI pháp hỗ trợ hiệu quả. Thực chất trong chiến lược
phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001 -2010 của Bộ NN & PTNT thì trong số 6 chương trình
ưu tiên, có chương trình số 2 là phát triển QLRBV. Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp
(FSSP) do 21 đối tác cam kết tài trợ cũng có chương trình số 6 là QLRBV trên 9 khung
chương trình trọng điểm. Song thực tế ngành lâm nghiệp chưa có kế hoạch thực thi các
chương trình này.

Trong khối hợp tác kinh tế ASEAN, 2 nước có doanh số xuất khẩu lâm sản trên dưới 5
tỷ USD/năm thì chính phủ đã tổ chức Viện sinh tháI (LEI) của Indonesia và Hội đồng chứng
chỉ gỗ quốc gia (NTCC) của Malaysia. Về danh nghĩa đây là 2 tổ chức phi chính phủ, song
thực tế nhà nước tài trợ để LEI và NTCC đủ sức đẩy mạnh tiến trình QLRBV đứng đầu trong
các nước ASEAN hiện nay. Hội nghị chính sách và chiến lược ASOF tại Jakarta 4/2004 cũng
quan tâm vai trò chính phủ trong QLRBV.

9. Một số dự án quốc tế đã hỗ trợ hộ nông dân trồng rừng sản xuất như WFP, JICA, KfW,
WB… , tuy mỗi hộ chỉ một đến ba ha nhưng tập trung trong mỗi huyện hàng nghìn ha, và mỗi
tỉnh 5 – 10 ngàn ha. Cần thành lập các hiệp hội nông dân trồng rừng để hỗ trợ nhau dịch vụ
chăm sóc rừng, bảo vệ rừng, thị trường vật tư lâm sản, đồng thời cũng để tiến hành tăng
cường QLRBV và CCR. Mô hình liên kết của ông Đỗ Thập tại Yên BáI là một điển hình tốt,


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ NN-PTNT . 2006 .Cẩm nang ngành lâm nghiệp:
. - Chương Quản lý rừng bền vững ,
- Chương Chứng chỉ rừng .
2. Bộ NN-PTNT. Số liệu kiểm kê rừng toàn quốc. Hà nội 1 / 2006
3. FAO. State of the World Forest, Rome, Italy 2007.
4. Nguyễn Ngọc Lung. 2001 . Chiến lược, chính sách về lâm sinh, lâm trường liên quan
tới QLRBV và trồng 5 triệu ha rừng. Partnership, Taskforce 2.
5. NWG . 1998-2004: Các tài liệu hội thảo và khảo sát thực địa.
6. Phạm Hoài Đức . 2007. Phát triển QLRBV và chứng chỉ rừng . Hội thảo QG lần thứ 9,
Đại LảI, Hà Nội
7. SFMI. 2007 .Dự thảo bộ tiêu chuẩn quốc gia QLRBV, lần thứ 9c.
8. SmartWood.1999. Kết quả khảo sát rừng tại Đăk Lắc (bản tiếng Vịệt, WWF) &

PHỤ LỤC (Từ hộp 1 đến hộp 8):

Hộp 1

QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG (QLRBV) Ở VN
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
***

GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung
Viện QLRBV và CCR

1- Khung cảnh
2- Sự thay đổi của Rừng và Chủ rừng
3- Hoạt động của NWG
4- Cơ hội và thách thức
5- Kết luận
bao
phñ%Ha/
ngê
i
Thay ®æi
(1990-2000)
(1000ha
(%)

Tự nhiên

Trồng

Tổng
1943 14,300

0

14,300

43,0

0,701976 11,077



1990 8,430

745

9,175

27,8

0,141995

8
,
252

1
,
050

9
,
302

28
,
2


19,973

203,887

46,8

0,40

- 2,324 - 1,1
2005 TG * 3,765292

186,733

3,952025 30,3

0,60

- 7,317 - 0,2
+ ĐNA: Đông nam á
+ TG: Thế giới
* Theo: .State of the World’s Forests. FAO., Rome, Italy. 2007
Hộp 4
PHÂN BỐ RỪNG
THEO CÁC HÌNH THÁI CHỦ RỪNG STT


(
C

u chi
ế
n binh,
P
h


n

)3.030

1.406

1.657

54

28
524,6


0
0

2,4

23,3
7
8,0

8 Rừng chưa giao

Tổng cộng
2.707

12,307
22,0
100,0

Nguồn FIPI. 2006
Hộp 5


15.10.2008

15 Hộp 7
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC B- THÁCH THỨC

 Đề án giảm khai thác rừng tự nhiên
 Đổi mới lâm trường quốc doanh
 Xã hội hoá ngành lâm nghiệp
 Xoá đói giảm nghèo

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

B- THÁCH THỨC (TIẾP THEO)

 Các tiêu chí về:
Kinh tế
Môi trường
Xã hội

 Vai trò của nhà nước trong QLRBV

Hộp 10
Những chỉ tiêu Smart Wood quan tâm

Thứ
tự
Đơn vị (lâm trường
hoặc công ty)
Số
người
Diện tích rừng
(ha)
Mật độ
đường
(1m/ha)

Lương tháng


5 Con Cuông 70 8.000 12 750.000 (2000)
6

T
â
n L

p

1215.500

1,2

Bao c

p (2001)

7 Măng cành 2 17 13.900 4
8

Long
Đ



Hộp 11
15.10.2008

17

KẾT LUẬN

 Cơ hội (xem hộp 6)
 Các thách thức (xem hộp 7,8,9,10) Cám ơn sự chú ý của các quý vị !

CÂU HỏI
1. Theo bạn, bản chất của QLRBV là gi ?
2. Phương án điều chế rừng có gì quan trọng, cần như thế thế nào ?
3. Vai trò nhà nước trong QLRBV
4. QLRBV và CCR có liên quan gì ? , có cần phảI cùng tiến hành ?
5. Thực hiện QLRBV có lợi gì ? cho ai ?
6. Tiêu chuẩn QLRBV Việt Nam khác gì với tiêu chuẩn FSC Q.tế ?


Từ xa xưa, rừng tự nhiên đã che phủ phần lớn diện tích mặt đất của trái đất, nhưng do
những tác động của con người như khai thác lâm sản, khai phá lấy đất làm nông nghiệp, xây
dựng, đô thị hoá v.v. nên diện tích rừng tự nhiên đã bị giảm đi đáng kể. Chỉ tính riêng trong
giai đoạn 1990-1995, ở các nước đang phát triển, đã có hơn 65 triệu ha rừng bị mất. Tính đến
năm 2000 diện tích rừng của toàn thế giới, kể cả rừng tự nhiên và rừng trồng, chỉ còn
3.869,455 triệu ha (FAO 2003), tỷ lệ che phủ chỉ chiếm 29,6 % lãnh thổ.
Ở Việt Nam năm 1943 diện tích rừng còn khoảng 14,3 triệu ha, tỷ lệ che phủ 43%.
Đến hết năm 2005 tổng diện tích rừng của cả nước là 12,62 triệu ha, trong đó hiện có 10,28
triệu ha rừng tự nhiên và 2,34 triệu ha rừng trồng. Rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở Tây
Nguyên và khu vực miền Trung. Trong rừng sản xuất là rừng tự nhiên chỉ có 9% là rừng giàu
(trữ lượng trên 150 m
3
/ha), 33% là rừng trung bình (80-150 m
3
/ha), còn lại là rừng nghèo kiệt
và rừng non (dưới 80 m
3
/ha).

Cùng với việc mất rừng tự nhiên, môi trường sống của nhiều loài động thực vật rừng
cũng biến mất hoặc bị thoái hoá nghiêm trọng và đây chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho
nhiều loài sinh vật rừng đã biến mất hoặc đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, đa dạng sinh học
đang bị suy giảm nhanh chóng.

Thực tế đã chứng tỏ nếu chỉ có các biện pháp truyền thống như luật pháp, chương
trình, công ước v.v thì khó có thể bảo vệ được số diện tích rừng tự nhiên còn lại của nhân loại,
nhất là rừng nhiệt đới tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển. Một trong những biện
pháp quan trọng hiện nay, được cả cộng đồng quốc tế cũng như từng quốc gia đặc biệt quan
tâm là cùng với những giải pháp truyền thống trên, cần phải thiết lập quản lý rừng bền vững

gồm một bộ cho rừng tự nhiên và một bộ cho rừng trồng.

Hiện nay "Những Tiêu chuẩn và Những Tiêu chí Quản Lý Rừng" (viết tắt là P&C) của
FSC quốc tế đã được công nhận và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều tổ chức được
FSC uỷ quyền cấp chứng chỉ rừng và nhiều quốc gia đã và đang dùng bộ tiêu chuẩn này để
xây dựng tiêu chuẩn cấp vùng hay cấp quốc gia cho việc đánh giá quản lý và cấp chứng chỉ
rừng. Tài liệu "Tiêu Chuẩn quốc gia về Quản Lý Rừng Bền Vững" (Tiêu chuẩn FSC Việt
Nam) được Tổ Công Tác quốc gia Việt Nam về quản lý rừng bền vững (NWG) biên soạn trên
cơ sở Bộ tiêu chuẩn của FSC quốc tế (P&C), có sử dụng những ý kiến đóng góp của nhiều
nhà quản lý và kinh doanh lâm nghiệp trong nước và quốc tế để vừa đảm bảo được những tiêu
chuẩn quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam.

Vì tài liệu áp dụng cho cả nước và phải phù hợp với những tiêu chuẩn của quốc tế nên
khó có thể hoàn toàn phù hợp với từng trường hợp riêng biệt, cho nên việc áp dụng bộ tiêu
chuẩn quốc gia cần có sự linh hoạt trong phạm vi nhất định nhưng phải được Tổ công tác FSC
quốc gia (nay là Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng) chấp nhận. Những chủ rừng
đạt Tiêu chuẩn FSC Việt Nam đều có thể gửi đơn xin chứng chỉ rừng tới các tổ chức cấp
chứng chỉ do FSC uỷ quyền. Quá trình áp dụng sẽ thu được thêm những kinh nghiệm để hoàn
thiện bộ tiêu chuẩn này cho phù hợp với thực tế. Nguyên tắc áp dụng

Tài liệu này áp dụng trong điều kiện Việt Nam trên cơ sở những nguyên tắc dưới đây:

1. Chứng chỉ được thực hiện trên cơ sở các chủ rừng tự nguyện đề nghị cơ quan chứng
chỉ rừng đánh giá cấp chứng chỉ. Tiêu chuẩn FSC Việt Nam được áp dụng để cấp
chứng chỉ rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng trồng.
2. Sau khi được FSC công nhận, Tiêu chuẩn FSC Việt Nam được tất cả những tổ chức sử
dụng khi đánh giá cấp chứng chỉ rừng ở Việt Nam.
Tiêu chuẩn 1: Tuân theo pháp luật và Tiêu chuẩn FSC Việt Nam
Chủ rừng tuân theo pháp luật, những quy định hiện hành khác của Nhà
nước và những thoả thuận quốc tế mà Nhà nước đã ký kết, đồng thời tuân
theo tất cả những tiêu chuẩn và Tiêu chí của Tiêu chuẩn FSC Việt Nam.

1.1 Chủ rừng tuân theo pháp luật hiện hành của Nhà nước và địa phương.
1.1.1 Chủ rừng lưu giữ các văn bản pháp luật, những quy định của chính quyền và cộng
đồng thôn bản có liên quan đến quản lý rừng:
a. Luật Bảo vệ và phát triển rừng;
b. Luật Đất đai;
c. Luật Bảo vệ môi trường;
d. Luật Lao động;
e. Luật Phòng cháy chữa cháy;
f. Chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia;
g. Pháp lệnh Giống cây trồng;
h. Các văn bản pháp luật liên quan khác;
i. Các quy ước bảo vệ và phát triển rừng của thôn bản trên địa bàn.
1.1.2 Tất cả cán bộ, công nhân và người lao động của đơn vị nắm được nội dung những văn
bản chính có liên quan đến chức trách và nhiệm vụ của mình. Lưu trữ tài liệu tập huấn
và văn bản đã phổ biến tại đơn vị.
1.1.3 Không có vụ việc vi phạm bị UBND từ cấp huyện trở lên xử lý bằng pháp luật trong 3
năm gần đây.

1.2 Nộp đầy đủ các khoản phí, thuế, tiền thuê đất và các khoản phải nộp hợp pháp khác.
1.2.1 Có danh mục về thuế, phí, lệ phí, và các khoản đóng góp hợp pháp khác (khoản mà
đơn vị phải nộp vào ngân sách Nhà nước).
1.2.2 Có đầy đủ chứng từ của cơ quan thuế và tài chính về các khoản thuế, phí và lệ phí phải
nộp của đơn vị trong 3 năm gần đây được lưu giữ tại đơn vị.

1.6.3 Các quy định và kế hoạch quản lý rừng của đơn vị phải phù hợp với Tiêu chuẩn FSC
Việt Nam. Tiêu chuẩn 2: Quyền và trách nhiệm sử dụng đất
Quyền và trách nhiệm sử dụng lâu dài đất và tài nguyên rừng được xác lập rõ
ràng, tài liệu hoá và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

2.1 Có bằng chứng rõ ràng về quyền sử dụng lâu dài đối với đất (nghĩa là tên thửa đất,
những quyền theo phong tục, hoặc các hợp đồng thuê đất).
2.1.1 Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp.
Trong trường hợp chưa được cấp thì phải có một trong những văn bản do cơ quan có
thẩm quyền phê duyệt sau đây:
a) Quyết định giao đất, giao rừng;
b) Hợp đồng thuê đất, thuê rừng có căn cứ pháp lý;
c) Hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp.
2.1.2 Ranh giới đất lâm nghiệp được giao, khoán và thuê được xác định rõ trên bản đồ theo
tỷ lệ phù hợp và được xác định trên thực địa bằng các dấu hiệu dễ nhận biết và bền
vững như: mốc giới, bảng, đường ranh giới tự nhiên hoặc nhân tạo, được chính quyền
địa phương và các chủ rừng có chung ranh giới thừa nhận bằng văn bản.

2.2 Cộng đồng địa phương, với những quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp hoặc theo
phong tục, sẽ duy trì việc quản lý các hoạt động lâm nghiệp, ở mức độ cần thiết, để bảo
vệ những quyền lợi hoặc tài nguyên của mình, trừ khi họ uỷ quyền cho những tổ chức
khác một cách tự nguyện.
2.2.1 Những khu hoặc đám rừng thuộc quyền quản lý của cộng đồng địa phương như rừng
thiêng, rừng ma, rừng nguồn nước (được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay
quản lý theo phong tục) nằm xen kẽ trong đất của chủ rừng phải được khoanh vẽ rõ
trên bản đồ và có ranh giới ngoài thực địa.
2.2.2 Chủ rừng có cam kết bằng văn bản tôn trọng quyền quản lý các khu rừng nói trên của

3.2 Việc sản xuất kinh doanh rừng không tác động xấu hoặc làm giảm, trực tiếp hoặc
gián tiếp, đến quyền sử dụng đất và sở hữu tài nguyên của người dân sở tại .
3.2.1 Chủ rừng thảo luận với người dân sở tại để xây dựng và thực hiện thoả thuận hợp tác
trong việc quản lý và bảo vệ rừng, quyền sử dụng đất và sở hữu các nguồn tài nguyên
rừng khác của cả hai bên. Quy ước này được các bên thông qua, tôn trọng và thực
hiện.
3.2.2 Việc sản xuất kinh doanh rừng của chủ rừng nếu có tác động xấu hoặc làm giảm, trực
tiếp hoặc gián tiếp, đến quyền sử dụng đất và sở hữu rừng của người dân sở tại thì phải
được bàn bạc thống nhất giữa hai bên. Khi chủ rừng gây thiệt hại đến những quyền lợi
trên của người dân sở tại thì chủ rừng phải đền bù thoả đáng.

3.3 Những nơi có ý nghĩa đặc biệt về văn hoá, sinh thái, kinh tế, hoặc tôn giáo đối với dân
sở tại sẽ được xác định rõ ràng với sự hợp tác của họ, và được công nhận và bảo vệ
bởi những người quản lý rừng.
3.3.1 Những địa danh có ý nghĩa về văn hoá, lịch sử, sinh thái, kinh tế, tôn giáo, tín ngưỡng
đối với người dân sở tại được xác định rõ ràng trên bản đồ và trên thực địa, có biển
hiệu và quy ước bảo vệ những địa danh đó và có sự nhất trí của người dân sở tại .
3.3.2 Chủ rừng không xâm phạm hoặc sử dụng sai quy ước bảo vệ các khu rừng nói trên và
được cộng đồng địa phương ghi nhận.

3.4 Người dân sở tại được chi trả cho việc áp dụng những kiến thức truyền thống của họ
đồi với việc sử dụng các loài cây rừng hoặc các hệ thống quản lý rừng. Sự chi trả này
phải được dân sở tại tự nguyện, nhất trí chính thức trước khi những hoạt động lâm
nghiệp bắt đầu.
3.4.1 Chủ rừng lập danh mục các kiến thức truyền thống của người dân sở tại với sự tham
gia tự nguyện của họ (kể cả những kiến thức chưa được Nhà nước công nhận).
3.4.2 Chủ rừng thoả thuận bằng văn bản với người dân sở tại về việc sử dụng những kiến
thức truyền thống trong danh mục đã lập trên, và cơ chế chi trả cho người dân nếu các
kiến thức này được sử dụng cho mục đích thương mại. Có chứng từ tài chính thể hiện
việc đã chi trả.

4.2.2 Chủ rừng cập nhật đầy đủ thông tin và phổ biến cho người lao động các quy định hiện
hành của Nhà nước về an toàn lao động và bảo vệ sức khoẻ của người lao động lâm
nghiệp.
4.2.3 Chủ rừng cung cấp đầy đủ trang thiết bị an toàn lao động kèm theo quy trình vận hành
cho người lao động.
4.2.4 Chủ rừng xác định các khu vực dễ xảy ra tai nạn lao động và có các biện pháp phòng
ngừa; hướng dẫn bảo quản và sử dụng các loại vật tư, trang thiết bị dễ gây tai nạn.

4.3. Công nhân được đảm bảo quyền đề đạt ý kiến và thương thảo tự nguyện với người sử
dụng lao động như đã ghi trong Công ước 87 và 98 của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế
(ILO).
4.3.1 Các Công ước 87 và 98 của ILO được lưu trữ và phổ biến cho công nhân trong đơn vị.
4.3.2 Chủ rừng xây dựng và thực hiện đầy đủ các quy định về dân chủ ở cơ sở, lấy ý kiến
của công nhân về những vấn đề có liên quan đến đời sống và việc làm của họ và phát
huy sáng kiến nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng rừng và đất lâm nghiệp.

4.4 Kế hoạch quản lý và thực thi phải bao gồm những kết quả đánh giá về mặt tác động
xã hội. Việc tham khảo ý kiến của người dân và những nhóm người chịu tác động
trực tiếp của hoạt động quản lý rừng phải được duy trì.
4.4.1 Tuỳ theo cường độ và quy mô kinh doanh, định kỳ 3-5 năm phải có đánh giá tác động
xã hội về hoạt động của đơn vị. Trường hợp đột xuất phải có đánh giá và xử lý kịp
thời.
4.4.2 Các kết quả đánh giá tác động xã hội của quản lý rừng được phổ biến đến người dân
và các nhóm người trực tiếp chịu ảnh hưởng của các tác động ấy; và được sử dụng
trong việc xây dựng và điều chỉnh kế hoạch quản lý rừng.
4.4.3 Hàng năm chủ rừng tổ chức các cuộc họp để tham khảo ý kiến của nhân dân và nhóm
người chịu tác động trực tiếp của các hoạt động quản lý rừng của đơn vị.
4.4.4 Kế hoạch của đơn vị được xây dựng không mâu thuẫn với kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội của địa phương.



5.2 Quản lý rừng và các hoạt động tiếp thị có tác dụng khuyến khích sử dụng và chế biến
tối ưu tại địa phương những sản phẩm đa dạng của rừng.
5.2.1 Có bằng chứng rõ ràng rằng chủ rừng đã có nỗ lực tối ưu hoá sản xuất, xây dựng cơ sở
chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ tại chỗ.
5.2.2 Chủ rừng có danh mục các sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ do đơn vị chế biến trong
3 năm gần đây.
5.2.3 Chủ rừng có hoạt động tiếp thị cho các sản phẩm và dịch vụ.

5.3 Quản lý rừng hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất, phế thải trong quá trình
khai thác, chế biến tại chỗ và tránh gây tổn hại cho những nguồn tài nguyên khác của
rừng.
5.3.1 Thiết kế khai thác và quy trình chế biến có áp dụng các biện pháp kỹ thuật và công
nghệ giảm thiểu tỷ lệ tổn thất và phế thải. Chủ rừng áp dụng hướng dẫn “Khai thác
giảm thiểu tác động”.
5.3.2 Có biên bản nghiệm thu đánh giá rừng sau khai thác chậm nhất sau 3 tháng. Các
khuyết điểm và khuyến nghị khắc phục ghi trong biên bản được xử lý trong thời hạn 6
tháng kể từ ngày ký biên bản nghiệm thu.
5.3.3 Có hệ thống đường vận xuất, vận chuyển, bãi gỗ phù hợp với thiết kế khai thác và
giảm thiểu tác động xấu của khai thác đến môi trường.
5.3.4 Có bằng chứng sử dụng các thiết bị khai thác, vận xuất phù hợp với điều kiện sản xuất
ít gây tổn hại đến rừng. Có cán bộ kỹ thuật thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra việc
khai thác, phương tiện vận chuyển bảo đảm quy trình kỹ thuật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status