1
TIỂU LUẬN
TRANH CHẤP VỀ PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI THỀM LỤC ĐỊA
BIỂN BẮC GIỮA BA NƯỚC ĐỨC, ĐAN MẠCH, HÀ LAN Nhóm thực hiện:
PHẠM HIỀN TRANG H33
NGUYỄN HỒNG VÂN H33
LÊ THỊ HẢI NINH H33
NGUYỄN MẠNH CẦM D32
2
3
4 5
28/10-1/11/1968
Ngày 4,5,7,8,11/11/1968
3) Lập luận của Đức
Đức cho rằng các quốc gia ven biển có lợi thế về vị trí địa lý luôn mở rộng chủ quyền của mình
để khai thác các nguồn tài nguyên cho nên khi các quốc gia có cùng chủ quyền trên một vùng
biển thì nguyên tắc phân chia công bằng và xác đáng nên được áp dụng là lẽ dĩ nhiên và là một
nguyên tắc cơ bản trong tất cả các hệ thống luật, kể cả luật quốc tế mà không quốc gia nào có
thể chối bỏ hiệu lực của nó.
Đức chỉ ra rằng có rất nhiều thực tiễn quốc gia từ năm 1945 cho thấy rõ việc áp dụng
nguyên tắc đó, một vài ví dụ cụ thể như sau:
28/9/1945, trong tuyên bố của tổng thống Mỹ Truman về thềm lục địa của các quốc gia
ven biển có đoạn
19/5/1949, quốc hội Iran đã đệ trình bản dự luật trong đó điều 2 có đoạn
5/6/1949, các quốc gia ven biển kề nhau Barhrein Qatar Kuwait Abu Dhabi… đã tuyên
bố phương thức phân định chủ quyền thềm lục địa của các nước đó theo nguyên tắc:
7
Từ năm 1951, các thành viên trong ủy ban luật quốc tế cũng đã bàn luận về vấn đề này và
rất nhiều chuyên gia luật nổi tiếng đồng ý với nguyên tắc này, cụ thể như: Năm 1958 trong khi tranh luận về việc soạn thảo công ước luật biển, cũng có rất nhiều
quan điểm tương tự:
không có thoả thuận chung, và trừ trong trường hợp đặc biệt, đường biên giới sẽ được áp dụng
bằng nguyên tắc đường trung tuyến, từ điểm gần nhất của đường cơ sở, mà theo đó, bề rộng
lãnh hải của quốc gia đựơc xác định.
Đức cho rằng việc Hà Lan và Đan Mạch phân định thềm lục địa theo nguyên tắc đường trung
tuyến theo “Article 6 of the Convention on the Continental
Shelf of 29 April 1958, as well as in the Articles 12 and 24 of the Convention on
the Territorial Sea and the Contiguous Zone, and in Article 7 of the Convention
in Fishing” là có thể chấp nhận được nhưng với điều kiện là nó phải phân định một cách công
bằng và xác đáng.
Qua đó có thể thấy rằng việc vẽ và xác định đường trung tuyến không tuân theo một nguyên tắc
nhất định nào như việc kẻ thẳng nó như Hà Lan và Đan Mạch thực hiện mà đều dựa trên
nguyên tắc phân chia công bằng và xác đáng giữa các bên có chủ quyền.
Đồng thời điều 6 công ước thềm lục địa không thể được coi là cấu thành nên một tập quán quốc
tế, trong khi còn có nhiều quốc gia cũng đã phản bác nó, như vậy yếu tố thực tiễn quốc gia là
không đủ để cấu thành nên tập quán quốc tế theo điều 6 nêu trên. Phương pháp đường trung
tuyến theo điều 6 chỉ là một phương pháp phân định, không mang tính ràng buộc các bên bắt
buộc áp dụng và điều này trên thực tế đã được chứng minh rằng không có bất kỳ một văn bản
pháp lý nào chỉ ra phạm vi áp dụng của điều 6 hay coi đây là phương pháp ưu tiên và bắt buộc
áp dụng để phân định thềm lục địa. Hơn nữa theo điều 6 khoản 2, với địa hình đặc biệt của quốc
gia ven biển thì điều này chắc chắn cũng không thể được áp dụng. Và bởi nó không đảm bảo
được rằng nó là phương pháp thích hợp để phân định và tạo ra một sự phân chia công bằng và
xác đáng.
*) The Polar sector theory- nguyên tắc hình quạt
Nguyên tắc hình quạt được nghị sĩ người Canada Pascal Poirier đưa ra 20/2/1907 phân định chủ
quyền của các quốc gia như Anh, Canada, New Zealand, Pháp, Nga, Nauy đồng ý đối với vùng
biển Arctic cụ thể như sau:
Đại diện của CHLB Đức tại phiên tòa 5/11/1968 mong quý tòa công nhận và tuyên
bố:
1. Sự phân định thềm lục địa Biển Bắc giữa các bên được điều chỉnh bởi quy tắc cho phép
mỗi quốc gia có bờ biển sẽ được phân chia một cách công bằng và xác đáng.
2.(a) Phương pháp phân chia ranh giới thềm lục địa theo đó mỗi điểm trên ranh giới có khoảng
cách bằng nhau tới các điểm gần nhất của đường cơ sở mà bề rộng lãnh hải của mỗi quốc gia
được tính toán (phương pháp đường trung tuyến) không phải là tập quán luật quốc tế.
(b) Quy định tại câu thứ 2 đoạn 2 điều 6 của Công ước thềm lục địa, quy định rằng khi
không có sự nhất trí, và trừ phi một ranh giới có địa hình đặc biệt, ranh giới đó sẽ được xác
định theo nguyên tắc đường trung tuyến chưa trở thành tập quán luật quốc tế.
(c) Ngay cả khi quy định tại (b) có thể được áp dụng giữa các bên, các địa hình đặc biệt theo
nghĩa của quy định này sẽ loại trừ khả năng áp dụng phương pháp đường trung tuyến trong
trường hợp này
3. (a) Phương pháp đường trung tuyến không thể sử dụng để phân định thềm lục địa trừ khi
phương pháp đó đã được công nhận qua thỏa thuận, án lệ rằng phương pháp này sẽ đạt được
mục tiêu phân chia thềm lục địa một cách công bằng và xác đáng giữa các quốc gia có liên quan.
(b) Về việc phân định thềm lục địa Biển Bắc giữa các bên, Vương quốc Đan Mạch và
Vương quốc Hà Lan không thể dựa vào việc áp dụng phương pháp đường trung tuyến, vì nó
không mang lại kết quả phân chia công bằng.
4. Do đó, việc phân định thềm lục địa Biển Bắc giữa các bên là một vấn đề cần phải được giải
quyết bằng thỏa thuận. Thỏa thuận này phải phân chia phần thềm lục địa cho các bên một cách
công bằng và xác đáng dựa trên những yếu tố có liên quan đến hoàn cảnh địa lý của biển Bắc
4) Lập luận của Đan Mạch và Hà Lan
13
- Đức chịu sự ràng buộc của công ước Geneve 1958, và điều 6 của công ước này
Điều 6 của GC quy định mọi thành viên công ước phải tuân thủ theo ngtắc đường trung
tuyến để phân chia thềm lục địa giữa các bên trừ các TH đặc biệt (special circumstance)
- Trường hợp bờ biển của Đức không thể là một trường hợp đặc biệt
- Ngay cả khi không chịu sự ràng buộc về GC 1958, Đức vẫn phải tuân theo nguyên tắc đường
Mong tòa công nhận và tuyên bố:
1. Hai special agreement liên quan đã được kí kết giữa CHLB Đức và Vương Quốc
Đan Mạch; giữa CHLB Đức và Vương quốc Hà Lan, các bên đã đề trình lên toà án
những sự khác biệt chính liên quan đến “phân định vùng thềm lục địa biển Bắc
giữa các bên” với trường hợp đặc biệt các vùng đó, tình hình của những vùng tiếp
giáp bờ biển, mà đã có những thoả thuận đặc biệt phân định thềm lục địa giữa
CHLB Đức và Đan Mạch 9/6/1965; CHLB Đức và Hà Lan 1/12/1964.
2. theo sự phân định thềm lục địa vùng nằm ngoài và tới hướng biển bị ảnh hưởng đó
bởi các đường giới hạn do dó đã được thiết lập. Các bên không đề nghị toà hoạch
định các đường biên giới tương lai này mà yêu cầu toà án chỉ ra những qui tắc và
qui phạm nào của Luật quốc tế sẽ được áp dụng trong trường hợp này. Các bên sẽ
tự hoạch định trên cơ sở phán quyết của Toà.
V) PHÁN QUYẾT CỦA TÒA
Phán quyết của tòa được thông qua với 16 phiếu thuận và 6 phiến trống với nội dung chủ yếu
như sau:
1. Học thuyết “phân chia theo tỉ lệ đường bờ biển” là không hợp lý.
2. Công ước Geneve 1958 không có tính ràng buộc về mặt pháp lý đối với cộng hòa liên
bang Đức
3. Quy tắc đường trung tuyến không phải là nguyên tắc sẵn có trong hệ thống học thuyết cơ
bản về thềm lục địa
4. Nguyên tắc đường trung tuyến không phải là nguyên tắc của luật tập quán quốc tế.
5. Cách giải quyết của tòa, các nguyên tắc nên được áp dụng
Để trả lời cho câu hỏi mà cô đặt ra : Những điều kiện để 1 thực tiễn trỏ thành 1 tập quán. Nhóm
sẽ đi vào phân tích phán quyết thứ 4 của tòa.
Theo báo cáo ngày 20/2/1969 ICJ:
73) Đối với những nhân tố khác thường được xem là cần thiết trước khi cân nhắc 1 quy định
quy ước để trở hành quy phạm chung của luật quốc tế, có thể thậm chí không cần phải trải qua
15
khoảng thời gian nào đáng kể, mà chỉ cần sự đại diện tham gia công ước rộng khắp là đủ, với
79) Sau cùng có vẻ như trong hầu hết các vụ được trích dẫn thì sự phân định có liên quan đều
là phân định thềm lục địa nằm giữa 2 quốc gia chứ không phải ở bên sườn các quốc gia gần kề.
Tòa án chỉ đơn giản cho rằng chúng không đủ thuyết phục để coi là bằng chứng cho 1 thực tiễn
ổn định thể hiện trong những hoàn cảnh mà tòa đang xem xét, theo đó nguyên tắc đường cách
đều là 1 nguyên tắc băt buộc của luật tập quán quốc tế, đặc biệt trong trường hợp có liên quan
đến sự phân định giữa các quốc gia liền kề
81) Vì vật tòa kết luận rằng nếu công ước Giơnevơ không tuyên bố ngyên tắc đường cách
đều là nguyên tắc bắt buộc để phân định thềm lục địa giữa các quốc gia liền kề trong luật tập
quán quốc tế thì công ước đó không có hiệu quả pháp lý hình thành 1 quy phạm như vậy, cũng
như thực tiễn quốc gia cho đến nay chưa đủ để có kết luận
83) Vì vậy các bên quốc gia không có nghĩa vụ phải áp dụng cả công ước 1958 vốn không
đối lập với luật của cộng hòa liên bang lẫn biện pháp phân định lấy đường trung tuyến làm mốc
như là 1 quy phạm bắt buộc của luật tập quán.
Nói tóm lại, thực tiễn chung của các quốc gia nên được công nhận là có bằng chúng prima
facie có thể chấp nhận là luật. Dĩ nhiên bằng chứng này còn phải được bàn luận thậm chí kiểm
tra chính bản thân thực tiễn ấy, nếu nó chứng to sự không chắc chắn và mâu thuẫn. Ngoài ra có
thể có tranh cãi về việc kiểm tra opinio juris đối với các quốc gia đang được nói đến hay chỉ các
bên của 1 vụ nào đó mà thôi
VI) KẾT LUẬN
Tập quán quốc tế được tạo nên bởi thực tiễn quốc gia. Xét về mặt số lượng của thực tiễn cần
thiết để tạo nên 1 quy phạm tập quán thì số lượng các quốc gia tham gia hoạt động thực tiễn
quan trọng hơn hậu quả hoặc thời lượng của các hoạt động thực tiễn đó. Tình trạng không thống
nhất phổ biến trong thực tiễn quốc gia sẽ ngăn cản hình thành một quy phạm tập quán. Một
quốc gia sẽ không bi ràng buộc bởi một quy phạm tập quán nếu quốc gia đó liên tục phản đối
quy phạm ấy ngay từ khi bắt đầu hình thành.