Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm H1-1
A. LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta có bờ biển dài 3.260 km và diện tích các vùng biển thuộc chủ quyền,
quyền chủ quyền rộng hơn 1 triệu km
2
. Vùng biển nước ta có vị trí quan trọng về an ninh
- quốc phòng và nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển. Trong năm nay,
biển, đảo và đặc biệt vấn đề phân định các vùng biển thuộc chủ quyền giữa Việt Nam với
các nước đã trở thành chủ đề được quan tâm ở trong nước, nhất là khi tình hình biển
Đông đang “nóng lên” trước các hoạt động ngày càng mạnh bạo của hải quân Trung
Quốc.
Vậy, vấn đề phân định này đã được giải quyết như thế nào? Còn tồn tại vấn đề gì?
Bài viết sau của em sẽ tập trung nghiên cứu những nội dung quan trọng này.
B. NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN
1. Các khái niệm
1.1. Chủ quyền quốc gia: Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị, pháp lý của
quốc gia bao gồm hai nội dung là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ chủa
mình và quyền độc lập của quốc gia khi tham gia vào quan hệ quốc tế. Lãnh thổ quốc gia
được giới hạn bởi đường biên giới quốc gia.
1.2. Chủ quyền trên biển của quốc gia: Chủ quyền trên biển là quyền tối cao của
quốc gia đối với vùng biển nằm bên trong đường biên giới quốc gia trên biển bao gồm
vùng nội thủy và vùng lãnh hải. Đường biên giới quốc gia trên biển được xác định là
đường ranh giới phía ngoài của lãnh hải mà mỗi điểm ở trên đường đó cách điểm gần
nhất của đường cơ sở một khoảng cách bằng chiều rộng lãnh hải. Đường biên giới quốc
gia trên biển của nước CHXHCN Việt Nam được xác định là đường ranh giới phía ngoài
của lãnh hải mà mỗi điểm ở trên đường đó cách điểm gần nhất của đường cơ sở một
khoảng cách bằng 12 hải lý.
1.3. Phân định biển: Phân định biển được hiểu là quá trình hoạch định đường ranh
giới phân chia các vùng biển giữa hai hay nhiều quốc gia hữu quan. Vấn đề phân định
biển được đặt ra cho các quốc gia có các vùng biển tiếp liền hoặc đối diện nhau. Việc
điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của các quốc gia.
Bài tập học kỳ - môn Công pháp Quốc tế
2
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm H1-1
Phương pháp này thường được áp dụng để phân định lãnh hải. Tuy nhiên, để áp dụng nó,
các quốc gia phải xem xét một cách thích đáng đến những hoàn cảnh cụ thể để đạt được
một kết quả công bằng.
3.2. Phương pháp công bằng: theo phương pháp này, trong quá trình phân định
biển các bên hữu quan cần phải xem xét, cân nhắc các yếu tố cụ thể như: hình dạng bờ
biển, đảo, hàng hải...để từ đó tìm ra được những giải pháp công bằng được các bên công
nhận. Các giải pháp đó đương nhiên mang tính đặc thù và thích ứng với từng trường hợp
phân định cụ thể.
II. THỰC TIỄN PHÂN ĐỊNH CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN GIỮA
VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC
Từ năm 1977, sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc, Việt Nam bắt đầu tham
gia Hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốc về Luật biển. Việt Nam cũng là một trong 130
nước bỏ phiếu thông qua và sau đó cùng 118 nước khác ký Công ước Luật biển 1982 vào
tháng 12/1982 tại Montego Bay. Ngày 23/6/1994 Quốc hội Việt Nam đã chính thức phê
chuẩn và trở thành thành viên thứ 63 của Công ước. Chính phủ Việt Nam đã ra Tuyên bố
ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Ngày
12/11/1982, Chính phủ ta cũng ra Tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh
hải.
Với chủ trương nhất quán là giải quyết mọi tranh chấp về chủ quyền biển với các
nước bằng thương lượng và hòa bình, Việt Nam đã và đang giải quyết được một số vấn
đề sau:
1. Với Campuchia
Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có vùng biển kế cận nhau. Giữa bờ
biển Việt Nam và Campuchia có trên 150 hòn đảo lớn và nhỏ. Trong lịch sử, hai bên có
vấn đề tranh chấp chủ quyền một số đảo ven bờ và chưa tiến hành đàm phán phân định
ranh giới lãnh hải. Phân định biển Việt Nam - Campuchia là một quá trình khó khăn và
Trong phán quyết về vụ án “Ngư trường của Nauy” năm 1951, Toà án quốc tế đã đưa ra
định nghĩa “vùng nước lịch sử là vùng nước mà người ta coi là nội thuỷ, trong lúc vùng
nước đó nếu thiếu một danh nghĩa lịch sử thì không có tính chất nội thuỷ đó”.
Bài tập học kỳ - môn Công pháp Quốc tế
4
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm H1-1
Danh nghĩa lịch sử của vùng nước này được dựa trên các điều kiện sau:
- Điều kiện địa lý đặc biệt của vùng nước đòi hỏi phải có một chế độ pháp lý đặc
biệt;
- Lịch sử chiếm hữu, sử dụng, khai thác lâu dài và liên tục;
- Vùng nước có ý nghĩa đặc biệt về chiến lược, an ninh quốc phòng, kinh tế đối với
quốc gia ven biển.
Từ thực tiễn quốc tế trên chúng ta thấy rất rõ ràng rằng vùng nước nằm giữa các
quần đảo Thổ Chu và đảo Phú Quốc của Việt Nam và đảo Wai và bờ biển của
Campuchia có đủ điều kiện là vùng nước lịch sử chung giữa hai nước vì:
- Về mặt địa lý: Vùng nước này là vùng biển nông với độ sâu phía ngoài quần đảo
Thổ Chu và Wai khoảng 40 m, phía trong có độ sâu trung bình khoảng từ 20 đến 30 m.
Vùng biển này hoàn toàn được các đảo và bờ biển của hai nước bao bọc. Vùng biển này
gắn liền với bờ biển và là một bộ phận hữu cơ của phần đất liền hai nước Việt Nam và
Campuchia. Mặt khác, vùng biển này cũng chịu tác động mạnh của sự biến đổi không
ngừng của bờ biển cực kỳ không ổn định, khiến cho địa hình vùng biển cũng luôn thay
đổi theo thời gian.
- Về mặt lịch sử: Toàn bộ vùng biển và các hải đảo trong khu vực đã thuộc về hai
nước từ lâu đời. Nhân dân hai nước đã quản lý, khai thác sử dụng vùng nước này một
cách liên tục.
- Về mặt chiến lược, an ninh quốc phòng, kinh tế: Vùng biển này có ý nghĩa hết
sức quan trọng về an ninh quốc phòng và kinh tế đối với nhân dân hai nước trong suốt
lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm và xây dựng đất nước.
Hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia có ý nghĩa hết sức quan
trọng là đã giải quyết được vấn đề chủ quyền các đảo giữa hai nước tạo cơ sở pháp lý để