A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, nền kinh tế thị
trường nước ta cũng có những chuyển biến rõ rệt, hoạt động thương mại
ngày càng phát triển, số lượng giao dịch thông qua hợp đồng trong lĩnh vực
thương mại ngày càng phổ biến. Những sự cố nằm ngoài khả năng dự đoán
có thể xảy ra khiến cho một hoặc cả hai bên không thể thực hiện được nghĩa
vụ của mình dẫn đến vi phạm hợp đồng. Trong một số điều kiện nhất định,
bên có hành vi vi phạm được miễn trách nhiệm, không phải chịu các chế tài
do hành vi vi phạm gây ra. Khoản 1 điều 294 Luật thương mại năm 2005
quy định các trường hợp được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hay
nói cách khác là bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các
trường hợp sau đây:
-Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận;
-Xảy ra sự kiện bất khả kháng;
-Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;
-Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý
nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao
kết hợp đồng.
Để đi sâu hơn về vấn đề này và phục vụ cho yêu cầu bài tập học kì,
em đã chọn đề tài “phân tích và bình luận các quy định về các trường hợp
miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm” để tìm hiểu. Sau đây là phần
nội dung của bài:
1
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI, CHẾ TÀI DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ MIỄN TRÁCH NHIỆM
ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
1. Hợp đồng thương mại – hình thức pháp lý chủ yếu của quan hệ
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, hình thức pháp lý chủ yếu của các quan
hệ tài sản nói chung và các quan hệ kinh doanh nói riêng chính là hợp đồng.
chế tài và giải quyết tranh chấp hợp đồng…
Hiện nay, khái niệm hoạt động thương mại được quy định tại khoản 1
điều 3 Luật thương mại năm 2005 “là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi,
bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại
và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Do đó, có thể hiểu khái
quát “hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh
với nhau và với các bên có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm
dứt các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại”.
2. Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là một loại chế tài phát sinh
trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại. Trong đó:
Chế tài là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện
pháp tác động mà Nhà nước dự kiến để đảm bảo cho pháp luật được thực
hiện nghiêm minh. Các biện pháp tác động nêu ở bộ phận chế tài của quy
phạm pháp luật sẽ được áp dụng đối với tổ chức hay cá nhân nào vi phạm
3
pháp luật, không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước đã nêu ở bộ phận
quy định của quy phạm pháp luật. Hay nói cách khác, chế tài là những hậu
quả pháp lý bất lợi đối với bên vi phạm pháp luật.
Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không
đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên
hoặc theo quy định của luật này” (khoản 12 điều 3 Luật thương mại năm
2005).
Như vậy, chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là hình thức chế tài
áp dụng đối với các chủ thể không thực hiện hay thực hiện không đúng,
không đầy đủ các cam kết theo hợp đồng thương mại, theo đó bên có hành vi
vi phạm phải gánh chịu một hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi vi phạm của
mình gây ra.
3. Miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại
Miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại là việc bên vi
quyền tự thỏa thuận các trường hợp miễn trách nhiệm khi giao kết hợp đồng
thương mại. Xuất phát từ đó, luật thương mại năm 2005 đã quy định “các
bên sẽ không phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại nếu có
sự thỏa thuận của các bên về trường hợp đó được miễn trách nhiệm” tại
điểm a khoản 1 điều 294.
Về vấn đề này, pháp luật nhiều nước cũng có những quy định. Pháp
luật Anh coi thỏa thuận của các bên về trường hợp miễn trách nhiệm có hiệu
lực pháp lý, tuy nhiên, những thỏa thuận miễn trách nhiệm do vi phạm
những điều kiện cơ bản của hợp đồng thì được coi là không có hiệu lực pháp
lý. Pháp luật dân sự Đức quy định, bên vi phạm không thể được miễn trừ
trách nhiệm trong tương lai do cố ý vi phạm hợp đồng.
5
Chỉ mới tạm dừng ở việc so sánh qua những quy định trên đây của
pháp luật các nước với quy định của pháp luật nước ta đã thấy sự khác biệt
tương đối lớn. Có thể thấy rằng quy định của pháp luật nước ta mới chỉ dừng
lại ở mức độ chung chung, không đưa ra điều kiện để công nhận thỏa thuận
miễn trừ trách nhiệm hợp đồng giữa các bên. Thêm nữa, nếu so sánh với quy
định trong điều 276 của Bộ luật dân sự Đức về việc bên vi phạm không thể
được miễn trừ trách nhiệm trong tương lai do cố ý vi phạm hợp đồng. Ta có
thể thấy quy định này của pháp luật Đức nhằm hướng tới mục đích đảm bảo
sự bình đẳng giữa các bên trong quan hệ hợp đồng, nhất là hướng tới mục
đích bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.Vậy còn pháp luật nước ta thì sao? Rõ
ràng đã có sự thiếu xót ở đây bởi quy định này của nước ta mới chỉ đơn giản
là công nhận trường hợp miễn trừ trách nhiệm hợp đồng đã được các bên
thỏa thuận trước mà không lưu ý tới trường hợp một trong các bên lợi dụng
sự tồn tại của điều khoản miễn trừ trách nhiệm để vi phạm hợp đồng, để họ
không phải chịu biện pháp chế tài nào, hậu quả là sự bất bình đẳng giữa các
bên trong hợp đồng thương mại không thể tránh khỏi.
2. Trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng
Theo quy định của điểm b khoản 1 điều 294 Luật thương mại năm
cứ miễn trách nhiệm nếu nó xảy ra đối với các bên tham gia quan hệ hợp
đồng hay đối với cả bên thứ ba trong quan hệ hợp đồng như quy định tại
điều 40 pháp lệnh Hợp đồng kinh tế. Trường hợp này được Công ước viên
1980 (CISG) quy định rất rõ, theo đó, khoản 2 điều 79 quy định bên không
thực hiện hay thực hiện không đúng sẽ không phải chịu trách nhiệm mà việc
không thực hiện hay thực hiện nghĩa vụ không đúng do trường hợp bất khả
kháng. Quy định này của CISG là hoàn toàn hợp lý bởi thực tế trong hoạt
7
động thương mại, rất nhiều hợp đồng được kí kết giữa các bên nhằm mua đi
bán lại để kiếm lợi nhuận từ chênh lệch. Trong trường hợp này, việc thực
hiện mỗi một hợp đồng riêng biệt liên quan mật thiết đến việc thực hiện các
hợp đồng khác. Ví dụ, người bán không thực hiện nghĩa vụ giao hàng của
mình cho người mua theo hợp đồng mua bán hàng hóa do bên gia công
không thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người bán theo hợp đồng gia
công sản phẩm (đối tượng của hợp đồng mua bán chỉ có thể là sản phẩm của
bên gia công và không sản phẩm nào thay thế được). Đối với trường hợp
này, khoản 2 điều 79 Công ước viên 1980 đã quy định rõ, người bán không
chịu trách nhiệm với người mua do không thực hiện hay thực hiện không
đúng nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ trong trường hợp, nếu
người gia công không thực hiện nghĩa vụ của mình với người bán theo hợp
đồng gia công sản phẩm là do trường hợp bất khả kháng.
Về vấn đề một bên vi phạm hợp đồng do lỗi của người thứ ba (người
thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ của mình do gặp bất khả kháng) có
được coi là căn cứ miễn trách nhiệm cho bên vi phạm không còn có quan
điểm khác. Tác giả Quachs Thúy Quỳnh trong luận văn thạc sĩ về vấn đề:
“Pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh –
thực trạng và phương hướng hoàn thiện” cho rằng: coi đây là căn cứ miễn
trách nhiệm là chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn doanh thương.
Do xét về bản chất, căn cứ miễn trách nhiệm này hoàn toàn không phù hợp
với nguyên tắc chịu trách nhiệm tài sản trực tiếp giữa các bên trong quan hệ
hay sơ xuất của chính họ”. Như vậy, có thể thấy Luật thương mại Việt Nam
9
năm 2005 đã đảm bảo sự tương thích với pháp luật thương mại quốc tế trong
việc quy định về trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mà việc
vi phạm đó hoàn toàn do lỗi của bên kia.
4. Trường hợp vi phạm hợp đồng do thực hiện quyết định của cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể
biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng
Điểm d khoản 1 điều 294 Luật thương mại năm 2005 quy định: trường
hợp hành vi vi phạm hợp đồng của một bên là do thực hiện quyết định của
cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được
vào thời điểm giao kết hợp đồng là một căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng thương mại.
Ví dụ: Công ty A chuyên sản xuất và cung cấp trứng gà cho công ty B
làm nguyên liệu để sản xuất bánh ngọt. Tuy nhiên, cơ sở sản xuất của công
ty A bị tuyên bố thuộc vùng dịch bệnh. Theo quyết định của UBND cấp
Tỉnh, công ty A phải hủy toàn bộ cơ sở sản xuất để tránh lây lan dịch bệnh.
Thực hiện quyết định này khiến cho công ty A không thể cung cấp trứng gà
cho công ty B theo hợp đồng đã giao kết. Trong trường hợp này, công ty A
được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng của mình.
Từ quy định trên đây, có thể thấy việc miễn trách nhiệm chỉ được áp
dụng khi hành vi vi phạm do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết
hợp đồng. Nếu như các bên đã biết về việc thực hiện quyết định của cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền có thể dẫn đến vi phạm hợp đồng mà vẫn
đồng ý giao kết hợp đồng thì không được áp dụng miễn trách nhiệm.
Tuy nhiên, quy định này của luật thương mại còn chưa thực sự rõ ràng.
Thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, không có quy định hướng dẫn cụ thể cơ quan
quản lý nhà nước trong trường hợp này ra quyết định nhằm mục đích gì,
10
trách nhiệm hợp đồng giữa các bên
Luật thương mại năm 2005 cũng như các văn bản quy định chi tiết thi
hành chưa có quy định cụ thể nào về điều kiện công nhận thỏa thuận miễn
trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, cần bổ sung những quy định mang
tính nguyên tắc như: “Thỏa thuận giữa các bên về trường hợp miễn trách
nhiệm phải tồn tại trước khi xảy ra vi phạm và có hiệu lực đến thời điểm bên
bị vi phạm áp dụng chế tài. Thỏa thuận này chỉ có giá trị pháp lý nếu như nó
không phải là vi phạm do cố ý”…để vừa đảm bảo tôn trọng sự tự do thỏa
thuận giữa các bên, vừa hạn chế việc một bên lợi dụng căn cứ này để trốn
tránh trách nhiệm hợp đồng. Ngoài ra, khi giải quyết tranh chấp hợp đồng,
cơ quan có thẩm quyền cũng cần phải đánh giá tính hợp lý của thỏa thuận
này, cần phải phân tích sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, phân tích nội dung
của hợp đồng.
3. Bổ sung quy địnhvề căn cứ miễn trách nhiệm do người thứ ba có
quan hệ với một bên trong hợp đồng thương mại gặp trường hợp
bất khả kháng
Theo em, việc bổ sung quy định về căn cứ miễn trách nhiệm cho bên vi
phạm do người thứ ba có quan hệ hợp đồng với bên vi phạm gặp bất khả
kháng là phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. Bởi vấn đề này đã được
quy định trong Công ước viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế cũng như
quy định tại nhiều quốc gia khác.
Để được miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong trường hợp này
thì cần quy định cụ thể về điều kiện để sự kiện bất khả kháng là căn cứ miễn
12
trách nhiệm với bên thứ ba trở thành căn cứ miễn trách nhiệm cho một bên
hợp đồng thương mại đó là:
-Thứ nhất, sự kiện bất khả kháng mà bên thứ ba gặp phải phải đáp ứng
đủ các điều kiện quy định tại điều 161 Bộ luật dân sự năm 2005;
-Thứ hai, hợp đồng của bên vi phạm với bên thứ ba có quan hệ mật
thiết với hợp đồng thương mại giữa bên vi phạm và bên bị vi phạm;
còn là yếu tố hạn chế việc một bên lợi dụng quy định về miễn trừ trách
nhiệm để trốn tránh trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, vấn đề này chưa
được pháp luật thương mại quy định cụ thể và toàn diện dẫn tới việc áp
dụng trong thực tế còn gặp nhiều khó khăn và không thống nhất. Hi
vọng, trong khoảng thời gian không xa tới, các cơ quan chức năng sẽ đưa
ra những quy định bổ sung và văn bản hướng dẫn cụ thể hơn để pháp luật
thương mại nói chung, pháp luật quy định về vấn đề miễn trách nhiệm
đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại được hoàn chỉnh hơn. Bài
viết dựa trên cơ sở tài liệu tham khảo trong giáo trình, trong các bài luận
văn thạc sĩ của Thầy Cô, các bài viết trên mạng, kèm thêm một số ý kiến
quan điểm cá nhân. Do kiến thức còn hạn chế nên chắc chắn bài làm còn
nhiều thiếu xót. Rất mong nhận được sự cảm thông và góp ý của Thầy,
cô. Em xin chân thành cảm ơn.
14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giaó trình Luật thương mại tập 2 – trường ĐH Luật Hà Nội,
nxb CAND, HN – 2012;
2. Luật thương mại năm 2005
3. Bộ luật dân sự năm 2005
4. Hoàng Thị Hà Phương, Chế tài do vi phạm hợp đồng thương
mại – những vấn đề lý luận và thực tiễn – luận văn thạc sĩ luật
học, Hà Nội – 2012
5. Nguyễn Thị Thu Huyền, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, luận văn thạc sĩ
luật học. HN – 2013
6. Bài viết: “miễn trách nhiệm trong vi phạm hợp đồng thương
mại” trên trang web />vi-pham-hop-dong-thuong-mai
7. Bài viết “một vài suy nghĩ về định hướng sửa đổi luật thương
mại2005” trên trang web :
/>ve-dinh-huong-sua-doi-luat-thuong-mai-2005-211.html