Bài tập tình huống nhóm tháng 2 Luật thương mại module 2 - Pdf 12

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
1. Phân tích các điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực 1
2. Nhận xét về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán gạo
và bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực của thỏa
thuận trọng tài 4
a. Nhận xét về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán
gạo 4
b. Bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực của
thỏa thuận trọng tài 8
3. Tòa án có thể thụ lý đơn khởi kiện của công ty A không? Vì sao? 11
4. Phân tích các căn cứ pháp lý để xác định tính hợp pháp của yêu cầu bồi
thường thiệt hại và phạt vi phạm của công ty A. Nếu yêu cầu bồi thường thiệt
hại và phạt vi phạm của công ty A là hợp pháp, hãy xác định giá trị bồi
thường thiệt hại và phạt vi phạm mà công ty B phải chịu? 12
BÀI LÀM
1. Phân tích các điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực
1
Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên về việc xác
lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ. Tuy nhiên không phải mọi thỏa thuận
của các bên đều được pháp luật thừa nhận mà chỉ có những thỏa thuận tuân
theo quy định của pháp luật mới có hiệu lực. Luật thương mại (LTM) 2005
không có quy định cụ thể về điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu
lực, vì vậy khi xem xét hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa cần dựa trên
những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật
Dân sự (BLDS) 2005. Điều 122, BLDS 2005 quy định:
“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a, Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
b, Mục đích và nội dụng của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội;
c, Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

bị cấm kinh doanh được pháp luật quy định một cách phù hợp. Vì vậy đối
tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa phải là những hàng hóa được pháp
luật cho phép trao đổi, mua bán.
Thứ tư, hợp đồng mua bán được giao kết đảm bảo các nguyên tắc của
hợp đồng theo quy định của pháp luật. Việc quy định các nguyên tắc giao kết
hợp đồng nhằm đảm bảo sự thỏa thuận của các bên phù hợp với ý chí thực
của họ, hướng đến những lợi ích chính đáng của các bên đồng thời không
xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ. Việc giao kết hợp đồng
nói chung và hợp đồng mua bán phải tuân theo các nguyên tắc: tự do giao kết
nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện
chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng. Những hành vi cưỡng ép, đe dọa, lừa
dối để giao kết hợp đồng,… là lí do dẫn đến hợp đồng mua bán không có hiệu
lực.
Thứ năm, hình thức hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp
luật. Điều 24 Luật Thương mại 2005 quy định hợp đồng mua bán hàng hóa
được thể hiện bằng lời nói, văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
3
Đối với những hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được
lập thành văn bản thì cần phải tuân theo quy định đó. Trường hợp các bên
không tuân thủ hình thức hợp đồng khi pháp luật có quy định thì hợp đồng vô
hiệu khi kí kết.
Ngoài ra, Luật Thương mại còn có quy định riêng về điều kiện có hiệu
lực của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân người nước ngoài như
chủ thể bên Việt Nam phải là thương nhân được phép hoạt động thương mại
trực tiếp với người nước ngoài, hàng hóa phải là hàng hóa được phép mua bán
theo quy định của pháp luật nước bên mua và nước bên bán, …
2. Nhận xét về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán
gạo và bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu
lực của thỏa thuận trọng tài
a. Nhận xét về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán

nhân, mục đích của 2 bên khi tiến hành mua bán hàng hóa (mua bán gạo) là
mục đích sinh lợi. Vì vậy, hoạt động mua bán gạo mà 2 bên thực hiện là hoạt
động thương mại được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005.
Từ đó, có thể thấy, tranh chấp về hoạt động mua bán gạo của 2 bên là tranh
chấp phát sinh từ hoạt động thương mại – đối tượng của thỏa thuận trọng tài.
Nhận xét : đối tượng thỏa thuận trọng tài giữa Công ty cổ phần A và
Công ty cổ phần B là phù hợp với quy định của Luật TTTM 2010.
• Về thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài
Người ký kết thỏa thuận trọng tài phải là người có thẩm quyền ký kết.
Theo như tình huống thì chủ thể của thỏa thuận trọng tài là Công ty cổ phần A
và Công ty Cổ phần B, người trực tiếp ký kết thỏa thuận trọng tài là giám đốc
của 2 công ty. Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp theo quy định tại
Luật Doanh nghiệp 2005, người có thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài của
loại hình doanh nghiệp này là đại diện theo pháp luật của mỗi công ty hoặc
người được mỗi công ty ủy quyền hợp pháp để tham gia ký kết thỏa thuận
trọng tài. Tại Điều 95 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Chủ tịch Hội
5
đồng quản trị hoặc Giám đôc hoặc Tổng giám đốc là đại diện theo pháp luật
của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty”. Như vậy, giám đốc Công ty Cổ
phần có thể là đại diện theo pháp luật của công ty hoặc không, tùy vào quy
định tại điều lệ công ty. Chính vì vậy, nhóm chia thành 2 trường hợp sau:
- Trường hợp 1: Giám đốc Công ty A và Giám đốc Công ty B là đại diện
theo pháp luật của mỗi công ty hoặc là người được 2 công ty ủy quyền để ký
kết thỏa thuận trọng tài. Trong trường hợp này thì Giám đốc của 2 công ty thỏa
mãn yêu cầu về chủ thể ký kết thỏa thuận trọng tài được quy định tại Luật
TTTM 2010.
- Trường hợp 2: Giám đốc Công ty A và Giám đốc ty B không phải là đại
diện theo pháp luật của mỗi công ty và cũng không phải là người được mỗi
công ty ủy quyền hợp pháp để ký kết thỏa thuận trọng tài. Với trường hợp này
thì giám đốc của 2 công ty không đáp ứng điều kiện về chủ thể của thỏa thuận

tài và phải có thêm điều kiện là: có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài đó là
vô hiệu thì thỏa thuận trọng tài mới bị vô hiệu. Xét tình huống, không hề có
yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Hơn nữa, theo nhóm suy luận,
hợp đồng là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên nhằm xác lập, thay
đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Hợp đồng mua bán gạo là kết qủa thỏa
thuận của 2 bên, trong đó mỗi bên đều nhằm đạt được mục đích lợi nhuận của
mình. Thỏa thuận trọng tài là một điều khoản của hợp đồng mua bán gạo, là
thỏa thuận của các bên về phương thức giải quyết tranh chấp. Do đó, theo
nhóm thì thỏa thuận trọng tài trong tình huống được xây dựng trên cơ sở tự
nguyện, thống nhất ý chí của các bên.
Nhận xét : thỏa thuận trọng tài trong tình huống thỏa mãn yêu cầu về ý
chí của các bên khi xác lập thỏa thuận trọng tài được quy định tại Luật TTTM
2010.
• Về nội dung của thỏa thuận trọng tài : thỏa thuận trọng tài phải không
được vi phạm điều cấm của pháp luật.
7
Xét tình huống: Thỏa thuận trọng tài giữa công ty A và công ty B có nội
dung: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được giải quyết bởi trọng
tài thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành”. Như vậy,
nội dung của thỏa thuận trọng tài này không hề vi phạm điều cấm của pháp
luật nên thỏa mãn yêu cầu về nội dung của thỏa thuận trọng tài theo quy định
tại Luật TTTM 2010.
Kết luận chung: Trong các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng
tài theo quy định tại Luật TTTM 2010, thỏa thuận trọng tài của Công ty A với
Công ty B thỏa mãn yêu cầu về đối tượng, hình thức, nội dung của thỏa thuận
trọng tài, năng lực ký kết thỏa thuận trọng tài, ý chí của các bên khi xác lập
thỏa thuận trọng tài. Tuy nhiên còn điều kiện về thẩm quyền ký kết thỏa thuận
trọng tài tình huống không nêu rõ nên nhóm đưa ra kết luận sau:
- Nếu giám đốc Công ty A và giám đốc Công ty B là đại diện theo pháp
luật của mỗi công ty hoặc là người được 2 công ty ủy quyền để ký kết thỏa

Một trong những vấn đề ảnh hưởng tới hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
là thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài chỉ có hiệu lực
pháp lý ràng buộc các bên khi người ký kết thỏa thuận trọng tài có thẩm quyền
ký kết. Khi thỏa thuận trọng tài được ký kết bởi người không có thẩm quyền
thì thỏa thuận đó không thể hiện được ý chí đích thực của các bên. Do đó, thỏa
thuận trọng tài sẽ không còn ý nghĩa. Khoản 2 Điều 18 Luật Trọng tài 2010
quy định thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi “người xác lập thỏa thuận trọng tài
không có thẩm quyền ký kết theo quy định của pháp luật”.
Tranh chấp giữa cá nhân với nhau thì cá nhân đó chính là người có thẩm
quyền ký kết thỏa thuận trọng tài. Các cá nhân này có thể ủy quyền cho người
khác ký kết thỏa thuận trọng tài. Việc ủy quyền này phải tuân theo các quy
định của Bộ luật Dân sự 2005 về đại diện theo ủy quyền. Đối với tranh chấp
phát sinh giữa pháp nhân với pháp nhân thì người có thẩm quyền ký kết thỏa
thuận trọng tài là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền của pháp
nhân (khoản 3 Điều 86 Bộ luật Dân sự 2005). Luật Doanh nghiệp 2005 đã
quy định người đại diện theo pháp luật của từng loại hình doanh nghiệp cụ thể.
9
Như vậy, quy định về thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài trong Luật
TTTM 2010 không thay đổi so với quy định tại Pháp lệnh Trọng tài thương
mại năm 2003. Quy định này là hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật
liên quan, tạo ra sự thống nhất khi áp dụng.
• Về năng lực ký kết thỏa thuận trọng tài
Theo như quy định tại Luật TTTM 2010 thì người xác lập thỏa thuận
trọng tài phải có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự
2005. “Người xác lập thỏa thuận” ở đây cần được hiểu theo nghĩa rộng, tức là
cả cá nhân và pháp nhân bởi có những trường hợp một bên ký kết thỏa thuận
trọng tài là doanh nghiệp không còn tồn tại trên thực tế và cũng không có tổ
chức tiếp nhận quyền, nghĩa vụ, vì vậy mà thỏa thuận trọng tài đã ký không
còn tồn tại trện thực tế nữa.
Quy định này của Luật TTTM cũng không có thay đổi so với Pháp lệnh

3. Tòa án có thể thụ lý đơn khởi kiện của công ty A không? Vì sao?
Như đã phân tích ở trên, sẽ có hai trường hợp xảy ra:
TH1: Nếu giám đốc Công ty A và giám đốc Công ty B là đại diện theo
pháp luật của mỗi công ty hoặc là người được 2 công ty ủy quyền để ký kết
thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài của 2 công ty có hiệu lực.
Tháng 1/2012, giám đốc công ty cổ phần A ký hợp đồng mua 1000 tấn
gạo (giá: 10.000 đồng/kg) với giám đốc công ty cổ phần B. Đến thời hạn giao
hàng, công ty B không giao được hàng cho công ty A. Do đó, công ty A
không thực hiện được hợp đồng với đối tác và bị đối tác phạt vi phạm 200
triệu đồng. Công ty A gửi thông báo yêu cầu công ty B bồi thường thiệt hại
500 triệu đồng và chịu phạt 8% giá trị hợp đồng nhưng công ty B không chấp
thuận. Đáng lưu ý là mặc dù đã có thỏa thuận rằng “Mọi tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng này được giải quyết bởi trọng tài thương mại theo quy định của
pháp luật Việt Nam hiện hành.” Nhưng Công ty A quyết định khởi kiện ra
Tòa án luôn mà không thông qua trọng tài thương mại.
11
Điều 6 Luật TTTM 2010 quy định: “Trong trường hợp các bên tranh
chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án
phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả
thuận trọng tài không thể thực hiện được”.
Khi mà thỏa thuận trọng tài giữa công ty A và công ty B không bị vô
hiệu và hoàn toàn có thể thực hiện được thì Tòa án phải từ chối thụ lý đơn
khởi kiện của Công ty A.
TH2: Nếu giám đốc Công ty A và Giám đốc ty B không phải là đại diện
theo pháp luật của mỗi công ty và cũng không phải là người được mỗi công ty
ủy quyền hợp pháp để ký kết thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài giữa 2
công ty không có hiệu lực pháp luật.
Khoản 1, Điều 167 Bộ luật tố tụng dân sự có quy định, tòa án phải
“Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
mình”.

thỏa mãn các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định
tại Điều 303 LTM 2005 là:
Điều 303. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật
này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
1. Có hành vi vi phạm hợp đồng;
2. Có thiệt hại thực tế;
3. Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
+ Có hành vi vi phạm hợp đồng: Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện,
thực hiện không đúng, không đầy đủ thì bị coi là vi phạm nghĩa vụ . Để xác
định một hành vi có phải là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hay không cần căn cứ
vào nghĩa vụ được xác lập theo hợp đồng. Việc không thực hiện hoặc chỉ thực
hiện một phần nghĩa vụ đó đều bị coi là hành vi vi phạm hợp đồng.
13
+ Có thiệt hại thực tế xảy ra: Hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là
điều kiện đầu tiên để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng như
vậy vẫn chưa đủ. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có thiệt
hại thực tế xảy ra cho bên bị vi phạm.
+ Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại:
Ở đây tức là phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt
hại thực tế.
Theo như dữ kiện đầu bài nêu, thì rõ ràng hành vi của công ty B là không
giao đúng và đủ số gạo như đã thỏa thuận trong hợp đồng ban đầu giữa hai
công ty là hành vi vi phạm hợp đồng. Và vì hành vi của công ty B đã dẫn tới
hậu quả là công ty A đã không có đủ số gạo để giao cho đối tác và bị phạt vi
phạm 200 triệu đồng. Ta có thể thấy hành vi không giao đủ số gạo của công ty
B là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới việc công ty A bị đối tác phạt vi phạm.
• Về việc phạt vi phạm mà công ty A áp dụng đối với công ty B
Cơ sở pháp lý của yêu cầu này xuất phát từ Điều 300 Luật Thương mại
2005:

Thương mại 2005:
“2. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực
tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp
mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”.
Theo như đầu bài đã cho, công ty A bị bên đối tác phạt vi phạm 200
triệu đồng, đây là tổn thất thực tế, trực tiếp mà công ty A (bên bị vi phạm)
phải chịu do công ty B (bên vi phạm) gây ra. Vậy nên công ty B phải bồi
thường cho công ty A số tiền này. Ngoài ra, công ty B phải bồi thường thêm
một khoản tiền được coi là “khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ
được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”. Vấn đề xác định khoản lợi trực
tiếp ở đây là bao nhiêu thì sẽ tùy thuộc vào sự chứng minh của công ty A.
15
Chúng ta không thể ấn định một con số cụ thể bởi trên thực tế, Luật Thương
mại 2005 và ngay cả trong BLDS 2005 cũng không hề có quy định giới hạn
mức bồi thường thiệt hại.
- Về mức phạt vi phạm: Được quy định tại Điều 301 Luật Thương mại 2005.
“Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối
với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá
8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại
Điều 266 của Luật này”
Do trên thực tế, công ty B chưa hề giao cho công ty A số gạo như đã
ghi trong hợp đồng nên trong trường hợp này “phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi
phạm” được hiểu là toàn bộ giá trị của hợp đồng. Giá trị hợp đồng giữa hai
công ty này trị giá là 10 tỷ VNĐ. Vậy 8% của 10 tỷ là 800 triệu đồng
Như vậy, tổng hợp cả hai khoản là bồi thường thiệt hại và phạt vi
phạm (nếu yêu cầu được Tòa án chấp nhận) thì số tiền công ty B phải trả
cho công ty A là 1 tỷ VNĐ cộng thêm số tiền là khoản lợi trực tiếp mà
công ty A chứng minh được là công ty mình đáng lẽ đã được hưởng nếu
không có hành vi vi phạm của công ty B (nếu được Tòa án chấp nhận).
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status