Tìm hiểu quy định của pháp luật phá sản - Pdf 12

Tìm hiểu quy định của pháp LPS về các vấn đề sau đây:
1. Đối tượng áp dụng LPS năm 2004. (Yêu cầu nói rõ có áp dụng LPS đối
với Hộ kinh doanh cá thể, Công ty Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực quốc
phòng, an ninh quốc gia, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi các chủ
thể này lâm vào tình trạng phá sản)
2. Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. (Yêu cầu chỉ ra và
đánh giá những quy định khác biệt về vấn đề này trong LPS 2004 so với LPS
1993)
3. Các giấy tờ mà Chủ nợ, đại diện người lao động, doanh nghiệp mắc nợ
phải nộp kèm theo Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và ý nghĩa của từng loại giấy
tờ đó.
4. Nguyên tắc và trình tự thanh toán các khoản nợ của các chủ nợ (phân tích
rõ cả việc thanh toán nợ mới phát sinh, nợ có bảo đảm…)
5. Hãy áp dụng quy định của LPS để thực hiện thanh toán các khoản nợ sau:
(a) Chi phí phá sản 50 triệu đồng.
(b) Ngân hàng Công thương Thanh Xuân 5 tỷ đồng với tài sản thế chấp là trụ sở
công ty (bán đấu giá được 6 tỷ đồng).
(c) Công ty Hoàng Hà 500 triệu, tài sản cầm cố là xe ôtô Mazda được định giá
trong biên bản cầm cố là 500 triệu (bán đấu giá được 400 triệu).
(d) Công ty Hòa Bình 300 triệu tiền phạt vi phạm hợp đồng.
(e) Bưu điện Hà Nội 80 triệu.
(g) Công ty cung cấp nước sạch 20 triệu.
(h) Người lao động trích 10% lương tháng cho công ty vay để hưởng lãi suất,
tổng cộng 500 triệu đồng cả vốn, lãi tính đến thời điểm Tòa án quyết định mở
thủ tục phá sản.
(i) Ông Đào, một cổ đông của công ty đã vay của ông An 500 triệu để mua bổ
sung cổ phần của mình nhằm tăng vốn điều lệ của công ty.
(k) Nợ thuế là 500 triệu.
(l) Tiền phạt do vi phạm các quy định về bảo vệ mọi trường là 200 triệu.
1
(m) Nợ lương người lao động 300 triệu.

đặc biệt của Nghị định số 67/2006/NĐ-CP ngày 11/7/2006 của Chính phủ về
Hướng dẫn việc áp dụng LPS đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt
động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản thì mới là đối tượng áp dụng của LPS
2004.
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng
khoán và tài chính khác nếu được thành lập và đăng ký kinh doanh theo quy định
của pháp luật và thuộc danh mục tại Điều 2 Nghị định số 114/2008/NĐ-CP ngày
3/11/2008 của Chính phủ về Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của LPS
đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng
khoán và tài chính khác thì cũng là đối tượng áp dụng của LPS.
Đối với các tổ chức tín dụng cũng là đối tượng áp dụng của LPS 2004.
Theo khoản 3 Điều 2 Nghị định số 05/2010/NĐ-CP ngày 18/01/2010 của Chính
phủ về Quy định việc áp dụng LPS đối với các tổ chức tín dụng có chỉ rõ:
“Trường hợp nghị định này không có quy định thì những nội dung liên quan đến
thủ tục phá sản tổ chức tín dụng sẽ được áp dụng theo LPS và các văn bản
hướng dẫn thi hành LPS”.
Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (bao gồm doanh
nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt
Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập,
mua lại - khoản 6 Điều 4 Luật đầu tư 2005) cũng là đối tượng áp dụng của LPS
theo điểm k, l mục 1.1 Nghị quyết 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28/4/2005 của Hội
3
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định
của LPS.
Đối với Hộ kinh doanh cá thể là tên gọi để chỉ những cá nhân kinh doanh
hoặc hộ gia đình kinh doanh không dưới danh nghĩa một doanh nghiệp. Điều 49
Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về Đăng ký doanh nghiệp quy
định: “Hộ kinh doanh
1. Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm
người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa

hoặc người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm ít hơn khoản nợ đó) mà không cho
phép chủ nợ có bảo đảm (khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của DN, HTX
hoặc của người thứ ba) nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (đọc Điều 7 Luật
PSDN 1993; Điều 6 và Điều 13 Luật PS 2004). Quy định này là tạo điều kiện
cho các chủ nợ không có sự bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có cơ hội
lựa chọn một thủ tục thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
khi doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản. Còn đối với các chủ nợ có
bảo đảm thì luôn được ưu tiên thanh toán bằng tài sản bảo đảm của doanh
nghiệp, HTX hoặc người thứ ba nên việc quy định quyền nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản là không cần thiết.
Đồng thời LPS 2004 cũng loại bỏ quy định về nghĩa vụ của các chủ nợ khi
nộp đơn yêu cầu mở TTPS phải cung cấp các giấy tờ, tài liệu chứng minh doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Họ chỉ cần chứng minh chủ nợ đã
đòi nợ nhưng không được doanh nghiệp mắc nợ thanh toán nợ đến hạn bằng việc
gửi giấy đòi nợ sau 60 ngày kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định của TA
mởi thủ tục phá sản đến TA cùng tài liệu chứng minh về các khoản nợ đó. Tuy
5
nhiên, nếu chủ nợ không thực hiện quyền đòi nợ thì được coi là từ bỏ quyền đòi
nợ.(Điều 51)
Tuy vậy để tránh tình trạng nộp đơn do không khách quan gây ảnh hưởng
đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, HTX hoặc có sự
gian dối trong việc yêu cầu mở thủ tục phá sản thì người nộp đơn yêu cầu tùy
mức độ sẽ bị xử lí kỉ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu TNHS nếu gây
thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Quy định này nhằm mục
đích đề cao trách nhiệm khi người nộp đơn được mở rộng khả năng và điều kiện
nộp đơn yêu cầu theo Luật PS 2004 (Điều 19)
* Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người lao động.
Theo Luật PS DN 1993 thì người lao động cũng có quyền đệ đơn yêu cầu
TA giải quyết tuyên bố phá sản với tư cách là chủ nợ không có bảo đảm. Điều 8
Luật PS DN 1993 cho phép đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức Công

tình trạng PS thì chủ DN hoặc đại diện hợp pháp của chủ DN, HTX có nghĩa vụ
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với DN, HTX đó.
* Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ sở hữu DN Nhà nước,
các cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh.
Luật đã quy định rõ, đầy đủ và hợp lý hơn, mở rộng quyền nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục PS. Ngoài những chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
PS như quy định của LPSDN 1993 thì LPS 2004 bổ sung một số đối tượng khác
cũng có quyền này: chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước (để đảm bảo quyền lợi
của chủ sở hữu), cổ đông công ty cổ phần và thành viên hợp danh trong công ty
hợp danh (để phù hợp với quy định về quyền của các cổ đông và quyền của
thành viên hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp). Quy định này là
điểm mới của Luật PS 2004 so với Luật PS DN 1993. Điều này xuất phát từ thực
7
tiễn áp dụng Luật PS DN 1993 cho thấy không ít những DN đã lâm vào tình
trạng phá sản nhưng các chủ nợ và đại diện công đoàn hay đại diện người lao
động (nơi chưa có tổ chức công đoàn) không nộp đơn yêu cầu và bản thân DN
mắc nợ không đưa đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nên TA không có cơ sở tiến
hành thủ tục phá sản đối với những DN đó. Hệ quả là nhiều DN mất khả năng
thanh toán nợ, tình trạng tài chính kiệt quệ, đã ngừng hoạt động kinh doanh hoặc
hoạt động cầm chừng, thoi thóp nhưng không có con đường kết thúc DN về mặt
pháp lí.
- Đại diện chủ sở hữu DN Nhà nước có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản đối với DN Nhà nước khi thấy DN đó lâm vào tình trạng phá sản mà DN
không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 16).
- Cổ đông của công ty cổ phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản khi nhận thấy công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản theo Điều lệ công
ty hoặc Nghị quyết của Đại hội cổ đông (Điều 17).
- Thành viên hợp danh khi nhận thấy công ty hợp danh lâm vào tình trạng
phá sản có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty hợp danh
đó (Điều 18).

doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Điều 14 LPS 2004 quy định về Quyền
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người lao động cũng đã bổ sung thêm
vào trong đơn yêu cầu điểm mới đó là “Số tháng nợ tiền lương, tổng số tiền
lương và các khoản nợ khác mà DN, HTX không trả được cho người lao động”.
Đây sẽ là cơ sở để chứng minh người lao động đang bị nợ bao nhiêu, từ thời gian
nào Như vậy trong LPS 2004 đã quy định những giấy tờ cần thiết mà chủ nợ
và người lao động (những người có quyền nộp đơn) cần phải có ngay trong đơn
9
yêu cầu mở thủ tục phá sản. Do đó, trong điều luật không quy định loại giấy tờ
kèm theo đơn.
Theo Điều 15 LPS 2004 thì đối với DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản
thì kèm theo đơn cần có những loại giấy tờ sau:
- Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của DN, HTX, trong đó giải trình
nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất khả năng thanh toán; nếu
doanh nghiệp là công ty cổ phần mà pháp luật yêu cầu phải được kiểm toán thì
báo cáo tài chính phải được tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận;
Báo cáo này giúp cho cơ quan giải quyết PSDN có căn cứ để tiến hành thủ
tục phá sản. Tránh tình trạng vì lý do nào đó mà DN, HTX tuyên bố phá sản để
trốn tránh nghĩa vụ của tổ chức mình. Vấn đề phá sản chỉ được đặt ra khi các
doanh nghiệp không còn đủ khả năng thanh toán nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu
cầu. Đồng thời báo cáo về tình hình hoạt động kinh doanh, hoành cảnh nguyên
nhân dẫn đến phá sản giúp cơ quan có thẩm quyền có thể nhìn rõ được quá trình
hoạt động, kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó nhìn ra được nguyên nhân
chính, nguyên nhân khách quan dẫn đến tình trạng này.
- Báo cáo về các biện pháp mà DN, HTX đã thực hiện, nhưng vẫn không
khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa vào báo cáo này để biết được những
biện pháp cụ thể mà doanh nghiệp đã áp dụng. Từ đó, áp dụng biện pháp cần
thiết phục hồi khả năng thanh toán và hoạt động kinh doanh (Điều 8 Nghị định
67/2006/NĐ-CP Hướng dẫn việc áp dụng LPS đối với doanh nghiệp đặc biệt và

chắn trong việc tiến hành thủ tục phá sản. Bởi việc giải quyết phá sản cho doanh
nghiệp là biện pháp cuối cùng sau những cố gắng để khôi phục và giúp doanh
nghiệp tồn tại.
11
- Danh sách ghi rõ họ tên, địa chỉ của các thành viên, nếu doanh nghiệp
mắc nợ là một công ty có các thành viên liên đới chịu trách nhiệm về những
khoản nợ của doanh nghiệp;
Danh sách này khiến cho những thành viên liên đới phải chịu trách nhiệm
về tài sản, không có khả năng trốn tránh trách nhiệm của mình như đã cam kết
khi thành lập doanh nghiệp. Đảm bảo được quyền lợi của những chủ nợ của
doanh nghiệp.
- Những tài liệu khác mà Tòa án yêu cầu DN, HTX phải cung cấp theo quy
định của pháp luật.
Những loại giấy tờ này được áp dụng cho người nộp đơn là DN, HTX lâm
vào tình trạng phá sản, người nộp đơn là chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước,
người nộp đơn là thành viên công ty hợp danh.Tuy nhiên đối với người nộp đơn
là các cổ đông công ty cổ phần thì không yêu cầu các loại giấy tờ được quy định
tại điểm d, đ, e tại điều 15 Luật Phá sản 2004.
4. Nguyên tắc và trình tự thanh toán nợ
Theo quy định tại điều 35, 36, 37 Luật PS 2004 trình tự thanh toán các
khoản nợ như sau:
- Trước khi có quyết định của thẩm phán tiến hành thanh lý tài sản của DN,
HTX :
+ Ưu tiên thanh toán các khoản nợ có bảo đảm bằng thế chấp, cầm cố
được. Đối với các chủ nợ có bảo đảm nếu giá trị của tài sản bảo đảm lớn hơn
khoản nợ, sau khi nhận được tài sản chủ nợ này phải hoàn lại phần chênh lệch,
phần đó sẽ được nhập vào giá trị tài sản của DN, HTX sắp phá sản để phân chia
quy định tại Điều 35 LPS 2004. Đối với các chủ nợ được bảo đảm một phần,
phần còn thiếu sẽ được tiếp tục thanh toán khi thanh lý tài sản doanh nghiệp và
được xử lý như chủ nợ có bảo đảm nhưng quyền ưu tiên đã bị hủy bỏ theo quy

của pháp luật hoặc theo các thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã
ký kết (quy định chi tiết tại nghị định số 94/2005/NĐ-CP ngày 15-7-2005 về giải
quyết quyền lợi của người lao động ở doanh nghiệp và hợp tác xã bị phá sản).
Khi đó, người lao động tham gia với tư cách một chủ nợ theo quy định tại khoản
2 Điều 62 Luật PS 2004: “Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn
được người lao động ủy quyền. Trong trường hợp này đại diện cho người lao
động, đại diện công đoàn có quyền, nghĩa vụ như chủ nợ”.
+ Cuối cùng là các chủ nợ không có bảo đảm, bảo đảm một phần chưa
được thanh toán đầy đủ , mỗi người sẽ được thanh toán đầy đủ phần nợ của mình
nếu tài sản của DN, HTX bị phá sản còn lại đủ để thanh toán, mỗi chủ nợ chỉ
nhận được một phần khoản nợ theo tỷ lệ tương ứng nếu tài sản của DN, HTX
không đủ để thanh toán hết các khoản nợ này.
Những trường hợp xử lý như chủ nợ không có bảo đảm
- Nợ mới phát sinh trong trường hợp thanh toán, bồi thường thiệt hại khi
hợp đồng bị đình chỉ thực hiện trong quá trình tiến hành thủ tục PS đối với DN,
HTX bị lâm vào tình trạng PS thì bên kia của hợp đồng có quyền đòi lại và chủ
nợ được xử lý như với chủ nợ không có bảo đảm (Điều 45 và 47 LPS 2004).
- Trường hợp đình chỉ thi hành án dân sự hoặc giải quyết vụ án tại khoản 1
Điều 57 LPS 2004 thì người được thi hành án có thể trở thành chủ nợ không có
bảo đảm hoặc có bảo đảm nếu có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật kê biên tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã để bảo đảm thi hành án
nếu nộp đơn yêu cầu được thanh toán đến Tòa án và trường hợp giải quyết vụ án
bị đình chỉ trong thủ tục PS theo Điều 58 LPS 2004 thì người được DN, HTX
thực hiện nghĩa vụ về tài sản có quyền yêu cầu được thanh toán với tư cách là
một chủ nợ không có bảo đảm.
14
- CV của BTC số 7050/BTC-TCT ngày08/06/2006 - Quyết toán thuế đối
với DN, HTX phá sản có đoạn: ”Đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản còn nợ tiền thuế thì cơ quan trực tiếp quản lý thu thuế được
xác định là người đại diện cho Nhà nước tham gia vào thủ tục phá sản với vai

HTX không đủ để thanh toán toàn bộ các khoản nợ thì các chủ nợ được thanh
toán phần nợ của mình theo tỉ lệ tương ứng.
- Nguyên tắc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp , hợp tác xã phá sản thể
hiện ở việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp hạn chế hoạt
động của doanh nghiệp, đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực xuất
phát từ sự đảm bảo của Nhà nước đối với các chủ nợ.
5. Thứ tự thanh toán nợ
Tình huống đề bài đưa ra, tài sản của công ty cổ phần tạm gọi là công ty X
đã được tổ quản lý thanh lý tài sản tiến hành thu hồi toàn bộ và tổ chức bán đấu
giá, tổng cộng thu được 7,45 tỉ đồng (bao gồm cả giá trị tài sản thế chấp, cầm
cố). Việc thanh toán nợ của công ty X sẽ được tiến hành theo trình tự như sau:
- Nguyên tắc ưu tiên thanh toán đối với nợ có đảm bảo quy định những
khoản nợ có đảm bảo của chủ nợ đối với công ty X sẽ được ưu tiên thanh toán
trước khi Tóa àn thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nghĩa là được thanh toán
trước những khoản nợ khác không có đảm bảo. Như vậy trong danh sách chủ nợ
của công ty X, có 2 trường hợp là thanh toán có đảm bảo. Hai khoản nợ có đảm
bảo này sẽ được thanh toán trước. Áp dụng Điểu 35 LPS 2004 về Xử lý các
khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố: “Trường hợp Thẩm
phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với DN, HTX thì các khoản nợ được
bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Toà án thụ
16
lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó; nếu
giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn
lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của DN, HTX; nếu giá trị
của tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập
vào giá trị tài sản còn lại của DN, HTX”. Cụ thể là công ty X sẽ trả cho Ngân
hàng Công thương Thanh Xuân 5 tỷ đồng (b) từ tiền bán đấu giá trụ sở của công
ty (là tài sản thế chấp). Số tiền thừa 1 tỷ đồng sẽ được nhập vào số tài sản còn lại
để thanh lý sau khi phá sản. Còn khoản nợ 500 triệu với công ty Hoàng Hà (c) do
tài sản cầm cố là xe ô tô chỉ bán đấu giá được 400 triệu đồng nên số tiền 100

sung cổ phần của mình nhằm tăng cường vốn điều lệ của công ty (chủ nợ E)
+ Nợ thuế 500 triệu (chủ nợ F)
+ Tiền phạt do vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường là 200 triệu (Chủ nợ
G)
+ Nợ công ty Hoàng Hà 100 triệu (chênh lệch giá trị tài sản cầm cố và số tiền
vay) (chủ nợ H)
+ Các khoản nợ không có bảo đảm khác là 1 tỉ đồng (Chủ nợ I)
Như vậy tổng số tiền mà công ty X còn nợ là 3,2 tỉ đồng. Trong khi số tiền
còn lại là 1,7 tỉ đồng không đủ để thanh toán hết số nợ này. Do đó, “mỗi chủ nợ
sẽ chỉ được thanh toán một phần theo tỉ lệ tương ứng”. Cụ thể:
Công ty X nợ A 300 triệu trên tổng số 3,2 tỉ đồng ứng với 9,36%
Công ty X nợ B 80 triệu trên tổng số 3,2 tỉ đồng ứng với 2,5%
Công ty X nợ C 20 triệu trên tổng số 3,2 tỉ đồng ứng với 0,62%
Công ty X nợ D 500 triệu trên tổng số 3,2 tỉ đồng ứng với 15,63%
Công ty X nợ E 500 triệu trên tổng số 3,2 tỉ đồng ứng với 15,63%
Công ty X nợ F 500 triệu trên tổng số 3,2 tỉ đồng ứng với 15,63%
18
Công ty X nợ G 200 triệu trên tổng số 3,2 tỉ đồng ứng với 6,25%
Công ty X nợ H 100 triệu trên tổng số 3,2 tỉ đồng ứng với 3,13%
Công ty X nợ I 1tỉ trên tổng số 3,2 tỉ đồng ứng với 31,25%
 Ứng với tỉ lệ này thì mỗi chủ nợ của công ty X sẽ được nhẫn số tiền tương
ứng trên thực tế là:
A nhận được 9,36% của 1,7 tỉ đồng ứng với 159,12 triệu
B nhận được 2,5% của 1,7 tỉ đồng ứng với 42,5 triệu
C nhận được 0,62% của 1,7 tỉ đồng ứng với 10,54 triệu
D nhận được 15,63% của 1,7 tỉ đồng ứng với 265,71 triệu
E nhận được 15,63% của 1,7 tỉ đồng ứng với 265,71 triệu
F nhận được 15,63% của 1,7 tỉ đồng ứng với 265,71 triệu
G nhận được 6,25% của 1,7 tỉ đồng ứng với 106,25 triệu
H nhận được 3,13% của 1,7 tỉ đồng ứng với 53,21 triệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status