Công thức "nấu" một bài toán lai thường gặp
Nguyên liệu đầu vào là các số liệu mà phép lai cho, có thể ở dạng số liệu
chính xác (305, 41 ), tỉ lệ (9:6 ), phần trăm (45%, 5% ) Nhưng xử lý cái
gì? Bạn phải xét xem có bao nhiêu tính trạng đang được đề cập đến trong bài,
có thể 1, 2, 3 thường gặp nhất là 2. Và cũng như khi xử lý các nguyên liệu
nấu ăn, bạn phải xử lý từng thứ một, tức là từng tính trạng một. Với những
tính trạng riêng rẽ này, bạn phải suy được:
1. Tính trạng do 1 hay 2 gen quy định? và xác định kiểu gen tương ứng của
cơ thể lai: tùy vào số tổ hợp ở đời con của từng phép lai và tính trội lặn hoàn
toàn hay không hoàn toàn ở thế hệ lai:
+ Phép lai hai cá thể dị hợp (thường là cho F1 giao phối với nhau) cho số tổ
hợp không quá 4 thì thường do 1 gen quy định; số tổ hợp hơn 4 nhưng không
quá 16 thường do 2 gen quy định
* Ví dụ như lai F1 dị hợp được F2 phân ly tỉ lệ 11:2:2:1 (tổng có 16 tổ hợp)
thì chắc chắn không phải là 1 gen quy định
+ Phép lai phân tích F1: nếu cho số tổ hợp không quá 4 nhưng không phải
1:1, lúc này lại do 2 gen quy định
* Ví dụ như lai phân tích được 3 đỏ: 1 xanh (4 tổ hợp) thì cũng chắc chắn
không phải là 1 gen.
+ Lai với 1 cá thể bất kì: số tổ hợp tối đa khi lai hai cá thể dị hợp với nhau, từ
đó có thể loại trừ các khả năng không đúng.
*VD khi lai hai cá thể bất kì về tính trạng A mà cho con tới 8 tổ hợp thì chắc
chắn tính trạng do 2 gen quy định, trong đó 1 cá thể dị hợp cả 2 gen, 1 cá thể
dị hợp 1 gen (thường là dị hợp và đồng hợp lặn gen còn lại)
2. Gen này có gây chết không: Dấu hiệu của kiểu này là số tổ hợp ở đời con
không chẵn, có thể là 3, 7, thay vì 4, 8 Đây là 1 dấu hiệu ít gặp nhưng vẫn
phải nghĩ đến. Nếu đời con phân ly tỉ lệ đặc biệt VD 2:1 thì gần như có thể
chắc chắn là gen gây chết, và thường là gây chết ở trạng thái đồng hợp
trội.
3.Sự di truyền của tính trạng có liên quan đến giới tính hay gen trong tế
bào chất hay không?
đầu là trội A. tuy nhiên ở người phụ nữ, kiểu hình Aa không biểu hiện hói,
còn nam biểu hiện. Đó là lý do tại sao nữ hói ít hơn nam.
Một điều phải cực kì thận trọng đó là bộ NST giới tính của loài đang xét.
Nhóm loài sinh vật
Người, thú, ruồi giấm, cây gai, cây chua me
Chim, bướm, bò sát, lưỡng cư, đa số các loài cá, cây dâu tây
Bọ xít, châu chấu, rệp
Bọ nhạy
B. Chế biến - phối hợp:
Khi xử lý xong nguyên liệu, cái nào ra cái nấy, tức là sự di truyền của từng
tính trạng là thông suốt, việc cần làm là phối hợp để tìm ra mối quan hệ giữa
chúng với nhau.
1. Đầu tiên là nhân thử các tính trạng, xem mối quan hệ giữa chúng là gì.
*VD: hai tính trạng (1) có tỉ lệ 3:1 và (2) có tỉ lệ 1:1. Nếu là phân ly độc lập
thì tỉ lệ hai tính trạng phải là 3:3:1:1 Nếu không phải, phải nghĩ đến việc các
gen này có sự di truyền liên kết với nhau.
- Nếu là liên kết hoàn toàn, sẽ có hiện tượng cặp tính trạng luôn đi với nhau,
và số tổ hợp ở đời con (của 2 tính trạng) luôn rất hạn chế (ý nghĩa của liên
kết hoàn toàn là giảm số biến dị tổ hợp, giúp các nhóm gen luôn di truyền với
nhau). Nhưng nếu chúng cho ra nhiều loại tổ hợp nhưng tỉ lệ không giống
phân ly độc lập thì nguyên nhân là do xảy ra hoán vị gen.
2. Xác định tần số hoán vị gen - nếu có.
- Hoán vị gen đơn giản nhất là khi 1 gen quy định 1 tính trạng, khi đó, ta
thường lưu ý đến tỉ lệ giao tử mang 2 alen lặn ab. Nếu tỉ lệ này lớn hơn 25%
thì sẽ là liên kết đồng, tức là dạng , còn nếu nhỏ hơn 25% thì thường là liên
kết đối, tức là dạng . Xác định được điều này giúp chúng ta xác định tỉ lệ
hoán vị gen dễ dàng hơn.
- Hoán vị gen phức tạp hơn đó là 1 gen quy định 1 tính trạng nhưng tính trạng
còn lại do hai gen quy định, tương tác với nhau theo 1 cách nào đó (mà ta đã
biết nhờ khâu sơ chế phía trên!). Khi đó, cách "nhanh" nhất và cũng là đúng
thì việc tìm ra quy luật di truyền chi phối quan trọng hơn rất nhiều so với việc
viết đúng sơ đồ lai (nhưng đừng bỏ bước này đi nhé) Do vậy đừng quá lo việc
viết sơ đồ lai. Hãy trình bày cẩn thận rõ ràng những bước tìm ra quy luật di
truyền để người chấm dễ nhận ra (và không để ý những phần sai sót quá
mức), cuối cùng viết sơ đồ lai coi như tổng kết.
Chúc các bạn ngon miệng!