Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN
TRƢỜNG
ĐẠI HỌC Y
DƢỢ
C
HOÀNG THỊ THUÝ HÀ
THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG,
BỆNH
THƢỜNG
GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN
QUAN
Ở CÔNG NHÂN CÔNG TY MAY THÁI
NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
THÁI NGUYÊN -
2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN
TRƢỜNG
ĐẠI HỌC Y
DƢỢ
C
HOÀNG THỊ THUÝ HÀ
THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG,
BỆNH
THƢỜNG
GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN
QUAN
giả
Hoàng Thị Thuý
Hà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động
CSSK Chăm sóc sức khoẻ
CBCNV Cán bộ công nhân viên
Cs Cộng sự
RHM Răng hàm mặt
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCVSCP Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
TMH Tai mũi họng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
MỤC LỤC
Nội dung Trang
ĐẶT VẤN
ĐỀ .................................................................................................
1
Chƣơng
1. TỔNG QUAN
.............................................................................
3
1.1. Tình hình phát triển ngành may ở nước ta
................................................
3
1.2. Các yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe và bệnh tật của người lao động ........ 4
1.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về sức khỏe và bệnh tật ở công
nhân dệt may
....................................................................................................
21
2.9. Vấn đề đạo đức trong nghiên
cứu...............................................................
21
Chƣơng
3. KẾT QUẢ NGHIÊN
CỨU..........................................................
22
3.1. Các thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ........................................ 22
3.2. Các kết quả nghiên cứu về chứng, bệnh của người công nhân may ............ 24
3.3.Các
yếu tố liên quan
(ảnh
hưởng) đến một số chứng, bệnh của người
công
nhân
.....35
Chƣơng
4. BÀN LUẬN
................................................................................
39
KẾT
LUẬN
.....................................................................................................
53
KHUYẾN NGHỊ............................................................................................. 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
Bảng 3.14 Tỷ lệ mắc các bệnh ngoài da theo tuổi giới
31
Bảng 3.15 Tỷ lệ mắc bệnh ngoài da theo tuổi nghề
31
Bảng 3.16 Tỷ lệ mắc các bệnh
Viêm
phế quản mạn tính theo tuổi
nghề
32
Bảng 3.17 Tỷ lệ mắc bệnh Viêm phế quản mạn tính theo giới
32
Bảng 3.18 Tỷ lệ khó thở của bệnh nhân Viêm phế quản mạn tính
theo mùa và hoạt động của bệnh nhân
33
Bảng 3.19 Tỷ lệ bệnh nhân có các triệu chứng ho, khạc đờm
34
Bảng 3.20 Bảng liên quan giữa sử dụng khẩu trang và bệnh ở phổi
ở công nhân may dây chuyền
35
Bảng 3.21 Bảng liên quan giữa việc học nội quy an toàn vệ sinh
35
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
lao động và bệnh phổi (bộ phận may dây chuyền)
Bảng 3.22 Bảng liên quan giữa sử dụng khẩu trang và bệnh mũi
họng (bộ phận may dây chuyền)
36
Bảng 3.23 Bảng liên quan giữa việc học nội quy an toàn vệ sinh
lao động và bệnh mũi họng (bộ phận may dây chuyền)
36
Bảng 3.24 Bảng liên quan giữa việc học nội quy an toàn vệ sinh
Bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngành may chiếm
một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân bởi vừa góp phần tăng thu ngân
sách vừa giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 2 triệu lao động (80% là nữ) cho
đất nước. May là một trong những ngành mũi nhọn về chiến lược hàng hoá trong
nước cũng như xuất khẩu của Việt Nam. Đặc thù của ngành may là sử dụng dây
chuyền công nghệ giản đơn, mức độ lao động tuy không quá nặng nhọc nhưng gò
bó, đòi hỏi nhịp độ công việc nhanh… Tỷ lệ lao động nữ rất cao, chiếm khoảng 80-
90% và phần lớn là ở độ tuổi 20-35 tuổi. Thời gian làm việc trung bình là trên 8giờ/
ngày. Nhiều khi công nhân phải làm việc tăng ca, có khi tới 10-12 giờ/ngày. Lực
lượng lao động của ngành may chủ yếu xuất thân từ nông thôn… nên ít nhiều cũng
bị ảnh hưởng bởi lối sống, tập quán của nông dân, ý thức tổ chức kỷ luật và nhận
thức xã hội chưa cao. Dẫn từ [10], [32].
Trong 10 năm trở lại đây điều kiện lao động và môi trường dệt may cũng như
sức khoẻ người lao động đã được nhiều tác giả nghiên cứu. Các bệnh thường gặp,
bệnh liên quan đến nghề nghiệp thường diễn biến theo xu hướng không tốt.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định, từ
nay đến năm 2020 phải phấn đấu để xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp. Vì vậy, việc quan tâm chăm sóc sức khỏe người lao động công nghiệp là hết
sức cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn, Nghị quyết 46NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ
Chính trị. Dẫn từ [16], đã chỉ rõ “Kịp thời dự báo và có biện pháp ngăn ngừa để hạn
chế tối đa những tác động tiêu cực đối với sức khoẻ do thay đổi lối sống, môi
trường và điều kiện lao động trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nâng
cao năng lực giám sát, phát hiện khống chế dịch bệnh và các bệnh mới phát sinh,
đẩy mạnh phòng chống các bệnh nghề nghiệp”.
Để làm tốt nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ người lao động, việc xây
dựng chính sách quốc gia quản lý, giám sát môi trường lao động, phòng chống bệnh
nghề nghiệp cho người lao động, trong đó có lao động ngành dệt may là nhiệm vụ
có tính cấp thiết. Các nghiên cứu về môi trường, sức khoẻ trong công nghệ dệt may
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
hiện nay ở nước ta còn rất ít đặc biệt là tỷ lệ mắc các chứng bệnh và bệnh nghề
lớn như Trung Quốc, Inđônêxia, Pakixtan.... Đặc biệt, từ 01/01/2006, thuế xuất,
nhập khẩu hàng dệt may từ các nước Asean vào Việt Nam sẽ giảm từ 40-50% như
hiện nay xuống tối đa còn 5% nên hàng dệt may Việt Nam phải cạnh tranh quyết
liệt với hàng ngoại nhập từ các nước trong khu vực.
Việt Nam hiện có hơn 1000 nhà máy, xí nghiệp dệt may, thu hút trên 50 vạn
lao động, chiếm đến 22% tổng số lao động trong toàn ngành công nghiệp. Sản
lượng sản xuất hàng năm tăng trên 10% nhưng quy mô cũng như thiết bị và công
nghệ kéo sợi và dệt vải lạc hậu, không cung cấp đầy đủ vải cho may xuất khẩu.
Những năm qua, tuy đã nhập bổ sung, thay thế 1.500 máy dệt khung thoi hiện đại
để nâng cấp mặt hàng dệt trên tổng số máy hiện có là 10.500 máy, nhưng cũng chỉ
đáp ứng được khoảng 15% công suất dệt.
Ngành may tuy liên tục đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị và dây
chuyền đồng bộ nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu ngày càng cao.
Xuất khẩu hàng dệt may tuy đạt kim ngạch cao, nhưng chủ yếu là làm gia công.
Ngành dệt vẫn nhập khẩu nhiều, nguyên liệu cho sản xuất của ngành dệt hầu như
hoàn toàn nhập khẩu từ nước ngoài...
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
Từ những năm 2000, ngành dệt may Việt Nam tuy đã có thuận lợi để tạo đà
cho tiến trình hội nhập sắp tới như Quota thị trường Eu được tăng 30%, bước đầu
mở được thị trường Mỹ và thị trường vùng Trung Cận Đông, Châu Phi, kinh tế Nhật
Bản đang hồi phục khiến cho thị trường này tiêu thụ hàng dệt may Việt Nam tăng
hơn trước. Xuất khẩu hàng dệt may nước ta cũng gặp không ít khó khăn do giá sản
phẩm giảm liên tục, giá cả ở thị trường Nhật từ năm 1998 giảm bình quân 12% mỗi
năm do áp lực cạnh tranh của hàng Trung Quốc. Bên cạnh đó, giá nguyên liệu lại
tăng; đặc biệt thị trường phi Quota, trong đó có thị trường Đông Âu..... Do vậy, theo
đánh giá của Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam: chỉ tiêu xuất khẩu
của toàn ngành hết năm 2000 ước chỉ đạt 1.870 triệu USD, tăng 6% so với mức
thực hiện năm 1999, trong đó Tổng Công ty Dệt May Việt Nam (Vinatex) ước đạt
550 triệu USD, tăng 12% so với năm 1999. Với những khó khăn này, công tác chăm
sóc sức khỏe công nhân, những người lao động trực tiếp trong ngành dệt may của
nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp chưa được nghiên cứu và giải quyết một cách thỏa
đáng. Dẫn từ [3], [36].
Trong những năm gần đây, ở nước ta những nghiên cứu về môi trường lao
động, những biến đổi sinh lý, sinh hoá lao động, lâm sàng bệnh nghề nghiệp cũng
được phát triển, song chưa đồng bộ nên các biện pháp dự phòng, bảo vệ công nhân,
nâng cao năng suất lao động và phòng chống các bệnh nghề nghiệp chưa có hiệu lực
cao. Do đất nước đang chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang phương thức thị trường
hoá trên cơ sở các phương tiện và điều kiện sản xuất lạc hậu, không đồng bộ, đồng
thời với nhịp độ sản xuất không ngừng tăng nhanh, do vậy các tác hại nghề nghiệp
vẫn không ngừng tăng lên. Hậu quả của nó là các bệnh lý thông thường bị thay đổi
cơ cấu, mô hình, các rối loạn bệnh lý có liên quan đến môi trường, công việc, điều
kiện lao động, các bệnh nghề nghiệp ngày càng gia tăng. Đây là vấn đề hết sức nan
giải trong điều kiện kinh tế, xã hội của nhiều nước trong đó có nước ta hiện nay.
Điều này đòi hỏi nhiều cấp, nhiều ngành phải phối hợp, cùng nhau giải quyết theo
phương châm vì mục tiêu sức khoẻ cho người lao động mới của đất nước.
Nhìn chung các nghiên cứu hiện nay đang tập trung vào các mối quan hệ đa
chiều trong lao động có thể gây ra trạng thái mất cân bằng, gây suy giảm sức khoẻ
và khả năng lao động cùng với sự thay đổi của các tác hại nghề nghiệp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
Sơ đồ sau đây thể hiện mối quan hệ đa chiều thường gặp mà các nhà nghiên cứu
Y
học lao động cần thật sự lưu tâm. Dẫn từ [1], [4], [6], [9], [13], [14], [25], [30], [32].
Các yếu tố nguy cơ môi
trƣ
ờng
(Tự nhiên hoặc xã
hội)
Sức khoẻ
ngƣời
lao động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
Cường độ lao động quá nặng nhọc và khẩn trương sẽ huy động khối lượng cơ
bắp, thần kinh lớn tham gia nhiều trong một thời gian ngắn, điều này sẽ làm tăng
nhanh sự tiêu hao năng lượng và hoạt động của các cơ quan. Khi sự đáp ứng vượt
quá ngưỡng bình thường như: khối lượng cơ hoạt động quá lớn, nhu cầu đáp ứng
năng lượng cao, cơ thể có thể không đáp ứng kịp. Lao động nặng, tim phải cung cấp
các chất dinh dưỡng, tăng năng lượng và trao đổi khí, có thể gây nên tình trạng giãn
tim đột ngột và tử vong ở những vận động viên. Do lao động với nhịp độ quá khẩn
trương, sự phối hợp giữa các nhóm cơ, các bộ phận không hợp lý dễ gây nên tai nạn
lao động, hoặc tăng nhanh quá trình mệt mỏi.
Chế độ lao động và nghỉ ngơi không hợp lý dễ làm tăng nhanh quá trình mệt
mỏi, phát sinh các bệnh nghề nghiệp. Những lao động nặng, tiêu hao năng lượng
nhiều hoặc tiếp xúc với nhiều yếu tố độc hại sẽ gây nên những ảnh hưởng xấu lên
sức khoẻ nên cần được rút ngắn thời gian lao động và kéo dài thời gian nghỉ ngơi,
để các trạng thái sinh lý, sinh hoá của cơ thể được hồi phục, khi chưa đến ngưỡng
mất thăng bằng. Lao động nặng kéo dài sẽ làm tăng các sản phẩm trung gian, cạn
kiệt năng lượng, nếu ta cho nghỉ sớm, các sản phẩm trung gian chưa xuất hiện
nhiều, chưa đầu độc tế bào, năng lượng còn đủ để kích thích nhanh quá trình hồi
phục, thời gian nghỉ ngơi không cần dài song cơ thể lại hồi phục nhanh chóng (ví
dụ: lao động trong môi trường có nhiều tiếng ồn, thời gian lao động và nghỉ ngơi
vẫn tương tự như các lao động tương ứng, song số lần nghỉ tăng lên, thời gian lao
động các giai đoạn trong ca ngắn lại, sẽ làm giảm tỷ lệ bệnh điếc nghề nghiệp). Cơ
sở của vấn đề là không để cho các phản ứng vượt hoặc sát ngưỡng bệnh lý mới cho
người lao động được nghỉ ngơi nhằm tạo điều kiện cho tế bào mau hồi phục, nhanh
chóng trở lại bình thường.
Tư thế lao động không phù hợp với máy móc hoặc phương thức, phương tiện
lao động sẽ gây nên sự bất thường cho các hoạt động chức năng, vì thế, các rối loạn
bệnh lý dễ xảy ra hoặc quá trình mệt mỏi tế bào sẽ đến sớm. Điều này thường gặp ở
những cơ sở tiếp nhận công nghệ cũ hoặc mới, song không tính toán đến tầm vóc
giải phẫu và chức năng sinh lý của cơ thể người Việt Nam (các nhà máy dệt công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
nhiệt độ da cơ thể người lao động gây trạng thái tích nhiệt, có thể làm cho quá trình
thoát nhiệt của cơ thể bị ngừng trệ gây say nóng. Thông thường gió làm tăng quá
trình đối lưu, giảm độ nóng của môi trường, song nếu gió nóng sẽ làm rối loạn quá
trình điều hoà nhiệt độ của cơ thể. Độ ẩm trong môi trường tuỳ mức độ khác nhau
có thể tạo điều kiện tốt cho cơ thể tăng nhanh quá trình bay hơi của hồ môi, giúp
cho cơ thể điều nhiệt hoặc ngược lại. Các loại bức xạ có vai trò khác nhau đối với
cơ thể người lao động. Các tia hồng ngoại chủ yếu gây tích nhiệt song cũng có thể
gây đục nhân mắt. Bức xạ tử ngoại có khả năng đâm xuyên lớn, có thể gây tổn
thương não làm cho người lao động bị say nắng. Trường điện từ của các loại sóng
cao tần, siêu cao tần... gây nhiều tác hại lên chức năng sinh lý của cơ thể. Áp lực
không khí thấp làm người ta thiếu không khí thở, ngược lại áp lực cao tạo điều kiện
cho nitơ chuyển thành dạng lỏng, nếu thay đổi áp xuất đột ngột sự biến đổi này sẽ
gây tắc mạch máu. Tắc mạch máu não và tim, có thể gây tử vong, điều này thường
gặp ở những người lặn sâu, hoặc đào mố và trụ các loại cầu dưới lòng sông, trong
các giếng chìm. Tiếng ồn quá cao trong môi trường gây ảnh hưởng xấu đến chức
năng sinh lý, có thể gây rối loạn sinh lý. Tiếng ồn cũng góp phần quan trọng làm gia
tăng bệnh điếc nghề nghiệp trong các nhà máy, xí nghiệp. Sự rung chuyển của các
vật dụng và máy tác dụng xấu lên các hệ thống cơ, xương, khớp, mạch máu của
người sử dụng, đặc biệt là hiện tượng loãng xương và co thắt mạch đầu chi.
Các yếu tố lý hoá trong môi trường như bụi, hơi khí độc gây rất nhiều rối loạn
bệnh lý và BNN đứng đầu là các loại bụi vô cơ gây xơ hoá phổi không hồi phục,
gây tàn phế bộ máy hô hấp. Một số loại bụi hữu cơ như lông súc vật, bông, đay,
phấn hoa gây phản ứng dị ứng co thắt khí phế quản. Người ta thấy hiện tượng khó
thở do tác động của nhiều loại bụi, bông, đay gọi là bệnh bụi phổi bông (Bysinose)
rất phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, bệnh này cũng được đưa vào
danh mục các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm. Các chất độc có trong môi trường
lao động có thể ở dạng bụi hoặc khí gây nên nhiều bệnh nhiễm độc nguy hại như:
Nhiễm độc Chì, Asen, Thuỷ ngân, thuốc trừ sâu... Có những loại chất độc dễ quan
sát nhưng cũng có rất nhiều loại chất độc không mùi vị, khó quan sát, dễ gây nhiễm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
ngoài trời, các yếu tố khí hậu và thời tiết như nóng, mưa ẩm, gió bụi thường gây tác
động xấu nên sức khỏe của họ. Thông thường trong sản xuất các nguyên liệu người ta
thường phải sử dụng nhiều loại hóa chất như phân bón, hóa chất trừ sâu, hóa chất làm
trắng nên cũng có thể bị hóa chất độc hóa học này gây tác động xấu đến sức khỏe.
Nghiên cứu sức khỏe người trồng bông ở Keenya (Parkmyad.V-2002) cho thấy có
tới 19,3% số người lao động trồng bông bị giảm hoạt tính của men Cholinesterase,
24,6% người nông dân bị các rối loạn do thời tiết ở mũi họng. Công nghệ sản xuất
sợi từ các nguyên liệu thô phục vụ cho dây chuyền dệt may, cũng là một công đoạn
có nhiều yếu tố độc hại. Theo kết quả nghiên cứu của Satalop, Artamonova, Izmerop
(1985-1995) cho thấy có tới 23,8% công nhân ngành sợi có sự gia tăng các bệnh
thường gặp ở hô hấp và mũi họng so với cộng đồng, 6,3 -8,4% người lao động bị các
ảnh hưởng của hóa chất mạn hoặc cấp tính. Người lao động ngành dệt thường phải
tiếp xúc với môi trường vi khí hậu xấu đặc biệt là nhiệt độ cao và độ ẩm cao.
Thông thường ở các nước Châu Âu về mùa đông độ ẩm thường dưới 50%, trong khi
ở các phân xưởng dệt, nhuộm độ ẩm luôn luôn ở mức trên
90%. Do vậy sự gia tăng độ ẩm trong môi trường lao động sẽ là tác hại rất lớn đối
với các tế bào niêm mạc ở mũi họng và hô hấp thậm chí toàn bộ da của người lao
động cũng dễ bị tổn thương. Ở các nước khu vực nhiệt đới độ ẩm cao cũng là trở
ngại rất lớn cho quá trình điều nhiệt của cơ thể. Độ ẩm cao sẽ làm khả năng thoát
nhiệt khó khăn, gây nên tình trạng tích nhiệt dẫn đến rối loạn các quá trình điều hòa
sinh lý, bài tiết của cơ thể. Thông thường nhiệt độ trong các phân xưởng cao sẽ tác
động lên quá trình điều hòa nhiệt độ, cụ thể là quá trình thải nhiệt. Nếu nhiệt độ cao,
độ ẩm cao trong điều kiện không thông thoáng thì sự trao đổi nhiệt sẽ bị cản trở rất
nhiều. Nghiên cứu của Galanina, Andreieva, Izmerop (1978-1995) cho thấy có tới
19,34% người lao động trong các công đoạn có vi khí hậu nóng của môi trường tẩy
nhuộm có rối loạn điều hòa thân nhiệt ở mức độ có thể phát hiện thông qua các
phản ứng sinh lý sinh hóa.
Người công nhân lao động ở công đoạn may dây chuyền thường phải chịu
tác động nhiều yếu tố độc hại như ồn, bụi và lao động căng thẳng gò bó. Công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
khác thường chỉ từ 30-50%. Người công nhân dệt may có thể bị bệnh viêm phế
quản với tỷ lệ cao hơn bình thường từ 1,2 -1,5 lần. Theo Megg (2004) tỷ lệ viêm
phế quản trong công nhân may ở Israel trong những năm 90 của thế kỷ 20 là 28 đến
40%. Thông thường có tỷ lệ xung quanh 10% những người tiếp xúc với bụi bông
mắc bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp (Bysinose). Bệnh Bysinose là một bệnh nghề
nghiệp thường gặp với các biểu hiện chính là khó thở, suy giảm chức năng hô hấp.
Bệnh Bysinose được Leondrobert, Artamonova, Letavet, Raymond D
ParkV...nghiên cứu trong những năm 1970 đến 2000, mô tả là bệnh có cơn khó thở
đầu tuần. Người ta quan sát thấy người dễ cảm nhiễm với bụi bông và mắc bệnh này
thường có chức năng hô hấp tương đối bình thường trong 2 ngày nghỉ. Ngày thứ 2
(đầu tuần), người lao động mới đi làm, mới tiếp xúc với bụi sợi, bông sẽ xuất hiện
hiện tượng co thắt khí phế quản, khó thở. Ngày thứ ba và những ngày tiếp theo các
biểu hiện khó thở có su hướng giảm dần co đến ngày cuối của tuần làm việc (05
ngày). Hai ngày nghỉ các dấu hiệu bệnh lý gần như không còn. Ngày đi làm đầu
tuần tiếp theo hiện tượng khó thở lại lặp lại. Cứ như vậy bệnh lý dần dần chuyển
thành mạn tính, gây nên hiện tượng khó thở liên tục không theo quy luật như trước.
Ở Việt Nam và một số nước đang phát triển bệnh Bysinose thường không điển hình.
Các dấu hiệu bệnh lý của Bysinose thường giống như hen liên tục và nặng dần do
họ phải lao động liên tục và không có ngày nghỉ. Dẫn từ [7], [23], [35].
1.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài
nƣớc
về sức khỏe và bệnh tật ở
công nhân dệt may
1.3.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho thấy công nhân dệt may
thường bị nhiều các chứng bệnh đặc thù so với các ngành, nghề khác. Raymond D
ParkV (1965-1980) cho thấy công nhân dệt may dễ bị các rối loạn sinh lý cấp và
mãn tính (18-35%). Tác giả giải thích là nguyên nhân do tiếng ồn và lao động gò bó
thường xuyên tạo ra các stress nghề nghiệp. Raymond D ParkV cũng nhận thấy có 1
ứng với bụi bông là rất cao. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Huy Đản,
Bùi Thị Tuyết Mai tại thời điểm này là 15,9% trong số người tiếp xúc. So với kết
quả nghiên cứu của Tạ Tuyết Bình, Nguyễn Đăng An tại Công ty Dệt 8/3 [5], tỷ lệ
bệnh là 32,8% và Nguyễn Đình Dũng và cộng sự - 1999 [7], số mắc bệnh là 34% thì
có tỷ lệ thấp hơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Dũng trên 1139 công nhân của năm loại
hình, công đoạn dệt may khác nhau cho thấy tỷ lệ giảm sức nghe là 35,5 ± 1,42%.
Tác giả cũng cho thấy biểu hiện thường gặp sớm do tác hại của tiếng ồn thường
thấy ở hệ thần kinh và tim mạch. Các dấu hiệu ban đầu ở cơ quan thính giác là ù tai,
sau đó sẽ xuất hiện các chứng bệnh kèm theo tại các cơ quan khác như đau đầu,
chóng mặt, mệt mỏi, khả năng nhậy cảm về thần kinh giảm, ngủ không ngon giấc,
có dấu hiệu hưng phấn cơ quan tiền đình. Cũng theo tác giả này khi nghiên cứu trên
403 công nhân tiếp xúc với bụi bông cho thấy số lượng mẫu bụi vượt TCVSCP
chiếm 7,1%, sức khoẻ công nhân tại dây chuyền sợi loại I, II, III chiếm 96,77%.
Tuổi đời công nhân rất trẻ, chủ yếu từ 30-39 (tỷ lệ 54,1%), tuổi nghề từ 11-20 năm
(tỷ lệ 60,6%). Tỷ lệ bệnh bụi phổi bông giai đoạn I: 24,8% (tăng theo tuổi nghề),
giai đoạn II: 13,6%, giai đoạn III: 5,4% (trong đó 3,23% có hồi phục, 2,23% không
hồi phục). Tỷ lệ bệnh viêm phế quản mạn tính ở công nhân phân theo các giai đoạn:
giai đoạn I: 31,7%, giai đoạn II: 10,7%, tỷ lệ giảm từ đầu đến cuối dây chuyền.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình tại ba làng nghề Đa Hội, Minh
Khai và Phong Khê thì các bệnh về hô hấp, tai mũi họng, da liễu và thần kinh là phổ
biến nhất. Ở các nhà máy may là nơi có tỷ lệ công nhân giảm thính lực cao
(56.97%). Tuỳ theo từng loại hình lao động với các yếu tố độc hại khác nhau mà
sức khoẻ của người lao động tại các nhà máy bị ảnh hưởng khác nhau.
Kết quả điều tra của Lê Văn Thành và CS (2000) cho thấy ở những cơ sở sản
xuất, nhà máy, công ty may như TNG Thái Nguyên và Phú Lâm (Bắc Ninh) là nơi
có nguồn chất thải độc hại khá nghiêm trọng gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ cộng
đồng (chất tẩy, chất nhuộm). Trong nước thải thường chứa các loại hoá chất như:
xút, thuốc tẩy, phèn kép, nhựa thông, phẩm màu. Nước thải không qua xử lí chảy
III còn hồi phục, 2,23% giai đoạn 3 không hồi phục.
Có thể tổng kết lại kết quả nghiên cứu về sức khoẻ, bệnh tật của công nhân
dệt may vào mấy vấn đề sau:
- Môi trường lao động có nhiều yếu tố bất lợi, đặc biệt là bụi hữu cơ và vi khí
hậu không thuận lợi
- Công việc lao động đơn điệu, tư thế gò bó, căng thẳng kéo dài;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t p: / / w w w . L r c - t nu . e d u . v n
- Các bệnh thường gặp ở bộ máy hô hấp, tiêu hoá, mũi họng thường cao hơn
bình thường.
Trong những năm qua tình hình nghiên cứu chăm sóc về sức khoẻ bệnh tật của
người công nhân ngành dệt may nói chung và công ty may Thái Nguyên còn ở mức
thấp. Vì vậy, tổ chức điều tra và nghiên cứu theo hướng này là góp phần đánh giá
những vấn đề tồn tại trong các hoạt động chăm sóc về sức khoẻ của người công nhân
may đồng thời có những giải pháp và kế hoạch chăm sóc sức khoẻ người lao động
ngành dệt may một cách cụ thể dựa trên cơ cấu bệnh lý các bệnh thường gặp của
người công nhân ngành dệt may nói chung và công nhân may Thái Nguyên nói riêng.